I. Đặt vấn đề:
V.L.Lênin đã nói về tập trung dân chủ: “…chế độ tập trung được hiểu theo
nghĩa thực sự dân chủ, đã bao hàm khả năng…phát huy một cách đầy đủ và tự
do không những đặc điểm của địa phương mà cả những sáng kiến của địa
phương, tính chủ động của địa phương, tính muôn hình muôn vẻ của đường lối,
của phương pháp và phương tiện để đạt đến mục đích chung.” Nguyên tắc tập
trung dân chủ là một nguyên tắc quan trọng được vận dụng trong tổ chức và hoạt
động của các cơ quan hành chính nhà nước nói riêng của toàn bộ cơ quan nhà
nước nói chung. Phạm vi bài viết sẽ phân tích nguyên tắc tập trung – dân chủ và
chỉ ra ý nghĩa của nguyên tắc này trong quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam
hiện nay
II. Giải quyết vấn đề:
1. Nguyên tắc tập trung dân chủ và cơ sở pháp lý:
Tập trung dân chủ là nguyên tắc chính trị xã hội và là một trong những
nguyên tắc cơ bản trong quản lí hành chính nhà nước. Nó được quy định trong
điều 6 Hiến pháp 1992(sửa đổi 2001): “Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ
quan khác của nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân
chủ”. Nguyên tắc này là sự kết hợp giữa tập trung và dân chủ, coi đây là hai mặt
của vấn đề và không thể thiếu một trong hai yếu tố để thực hiện quản lý hành
chính nhà nước. Tập trung ở đây được hiểu là việc đảm bảo mọi quyền lực nhà
nước thống nhất thuộc về chủ thể quản lý có thẩm quyền để thực hiện công việc
quản lý nhà nước một cách thống nhất thông qua chỉ đạo điều hành. Dân chủ lại
là việc mở rộng quyền cho đối tượng quản lý nhằm phát huy được mặt tích cực,
khả năng của tập thể và cụ thể là đối tượng quản lý trong việc thực hiện chính
sách pháp luật. Như đã nói, tập trung và dân chủ luôn phải gắn liền với nhau.
Nếu chỉ có sự tập trung không nó sẽ dẫn đến lạm quyền, quan liêu tham nhũng,
những “căn bệnh” nguy hiểm của quản lý nhà nước. Còn nếu chỉ có dân chủ mà
1
không có sự thống nhất sự tập trung sẽ dẫn đến dân chủ quá trớn, dẫn đến tình
phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của các cơ
quan Nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân”. Các cơ quan
trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đều do cơ quan quyền lực nhà nước
thành lập, thay đổi hay bãi bỏ một cách trực tiếp hay gián tiếp. Ví dụ như khi
quy định về nhiệm vụ quyền hạn của Quốc hội tại điều 84 cũng đã nói đền việc
Quốc hội có quyền thành lập hoặc bãi bỏ các bộ, cơ quan ngang bộ thuộc Chính
phủ hay trong luật tổ chức hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân tại điều 17
cũng đã công nhận quyền hạn của hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong việc quyết
định thành lập, sáp nhập, giải thể một số cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban
nhân dân cùng cấp theo hướng dẫn của Chính phủ…
Về hoạt động, các cơ quan hành chính nhà nước luôn phải chịu sự giám
sát, chỉ đạo và phải chịu trách nhiệm báo cáo hoạt động trước cơ quan quyền lực
nhà nước cùng cấp. Chính phủ cũng như Thủ tướng Chính phủ chịu trách nhiệm
trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Uỷ ban nhân dân là cơ quan chịu trách nhiệm chủ yếu trong việc triển khai, tổ
chức thực hiện các nghị quyết của hội đồng nhân dân, biến các nghị quyết đó
thành hiện thực và phải chịu trách nhiệm, báo cáo công tác trước hội đồng nhân
dân cùng cấp.
Thông qua tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước có
thể thấy được rõ được mục tiêu tập trung quyền lực vào hệ thống cơ quan quyền
lực nhưng không phải vì vậy mà yếu tố dân chủ không được đề cập đến. Yếu tố
này luôn đan xen và hiện hữu cùng với tập trung. Việc hướng dẫn, kiểm tra,
giám sát hoạt động của các cơ quan quyền lực đối với cơ quan hành chính chỉ
mang tính chất định hướng hướng dẫn tạo điều kiện phát huy tính chủ động sáng
tạo trong việc thực hiện hiến pháp, luật và các văn bản khác. Cơ quan quyền lực
không can thiệp vào quá sâu hoạt động của các cơ quan hành chính mà chỉ tạo ra
3
những điều kiện cần thiết, hỗ trợ đúng lúc để các cơ quan này hoàn thành tốt
việc phục tùng, tập trung này phải dựa trên cơ sở quy định pháp luật, không phải
là phục tùng vô điều kiện và phải gắn liền với dân chủ, không thể là có tập trung
mà không có dân chủ. Trong quá trình thực hiện, cấp dưới, địa phương có quyền
phản ánh những kiến nghị của mình lên cấp trên trung ương; có quyền chủ động
sáng tạo trong hoạt động thực hiện của mình cho phù hợp với điều kiện của địa
phương. Cấp trên trung ương vì thế mà cũng phải giúp đỡ cấp dưới, địa phương
tháo gỡ các vướng mắc khó khăn trong quá trình thực hiện quyết định của mình.
2.3 Việc phân cấp quản lý:
“Phân cấp quản lý là sự chuyển giao thẩm quyền từ cấp trên xuống cấp
dưới nhằm đạt được một cách có hiệu quả mục tiêu chung của hoạt động quản lý
hành chính nhà nước”( Giáo trình luật hành chính Việt Nam trang 306). Đây là
một biện pháp quan trọng trong việc cải cách hành chính nhà nước và còn là xu
hướng phổ biến trên thế giới. Phân cấp quản lý là để trung ương làm đúng chức
năng của mình, chủ yếu tập trung vào hoạch định chính sách vĩ mô; xây dựng thể
chế; thanh tra, kiểm tra... Tổ chức thực hiện cụ thể, quản lý cụ thể thì chính
quyền địa phương do sát dân, sát việc nên có khả năng quản lý tốt hơn. Phân cấp
quản lí là một biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ. Những vấn đề quan
trọng, cơ bản liên quan đến nhiều lĩnh vực trong xã hội thì do trung ương đảm
nhiệm, những vấn đề cụ thể, mang đặc điểm của từng địa phương thì do cơ quan
ở địa phương quản lý.
Để đảm bảo tính tập trung dân chủ, việc phân cấp quản lý cần phải đảm
bảo: trung ương có quyền quyết định trong lĩnh vực then chốt, chiến lược, đảm
bảo sự quản lý tập trung thống nhất; mạnh dạn giao quyền cho các địa phương
phát huy tính chủ động sáng tạo; việc phân cấp quản lí phải thật cụ thể, hợp lí
trên cơ sở những quy định của pháp luật, tránh trường hợp chồng chéo gây mất
5
hiệu quả. Do ý nghĩa của phân cấp quản lý là rất lớn và việc phân cấp này còn
quan hành chính địa phương
Về tổ chức, đối với các uỷ ban nhân dân, hội đồng nhân dân mỗi cấp xác
định số lượng và bầu ra các thành viên của uỷ ban nhân dân cấp mình( theo
chiều ngang). Kết quả bầu cử các thành viên uỷ ban nhân dân mỗi cấp phải được
chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn (theo chiều dọc). Riêng
với uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thì do chính thủ tướng chính phủ phê chuẩn.
Về hoạt động, Uỷ ban nhân dân là cơ quan thực hiện chức năng qủan lý
hành chính nhà nước, chấp hành nghị quyết của hội đồng nhân dân cùng cấp
cũng như văn bản của cơ quan hành chính cấp trên; chịu trách nhiệm và báo cáo
công tác trước hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp
trên trực tiếp. Ðối với cơ quan chuyên môn, một mặt phụ thuộc vào cơ quan
hành chính nhà nước có thẩm quyền chung cùng cấp, mặt khác nó phụ thuộc vào
cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn cấp trên trực tiếp. Cụ
thể là thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc uỷ ban nhân dân phải chịu trách
nhiệm mỗi tháng một lần báo cáo hoạt động của ngành mình, lĩnh vực mình phụ
trách trước uỷ ban nhân dân và cơ quan quản lí chuyên môn cấp trên.
Thông qua tổ chức và hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương ta có thể thấy rõ biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ. Nếu là sự
phụ thuộc theo chiều ngang thì nó là việc tạo điều kiện cho cấp dưới phát huy
được tính năng động sáng tạo, tận dụng thể mạnh của từng địa phương để hoàn
thành nhiệm vụ. Còn nếu là sự phụ thuộc theo chiều dọc thì lại là việc tập trung
mọi quyền lực vào cấp trên phục vụ cho việc chỉ đạo hoạt động của cấp dưới.
Các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương là một thành phần không thể
thiếu trong hệ thống cơ quan hành chính của nước ta, đây là cơ quan gắn liền với
thực tiễn, gắn liền với dân, thay mặt cơ quan quyền lực thực hiện việc quản lý
7
hành chính ở địa phương, vậy nên việc áp dụng đúng và trúng nguyên tắc tập
có ý nghĩa vô cùng to lớn.
Thứ nhất, nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc thể hiện đúng bản
chất của nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, một nhà nước của dân,
do dân và vì dân, một nước dân chủ thực sự. Nhưng sự dân chủ này lại cần có sự
tập trung quyền để điều khiển được xã hội, thiết lập được một trật tự xã hội nhất
định. Trong từng giai đoạn phát triển của đất nước thì mối quan hệ giữa tập trung
và dân chủ luôn được điều chỉnh để phù hợp với tình hình, nhận thức, điều kiện
kinh tế xã hội.
Thứ hai, nguyên tắc này tạo ra sự thống nhất trong việc quản lý hành
chính nhà nước, tạo điều kiện cho nhiệm vụ quản lý của các chủ thể quản lý
được diên ra dễ dàng hơn. Cấp trên thông qua việc thực hiện yêu cầu của cũng
như báo cáo công việc của cấp dưới có thể nắm rõ tình hình thực tế hoạt động
của từng vùng từng lĩnh vực ở địa phương mình; nhanh chóng phát hiện những
hành vi vi phạm của cấp dưới, đưa ra phương án xử lý kịp thời hạn chế hết mức
có thể hậu qủa xảy ra. Tất cả sự phụ thuộc này nhằm mục đích bảo đảm cho hoạt
động của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, phù hợp với ý chí, nguyện
vọng và lợi ích của nhân dân lao động, bảo đảm sự tập trung quyền lực vào cơ
quan quyền lực-cơ quan do dân bầu và chịu trách nhiệm trước nhân dân.
Thứ ba, tập trung dân chủ tạo ra hướng đi, đường lối cơ bản cho các cơ
quan cấp dưới hoạt động có hiệu quả. Thông qua quy định, hướng dẫn và hỗ trợ
của cấp trên, cấp dưới có một khung pháp lý để thực hiện nhiệm vụ của mình
một cách hợp pháp và hợp lý. Đồng thời, tập trung dân chủ tạo điều kiện cho cấp
dưới có khả năng sáng tạo, áp dụng những tiến bộ mới vào quản lý hành chính
nhà nước, tránh khỏi tình trạng áp đặt ý chí, cửa quyền, hách dịch và “căn bệnh”
tham nhũng. Việc này sẽ khắc phục tình trạng trung ương ôm đồm nhiều việc,
quản lý nhiều việc cụ thể trên các lĩnh vực như kinh tế, văn hoá - xã hội, dịch vụ
9
công... trong khi đó địa phương bị động trong thẩm quyền giải quyết các vấn đề
1.
Giáo trình luật hành chính Việt Nam- Trường đại học luật Hà
Nội- Nxb Công an nhân dân- Hà Nội 2010
2. Giáo trình luật hành chính Việt Nam- PGS. TS. Nguyễn Cửu
Việt- Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
3. Hiến pháp 1992(sửa đổi 2001)
4. Luật tổ chức Chính phủ 2001
5. Luật tổ chức hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân năm 2003
11