Vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý trường tiểu học nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên - Pdf 26

Vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý trường tiểu
học nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên.
MỤC LỤC
Phần mở đầu
I. Lý do chọn đề tài
II. Mục tiêu nghiên cứu
III.Nhiệm vụ nghiên cứu
IV.Phương pháp nghiên cứu
Phần nội dung
Chương I: Một số vấn đề lí luận của việc vận dụng nguyên tắc tập trung
dân chủ nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên TH
1. Cơ sở khoa học của việc vận dụng nguyên tắc tập trung dân
chủ nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên TH
2. Cơ sở pháp lý của việc vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ
nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên TH
3. Cơ sở thực tiễn của việc vận dụng nguyên tắc tập trung dân
chủ nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên TH
Chương II: Thực trạng của việc vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ
nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường tiểu học
Nam Sơn, Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá.
1. Một số đặc điểm của trường tiểu học Nam Sơn, Quảng Xương, tỉnh
Thanh Hoá.
2. Một số biện pháp của việc vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ
nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường tiểu học Nam
Sơn, Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá.
2.2. Về công tác quản lý, tổ chức
2.2. Xây dựng đội ngũ giáo viên nhà trường
3
5
1
2.3. Một số tồn tại của việc vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ nhằm

nói lên điều đó. Trong lễ giáo trước đây, người ta sắp xếp thứ bậc: Quân -
Sư – Phụ; xếp thầy trên cha. Thứ bậc ấy tuy là của đạo Nho nhưng được
nhân dân ta chấp nhận, điều đó chứng tỏ nhân dân ta đánh giá cao vai trò của
giáo dục, của học vấn trong sự phát triển của xã hội. Bác Hồ rất quan tâm
đến sự nghiệp giáo dục và đội ngũ thầy giáo. Về sự nghiệp giáo dục, người
đã từng nói: “ Vì sự nghiệp mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng
người”. Về vai trò thầy giáo, Bác dạy “ nếu không có thầy giáo thì không
có giáo dục ”. Nhưng để thực hiện được vai trò vẻ vang của mình, trước
hết: “ Thầy phải xứng đáng làm thầy, thầy phải được lựa chọn cẩn thận vì
không phải ai cũng làm thầy được .”
Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 2 khóa VIII về
những giải pháp chủ yếu để thực hiện mục tiêu GD-ĐT từ nay đến năm 2010
đã nêu: “ Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và được xã hội
tôn vinh, giáo viên phải đủ đức, đủ tài ”. Điều đó có nghĩa là giáo viên
không đủ đức, đủ tài không thể tạo ra những con người đi vào kỷ nguyên
mới, kỷ nguyên của trí tuệ, kỷ nguyên của KHKT hiện đại; và sẽ không hoàn
thành sứ mệnh CNH - HĐH đất nước. Đề cập đến vai trò đội ngũ giáo viên,
Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương 2, khóa VIII nhấn mạnh : “Xây dựng
đội ngũ giáo viên, tạo động lực cho người dạy, người học, giáo viên là nhân
tố quyết định, là lực lượng cốt cán để biến mục tiêu giáo dục thành hiện
thực, có vai trò quyết định về chất lượng và hiệu quả giáo dục”.
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “ Nghề dạy học là nghề sáng
tạo bậc nhất vì nó sáng tạo ra những con người sáng tạo”.
Chỉ thị số 40- CT/TW ngày 15 tháng 6 năm 2004 của Ban Bí thư
Trung ương Đảng về "Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và
cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005 - 2010" đã ghi nhận rõ lí do vì sao
phải xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo
3
dục : “Trong lịch sử nước ta, "tôn sư trọng đạo" là truyền thống quý báu của
dân tộc, nhà giáo bao giờ cũng được nhân dân yêu mến, kính trọng. Những

II. Mục tiêu nghiên cứu
4
Xuất phát từ nhiệm vụ, vai trò, vị trí và trọng trách của đội ngũ giáo
viên; xuất phát từ thực trạng bức xúc của đội ngũ giáo viên nói riêng và giáo
dục đào tạo nói chung hiện nay; trước sự đòi hỏi, phát triển của đất nước
trong thời kỳ Công nghiệp hoá - HĐH đất nước, chúng tôi mạnh dạn đề xuất
một số biện pháp quản lý nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên
trường tiểu học Nam Sơn, Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá”.
III. Nhiệm vụ nghiên cứu
1. Xác định cơ sở khoa học của việc quản lý nhằm xây dựng và phát
triển đội ngũ giáo viên trường tiểu học
2. Thực trạng của đội ngũ giáo viên trường tiểu học Nam Sơn, Quảng
Xương, tỉnh Thanh Hoá.
3. Những giải pháp, biện pháp nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ giáo
viên trường tiểu học Nam Sơn, Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá.
4. Đối tượng nghiên cứu: “Một số biện pháp quản lý nhằm xây dựng và
phát triển đội ngũ giáo viên trường tiểu học Nam Sơn, Quảng Xương,
tỉnh Thanh Hoá.
IV. Phương pháp nghiên cứu
1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận.
2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
3. Nhóm phương pháp nghiên cứu hỗ trợ (biểu bảng, sơ đồ).
PHẦN NỘI DUNG:
CHƯƠNG I
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CỦA TRƯỜNG TIỂU HỌC.
1. Cơ sở khoa học của việc xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên
trường tiểu học
Từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, ngành giáo dục Việt
Nam đã không ngừng chăm lo xây dựng đội ngũ giáo viên cả về số lượng

chính trị xã hội ở nước ta, đồng thời cũng là một nguyên tắc quan trọng
trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước của nước ta.
Tập trung dân chủ là một nguyên tắc Hiến định; Điều 6, Chương I, Hiến
pháp 1992 (đã sửa đổi, bổ xung năm 2001) ghi nhận:
"Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ
chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ".
6
Quan điểm về tổ chức và hoạt động của nhà nước theo nguyên tắc tập
trung dân chủ đã được Nhà nước CHXHCN Việt Nam ghi nhận trong ba văn
bản Hiến pháp: Hiến pháp 1959 (Điều 4, Chương I); Hiến pháp 1980 (Điều 6,
Chương I); Hiến pháp 1992 (Điều 6, Chương I - sửa đổi).
* Những yêu cầu và nội dung của
nguyên tắc tập trung dân chủ
Tập trung dân chủ là sự kết hợp hài hoà giữa sự lãnh đạo, chỉ đạo tập
trung, thống nhất của các cơ quan trung ương, của cấp trên với mở rộng dân
chủ, nhằm tăng cường tính chủ động, sáng tạo và khai thác mọi tiềm năng của
các cơ quan địa phương, của cấp dưới, đồng thời đảm bảo phát huy quyền làm
chủ của nhân dân trong việc tham gia quản lý nhà nước và thực hiện các quyền
và nghĩa vụ công dân.
Sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương cần tập trung vào các vấn đề vĩ mô
như: thể chế, chiến lược, qui hoạch, kế hoạch phát triển của các ngành cũng
như toàn bộ nền kinh tế, còn mở rộng dân chủ ở địa phương là phải có sự phân
định rõ ràng về thẩm quyền và trách nhiệm của mỗi cấp chính quyền; tiến hành
phân cấp quản lý cho địa phương quản lý các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, giáo
dục, đời sống, thu - chi ngân sách, tổ chức nhân sự ở địa phương; xác định rõ
trách nhiệm quản lý theo ngành và theo lãnh thổ.
Các cơ quan quyền lực nhà nước là do dân bầu ra, các cơ quan đó phải
chịu trách nhiệm, phải báo cáo công tác trước nhân dân, phải chịu sự giám sát
của nhân dân. Các cơ quan tư pháp, hành pháp tối cao là do Quốc hội lập ra,
các cơ quan đó cũng phải chịu sự giám sát của Quốc hội; phải chịu trách nhiệm

một hành lang pháp lí hợp lí, đồng bộ.
Đối với cơ sở phát huy quyền làm chủ của tập thể sư phạm, đồng thời
đề cao trách nhiệm cá nhân theo chế độ thủ trưởng đối với việc quản lí
trường tiểu học. Dân chủ hoá giáo dục, dân chủ hoá nhà trường là các tư
tưởng lớn, tuy nhiên việc dựa vào các văn bản pháp luật, pháp qui để đảm
bảo quyền và nghĩa vụ đối với mọi đối tượng tham gia hoạt động giáo dục là
điều cần nắm chắc khi triển khai nguyên tắc tập trung dân chủ ở cơ sở.
Nội dung cơ bản của nguyên tắc tập trung dân chủ ở đây là phát huy
quyền chủ động của Hiệu trưởng phối hợp với tổ chức Đảng, các tổ chức
đoàn thể xã hội trong quản lý trường TH.
Sự phối hợp giữa Hiệu trưởng với tổ chức Đảng, các tổ chức đoàn thể
xã hội trong trường TH hình thành nên hệ thống các mối quan hệ. Hệ thống
quan hệ này có nhiều mức độ.
Có thể chỉ tham gia ở mức độ góp phần vào một hoạt động, một tổ chức
chung nào đó, chưa thể hiện được chiều sâu trong việc làm.
Có thể cùng góp sức làm chung một công việc, nhưng có thể không
thực hiện chung một trách nhiệm. Sự cộng tác đôi khi có tính chất nhất thời,
tuỳ từng vụ việc.
8
Sự hợp tác cùng chung sức, hỗ trợ lẫn nhau trong một công việc một
lĩnh vực hoạt động, nhằm một mục tiêu giáo dục (MTGD)
Tóm lại quan hệ đó là quan hệ phối hợp với nhiều mức độ khác nhau.
Quan hệ ấy cũng nhiều tầng, bậc do vai trò của từng lực lượng trong
quan hệ phối hợp.
. Hiệu trưởng phối hợp với tổ chức Đảng, các tổ chức đoàn thể trong
trường TH nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục, cụ thể là :
a) Quan hệ phối hợp trên cơ sở quy định của pháp luật
Để phát triển giáo dục nói chung và phát triển trường tiểu học nói riêng
có nhiều văn bản pháp luật quy định nhiệm vụ, trách nhiệm của nhà trường
và các tổ chức đoàn thể.

vai trò trung tâm, nòng cốt. Tuỳ theo nội dung hoạt động, đặc điểm của tổ
chức đoàn thể làm cơ sở để xác định mức độ phối hợp và xây dựng cơ chế
phối hợp. Sự vận hành của cơ chế được chỉ đạo bởi nguyên tắc Đảng lãnh
đạo - Chính quyền quản lý - Nhân dân làm chủ, toàn xã hội tham gia dưới
sự quản lý của Nhà nước.
. Hiệu trưởng phối hợp với Công đoàn trong trường THPT
Quan hệ phối hợp giữa Hiệu trưởng và Công đoàn trong trường THPT là
sự vận dụng mềm dẻo, có tính nguyên tắc về quyền, trách nhiệm của tổ chức
công đoàn với thủ trưởng đơn vị cơ quan.
- Quyền kiến nghị, tham gia ý kiến của Công đoàn đối với Hiệu trưởng
trong các hoạt động : Xây dựng chương trình kế hoạch năm học ; Dự hội
nghị của trường và các cuộc họp quan trọng do Hiệu trưởng tổ chức ; Giải
quyết và sắp xếp việc làm của cán bộ, giáo viên, nhân viên; Quản lý bảo
hiểm xã hội ; Giải quyết khiếu nại, tố cáo
- Quyền cùng thực hiện công việc của Công đoàn với Hiệu trưởng:
Tổ chức thi đua; Chăm lo công tác bảo hiểm xã hội; Quản lý quỹ phúc
lợi; Quyền thoả thuận quyết định của Công đoàn với Hiệu trưởng: Quy định
mối quan hệ giữa Hiệu trưởng với Công đoàn; Quyết định tiền lương,
thưởng, nhà ở, kỷ luật; Điều kiện làm việc cung cấp thông tin cho Công
đoàn; Thời gian hoạt động, điều kiện hoạt động của cán bộ Công đoàn.
- Quyền "đối thoại" giữa Công đoàn và Hiệu trưởng.
Đại diện người lao động đối thoại với Hiệu trưởng; Cấp phát tài chính,
và nhiều hoạt động khác.
10
Trong thời kỳ đổi mới của đất nước, Công đoàn ngành Giáo dục đã
phối hợp với Bộ GD & ĐT tạo phát động bốn cuộc vận động : dân chủ hoá
nhà trường, xã hội hoá giáo dục, kỷ cương - tình thương - trách nhiệm và gia
đình nhà giáo văn hóa.
Hiệu trưởng và Công đoàn trong trường THPT phối hợp thực hiện bốn
cuộc vận động đó, trên cơ sở các văn bản hướng dẫn của cấp trên và tình

Đoàn cùng với nhà trường tổ chức và thực hiện các hoạt động ngoại
khoá chương trình giáo dục ngoài nhà trường.
Các hoạt động ngoại khoá tuy gắn với từng bộ môn nhưng cần có sự hỗ
trợ của Đoàn, nhất là những hoạt động phù hợp với tính chất của lứa tuổi và
chức năng của Đoàn. Chương trình hoạt động giáo dục ngoài nhà trường xây
dựng theo các chủ điểm có sự phối hợp từ Trung ương (Bộ GD&-ĐT và
Trung ương Đoàn TNCS HCM). Đoàn có vai trò chủ động tổ chức hoạt
động này.
- Đoàn thanh niên giữ vai trò chính trong các hoạt động thăm quan, du
lịch, vui chơi giải trí, thể dục thể thao, sinh hoạt câu lạc bộ … Đoàn còn giữ
vai trò nòng cốt của nhiều chương trình xã hội trong nhà trường như phong
trào "thanh niên lập nghiệp", "Tuổi trẻ giữ nước" cuộc vận động lớn năm
2001 - 2002 " xã hội tình nguyện vì trẻ em đặc biệt khó khăn" do Trung
ương Đoàn phát động.
Để phát huy vai trò trách nhiệm của Đoàn TNCS HCM trong trường
THPT về công tác giáo dục cần phát triển tổ chức Đoàn ngày càng vững
mạnh. Cho nên ở những nơi, những lúc cần thiết chính Hiệu trưởng phải tham
gia vào việc xây dựng, củng cố Đoàn Thanh niên, nhất là đổi mới phương thức
hoạt động của Đoàn tạo nên tính đồng bộ trong việc đổi mới nội dung và
phương pháp giáo dục trong trường TH
Tóm lại, nội dung cơ bản của nguyên tắc tập trung dân chủ ở đây là
phát huy quyền chủ động của cơ sở dựa trên hành lang pháp lí được qui định
bởi Luật Giáo dục và những văn bản pháp quy trong hoạt động quản lí giáo
dục, đồng thời nâng cao tinh thần cá nhân phụ trách, tập thể lãnh đạo và
phát huy dân chủ của tập thể theo qui chế dân chủ cơ sở do chính phủ và Bộ
giáo dục ban hành. Muốn có nguyên tắc tập trung dân chủ ở cơ sở, trong tổ
chức điều hành công việc hàng ngày cần thực hiện tốt chế độ thủ trưởng
nhưng phải bảo đảm thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.
1.2. Tập thể sư phạm trong trường tiểu học
a. Khái niệm

tư thục được gọi chung là Hội đồng trường. Hội đồng trường là tổ chức chịu
trách nhiệm quyết định về phương hướng hoạt động của nhà trường, huy
động và giám sát việc sử dụng các nguồn lực dành cho nhà trường, gắn nhà
trường với cộng đồng và xã hội, bảo đảm thực hiện mục tiêu giáo dục.
Cơ cấu tổ chức, hoạt động và thủ tục thành lập Hội đồng trường tiểu học
công lập :
a) Cơ cấu tổ chức :
Hội đồng trường tiểu học công lập gồm: đại diện tổ chức Đảng Cộng
sản Việt Nam, Ban giám hiệu (gồm Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng), đại
diện Công đoàn, đại diện Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Tổng
phụ trách Đội, đại diện các tổ chuyên môn, đại diện tổ văn phòng;
Hội đồng trường có chủ tịch, thư ký và các thành viên khác. Chủ tịch
Hội đồng trường công lập không đồng thời là Hiệu trưởng. Số lượng thành
viên của Hội đồng trường từ 9 đến 11 người.
b) Hoạt động của Hội đồng trường :
Hội đồng trường họp thường kỳ ít nhất hai lần trong một năm. Trong
trường hợp cần thiết, khi Hiệu trưởng hoặc ít nhất một phần ba số thành viên
Hội đồng trường đề nghị, Chủ tịch Hội đồng trường có quyền triệu tập phiên
họp bất thường để giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình thực
hiện nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường. Chủ tịch Hội đồng trường có
thể mời đại diện chính quyền và đoàn thể địa phương tham dự cuộc họp của
Hội đồng trường khi cần thiết;
Phiên họp Hội đồng trường được công nhận là hợp lệ khi có mặt từ ba
Chi bộ Đảng
Công đoàn
Ban giám hiệu
Hội đồng trường
Đoàn, Đội, Sao
Nhi đồng
Hội đồng thi đua

phát triển của nhà trường trong từng giai đoạn và từng năm học;
b) Quyết nghị về tổ chức, nhân sự, tài chính, tài sản của nhà trường; giới
thiệu người để bổ nhiệm làm Hiệu trưởng theo yêu cầu của cơ quan có thẩm
quyền;
c) Giám sát các hoạt động của nhà trường; giám sát việc thực hiện các
nghị quyết của Hội đồng trường, việc thực hiện quy chế dân chủ trong các
hoạt động của nhà trường.
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, thành phần, cơ cấu tổ chức, thủ tục
thành lập và hoạt động của Hội đồng trường đối với trường tiểu học tư thục
được thực hiện theo Quy chế tổ chức và hoạt động của trường tư thục thuộc
15
các cấp học phổ thông”.
Các tổ chức công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Ban nữ
công là những tổ chức chính trị - xã hội được thành lập và hoạt động theo
quy định của Luật Giáo dục, Điều lệ trường TH, Điều lệ Công đoàn, Điều lệ
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh nhằm phối hợp với nhà trường
thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục .
Mỗi tổ chức tập thể trong nhà trường tiểu học đều có chức năng,
nhiệm vụ cụ thể và có một sức mạnh riêng. Người quản lý có nhiệm vụ khai
thác tiềm năng của tổ chức đó để tạo nên sức mạnh tổng hợp của từng tập
thể sư phạm trong nhà trường.
b. Đặc điểm về lao động sư phạm:
Lao động của giáo viên là loại hình lao động đặc thù, đối tượng lao động sư
phạm trường tiểu học là học sinh lứa tuổi từ 06 đến 11 tuổi; lứa tuổi có sự
phát triển cao về tâm lý, sinh lý. Học sinh có nhu cầu cao về trí tuệ và tình
cảm với người thầy. Phương tiện lao động cũng rất đặc thù. Đó là nhân cách
của người thầy cùng các thiết bị dạy học, trong đó nhân cách người thầy
đóng vai trò quan trọng nhất. Thời gian lao động sư phạm không chỉ đảm
bảo được quy định trong chương trình đào tạo và chế độ lao động sư phạm
không chỉ đảm bảo được quy định trong chương trình đào tạo và chế độ lao

nguồn nhân lực chất lượng cao cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước, họ xứng đáng được xã hội tôn vinh.
2. Cơ sở chính trị, cơ sở pháp lý:
- Nghị quyết BCH Trung ương 2 khoá VIII đã nêu: "Xây dựng đội ngũ
giáo viên, tạo động lực cho người dạy, người học, giáo viên là nhân tố quyết
định, là lực lượng cốt cán để biến mục tiêu giáo dục thành hiện thực, có vai
trò quyết định về chất lượng, quyết định về hiệu quả giáo dục".
- Chỉ thị số 40- CT/TW ngày 15 tháng 6 năm 2004 của Ban Bí thư
Trung ương Đảng về "Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà
giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005 - 2010 " đã ghi
nhận mục tiêu của việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà
giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005 – 2010 là:
“Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo hướng chuẩn
hoá, nâng cao chất lượng, bảo đảm đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt
chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm
nghề nghiệp và trình độ chuyên môn của nhà giáo, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao
của sự nghiệp giáo dục trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước”.
17
- Để thực hiện mục tiêu giáo dục và đào tạo, Điều 15, Luật Giáo dục năm
2005 nhấn mạnh vai trò và trách nhiệm của nhà giáo : "Nhà giáo giữ vai trò quyết
định trong việc bảo đảm chất lượng GD.
Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện nêu gương tốt cho người học.
Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo; có chính sách sử dụng, đãi
ngộ, bảo đảm các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực
hiện vai trò và trách nhiệm của mình; giữ gìn và phát huy truyền thống quý trọng
nhà giáo, tôn vinh nghề dạy học ".
Điều 27, Luật Giáo dục năm 2005 còn nhấn mạnh : “Mục tiêu của GD phổ
thông
1. Mục tiêu của GD phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo

97% năm 2005 và 99% năm 2010.
Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg, ngày 11 tháng 01 năm 2005,
về việc phê duyệt Đề án"Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ
nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005 - 2010"; Quyết
định số 09 cũng đã ghi nhận mục tiêu, các nhiệm vụ chủ yếu, các giải pháp
của việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục giai đoạn 2005 – 2010. Trong đó các nhiệm vụ chủ
yếu mà Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg nhấn mạnh là:
- Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo thuộc các cơ sở giáo dục
và dạy nghề công lập và ngoài công lập, bảo đảm đến năm 2010 đáp ứng đủ về số
lượng, trong đó có 80% giáo viên bậc mầm non, 100% giáo viên các cấp, bậc học
phổ thông, dạy nghề đạt chuẩn đào tạo theo quy định;
- Củng cố, nâng cao chất lượng hệ thống các trường, khoa sư phạm, các
trường cán bộ quản lý giáo dục; đẩy mạnh việc xây dựng các trường Đại học Sư
phạm trọng điểm.
- Thực hiện đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục, đào tạo,
bồi dưỡng trong các trường, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng sư phạm theo hướng
hiện đại và phù hợp với thực tiễn Việt Nam, trong đó chú trọng đổi mới phương
pháp giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, gắn với nội dung đổi mới Chương trình giáo
dục phổ thông.
- Triển khai có hệ thống và chuẩn hoá công tác đào tạo, bồi dưỡng giảng
viên các trường đại học, cao đẳng và giáo viên các trường trung học chuyên
nghiệp, dạy nghề; bảo đảm cho các nhà giáo được bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm
theo quy định của Luật Giáo dục; nội dung, chương trình phương pháp đào tạo
phải phù hợp với yêu cầu của từng bậc học.
19
- Đổi mới công tác quản lý nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo hướng
nâng cao chất lượng, hiệu quả; quy định cụ thể trách nhiệm, quyền hạn của các
cấp, các ngành, các cơ quan quản lý giáo dục và các ngành có liên quan.
- Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, đặc biệt là thanh tra chuyên môn.

hoạt động giảng dạy và giáo dục.
7. Nhiệm vụ của Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, Tổng phụ trách Đội
được quy định cụ thể tại Điều 17, Điều 18, Điều 19 của Điều lệ này.
Điều lệ Trường tiểu học, Điều 32 qui định : ”Quyền của giáo viên tiểu
học
1. Được nhà trường tạo điều kiện để thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và
giáo dục học sinh.
2. Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ;
được hưởng nguyên lương, phụ cấp và các chế độ khác theo quy định khi
được cử đi học để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.
3. Được hưởng mọi quyền lợi về vật chất, tinh thần và được chăm sóc,
bảo vệ sức khoẻ theo chế độ, chính sách quy định đối với nhà giáo.
4. Được bảo vệ nhân phẩm, danh dự.
5. Được thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, còn nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác về việc xây dựng,
nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
của nhà nước như :
- Chỉ thị số 18 ngày 27/08/2001 của Thủ tướng Chính phủ về một số biện
pháp cấp bách xây dựng đội ngũ nhà giáo.
- Chỉ thị số 16/1999/CT-BGD&ĐT về vấn đề bồi dưỡng nhà giáo, cán bộ
quản lý GD&ĐT trong các dịp nghỉ hè.
- Chỉ thị năm học của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT và hướng dẫn nhiệm vụ năm
học ;
- Nghị quyết Tỉnh Đảng bộ lần thứ XIII của Thường vụ Tỉnh uỷ Thanh
Hoá
3. Cơ sở thực tiễn :
Nghị quyết BCH Trung ương 2 của Đảng CSVN về giáo dục và đào
tạo đã có nhiều biện pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Có thể
nói rằng: trong những năm qua, đội ngũ giáo viên phổ thông nói chung, giáo
viên TH nói riêng không những lớn mạnh về số lượng cũng như về chất

lượng giáo dục, người dạy không dám "Dũng cảm" đưa ra những phương
pháp giáo dục mới và cũng không còn hào hứng việc tìm tòi, đào sâu suy
nghĩ để nâng cao chất lượng giáo dục.
Nói tóm lại: để có một đội ngũ cán bộ giáo viên vững mạnh, đáp ứng
được nhu cầu đổi mới giáo dục hiện nay thì ngoài việc bồi thường nâng cao
22
chất lượng đội ngũ giáo viên mà còn phải phá bỏ những rào cản trong quản
lý, cũng như chế độ, chính sách hợp lý.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CỦA VIỆC QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG TIỂU HỌC
I. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG
ĐỘI NGŨ NHÀ GIÁO
1. Những thành tựu chung
Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo: Đến cuối năm học 2002-
2003, cả nước có khoảng 911.000 nhà giáo đang đảm nhận nhiệm vụ giảng
dạy cho trên 22 triệu học sinh, sinh viên ở tất cả các cấp học, bậc học và
trình độ đào tạo. Đại bộ phận nhà giáo có đạo đức tốt, tận tuỵ với nghề, có
tinh thần trách nhiệm và ý thức phấn đấu, thường xuyên tự bồi dưỡng
chuyên môn, nghiệp vụ để giảng dạy tốt, nêu gương tốt cho học sinh, sinh
viên noi theo. ý thức phấn đấu rèn luyện về chính trị tư tưởng của đội ngũ
nhà giáo đã có tiến bộ đáng kể, nhiều người được kết nạp và đảng, đến nay
đã có khoảng 23% là đảng viên.
Hệ thống các trường đào tạo giáo viên, quy mô đào tạo giáo viên ở
các cấp học, bậc học, các địa phương được mở rộng. Chất lượng đào tạo
giáo viên đang dần được nâng cao. Công tác bồi dưỡng giáo viên được thực
hiện thường xuyên và định kỳ, nhiều người được cử đi học ở trong nước và
nước ngoài để nâng cao trình độ. Hiện nay tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn ở các
bậc học là: mầm non 54,5%; tiểu học 87,5%; trung học cơ sở (THCS)
91,5%; trung học phổ thông (THPT) 95,35%; dạy nghề 71%; trung học

2. Những yếu kém và bất cập
2.1. Về số lượng và cơ cấu
Hiện nay vẫn còn thiếu nhiều giáo viên, đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa,
vùng đồng bào dân tộc thiểu số và giáo viên các môn đặc thù như thể dục,
mỹ thuật, âm nhạc, giáo dục quốc phòng, giáo dục công dân, tin học. Cả
nước còn thiếu khoảng 65.000 giáo viên mầm non và phổ thông, 15.500 giáo
viên các trường dạy nghề, THCN và giảng viên CĐ,ĐH, nhưng lại có hiện
tượng thừa cục bộ. Trong khi đó một số lượng giáo sinh ra trường hiện chưa
có việc làm hoặc làm nghề khác vì thiếu biên chế hoặc không muốn xa thành
phố, thị xã. Ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tỷ lệ giáo viên người dân
tộc thiểu số chiếm tỷ lệ khoảng 5,7%.
24
Bên cạnh tình trạng thiếu giáo viên, cơ cấu đội ngũ cũng đang mất cân đối
giữa các môn học, các vùng miền.
Về nội dung này, Chỉ thị số 40-CT/ TW của Ban Bí thư Trung ương đánh
giá: " Tuy nhiên, trước những yêu cầu mới của sự phát triển giáo dục trong
thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đội ngũ NG&CBQLGD có những
hạn chế, bất cập. Số lượng giáo viên còn thiếu nhiều, đặc biệt ở các vùng
sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Cơ cấu giáo viên đang mất
cân đối giữa các môn học, bậc học, các vùng, miền."
2.2. Về chất lượng
Chất lượng chuyên môn của đội ngũ nhà giáo chưa có chuyển biến
đáng kể; việc giải quyết mối tương quan giữa dạy chữ, dạy người và
dạy nghề còn chưa hợp lý (còn nặng về dạy chữ, nhẹ về dạy người,
dạy nghề); đặc biệt còn yếu về phương pháp giảng dạy; chậm được bổ
sung, cập nhật các tri thức mới về sư phạm, khoa học-công nghệ,
ngoại ngữ Vẫn còn một số lượng đáng kể giáo viên mầm non, phổ
thông, THCN và dạy nghề chưa đạt chuẩn đào tạo theo quy định của
Luật Giáo dục, đặc biệt là ở các vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó
khăn. Một bộ phận NG&CBQLGD chưa toàn tâm, toàn ý phục vụ sự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status