Thực tiễn giải quyết tranh chấp về thừa kế theo di chúc - Pdf 33

LỜI MỞ ĐẦU
Thừa kế theo di chúc là một chế định quan trọng của Bộ luật dân sự Việt
Nam. Các tranh chấp trong lĩnh vực này phát sinh đa dạng và ngày càng tăng
nhanh về số lượng đòi hỏi việc giải quyết tại Tòa án phải kịp thời, đúng pháp
luật mới có thể bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể.Thực
tiễn giải quyết các tranh chấp về thừa kế tại các Tòa án nhân dân cho thấy các
vụ án về thừa kế theo di chúc là loại việc phức tạp, yêu cầu đối với người giải
quyết phải có trình độ chuyên môn sâu, nắm vững các quy định của pháp luật
và áp dụng chính xác. Vì vậy, dựa vào kiến thức Luật Dân sự 1 đã được học,
em xin chọn đề tài “Thực tiễn giải quyết tranh chấp về thừa kế theo di
chúc” làm bài tập học kì của mình.
Dù đã cố gắng song bài viết vẫn không thể tránh được những thiếu sót
và khiếm khuyết. Em rất mong nhận được sự chỉ giáo của các thầy cô giúp
cho bài viết được hoàn chỉnh hơn với sự cảm ơn chân thành nhất.!.


A.
I.

CƠ SỞ LÝ LUẬN:

Di chúc:
I.1. Khái niệm, đặc điểm của di chúc:
a. Khái niệm:
Điều 646 BLDS quy định: “ Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân
nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.”
Di chúc là sự bày tỏ ý chí của một người (người để lại di sản) nhằm
định đoạt toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc một phần
tài sản của mình sẽ được chuyển giao cho một hoặc nhiều người sau khi
người đó chết. Sự bày tỏ ý chí được thực hiện thông qua hình thức bằng văn
bản (gọi là di chúc bằng văn bản), hoặc bằng lời nói miệng (gọi là di chúc

sản trong việc thực hiện quyền định đoạt chủ sở hữu và không có gì có thể
thúc ép, bắt buộc chủ thể lập di chúc có những nội dung trái với ý chí chủ
quan của họ. Sự thể hiện ý chí của người lập di chúc không bị pháp luật ngăn
cấm, không ai có quyền can thiệp và cản trở ý chí của người lập di chúc chỉ bị
kiểm soát bởi lí trí của họ.
Ba là, mục đích của việc lập di chúc là nhằm dịch chuyển di sản của
người chết cho người khác đã được xác định trong di chúc:
Mục đích lập di chúc là một nội dung quan trọng không thể thiếu được một
bản di chúc nếu muốn được coi là một căn cứ để dịch chuyển tài sản của
người chết cho người còn sống khác thì không thể thiếu được nội dung này,
chỉ với nội dung này thì di chúc mới thực sự là một phương tiện để người để
lại di sản thừa kế thực hiện quyền định đoạt đối với tài sản của mình. Hơn nữa
chỉ thông qua thừa kế, quyền sở hữu của một người đối với thành quả lao
động của mình mới được dịch chuyển từ đời này sang đời khác và đặc biệt
ngay cả khi họ chết quyền định đoạt tài sản của họ vẫn được pháp luật bảo vệ
và tôn trọng.
Bốn là, di chúc là loại giao dịch dân sự chỉ có hiệu lực pháp luật sau
khi người lập di chúc chết:


Xuất phát từ việc di chúc là ý chí đơn phương của người lập ra nó nên
người lập di chúc luôn luôn có quyền tự mình thay đổi nội dung đã định đoạt
trong di chúc hoặc có quyền hủy bỏ di chúc do vậy dù người lập di chúc đã
lập di chúc xong di chúc nhưng vẫn còn sống thì những người thùa kế theo di
chúc vẫn không có bất kỳ một quyền nào đối với tài sản của người lập di
chúc, họ cũng chưa chắc chắn có được hưởng di chúc đó hay không. Mặt khác
pháp luật cũng cho phép nếu dự định đoạt trong di chúc đã lập không còn phù
hợp với điều kiện, hoàn cảnh và tình cảm hiện tại thì người lập di chúc vẫn có
quyền sửa đổi, bổ sung hay hủy bỏ di chúc. Vì vậy để một di chúc phát sinh
hiệu lực pháp luật thì đòi hỏi người lập di chúc đã chết.

thị trấn chứng nhận của công chứng Nhà nước. (Đ657 BLDS)
+ Di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc đã được chứng thực, chứng
nhận .(Đ660 BLDS)

-

Di chúc miệng: là sự bày tỏ bằng lời nói ý chí của người để lại di sản thừa
kế lúc còn sống trong việc định đoạt khối di sản của mình cho người khác
sau khi mình chết.
Tuy nhiên, Sau 3 tháng kể từ ngày lập di chúc miệng nếu người lập di
chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt và có điều kiện lập di chúc bằng văn
bản thì di chúc miệng không còn giá trị. Đây là trường hợp tự động mất
hiệu lực của di chúc không cần phải thông qua thủ tục pháp lý nào.

II. Thừa kế theo di chúc:
II.1 Khái niệm thừa kế theo di chúc:
Thừa kế di sản nói chung là quá trình chuyển dịch tài sản và quyền sở
hữu tài sản của người đã chết cho người còn sống. Nếu việc dịch chuyển này
được thực hiện dựa trên ý chí tự nguyện của người chết thể hiện trong di chúc
mà họ để lại thì việc dịch chuyển tài sản này là theo phương thức thừa kế theo
di chúc. Mặt khác nếu việc dịch chuyển trên được thực hiện theo hàng thừa
kế, điều kiện và trình tự thừa kế theo phấp luật quy định thì phương thức dịch
chuyển này là thừa kế theo pháp luật.
Thừa kế theo di chúc có những điểm khác biệt với thừa kế theo pháp
luật thể hiện như sau: Về ý chí của người để lại di sản, trong thừa kế theo di


chúc thì việc dịch chuyển di sản là theo ý chí của người để lại thừa kế được
thể hiện trong di chúc họ để lại còn thừa kế theo pháp luật thì sự dịch chuyển
di sản là theo quy định của pháp luật trên cơ sở phỏng đoán, dự đoán mong


Người lập di chúc phải có năng lực chủ thể: năng lực chủ thể của di chúc



phụ thuộc vào năng lực hành vi dân sự.
Người lập di chúc tự nguyện: lập di chúc là một giao dịch dân sự, cho nên



cần phải có sự tự nguyện của người lập di chúc.
Nội dung của di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội: nội dung của di
chúc là toàn bộ các vấn đề được thể hiện trong di chúc như họ và tên người
được hưởng di sản, những tài sản mà họ được hưởng, các nghĩa vụ mà
người thừa kế phải thực hiện và các vấn đề khác. Những nội dung này
không vi phạm với điều cấm của pháp luật, không trái với truyền thống



văn hóa, đạo đức dân tộc.
Hình thức của di chúc phải phù hợp với quy định của pháp luật.

+ Ngoài ra di chúc là một giao dịch dân sự đơn phương do vậy BLDS 2005
nước ta còn quy định một số vấn đề khác trong quá trình lập di chúc mà người
lập phải tuân theo nhằm tăng cường tính xác thực của bản di chúc để qua đó
bảo vệ ý nguyện của người để lại di sản. Theo quy định tại khoản 3,4,5 Điều
652 BLDS thì đối với di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc người
không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và công chứng
hoặc chứng thực; Với di chúc bằng văn bản không có công chứng hoặc chứng
thực phải do chính người lập di chúc viết tay hoặc kí vào bản di chúc; Với di

lập di chúc đã định đoạt cho họ hưởng nhưng những người này lại bị pháp
luật không cho hưởng vì họ đã có những hành vi trái pháp luật, trái đạo đức
xã hội đã được quy định tại điều 643 BLDS.
Bốn là : Di sản được xác định trong di chúc không còn thời điểm mở
thừa kế.
Như vậy để bản di chúc có hiệu lực pháp luật và phát sinh quan hệ thừa
kế theo di chúc thì bản di chúc không rơi vào một trong những sự kiện trên.
Nói tóm lại để phát sinh quan hệ chia thừa kế theo di chúc thì di chúc
phải đáp ứng đủ hai điều kiện là di chúc hợp pháp và phải phát sinh hiệu lực
pháp luật trên thực tế.


NỘI DUNG
Thực tiễn giải quyết các tranh chấp về thừa kế theo di chúc :
I.1 Thực tiễn việc giải quyết tranh chấp về thừa kế theo di chúc trong
B.

I.

những năm qua:
a.Ưu điểm:
Thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành trong những năm qua tòa án
nhân dân các cấp đã xét xử, giải quyết nhiều vụ án dân sự trong đó có các vụ
án về thừa kế theo di chúc, hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn và nghiệp vụ
chính trị của ngành tại địa phương. Quá trình xét xử đã vận dụng đúng pháp
luật, kịp thời, nghiêm minh.
Kết quả giải quyết xét xử các vụ án dân sự cơ bản được quần chúng nhân
dân đồng tình và ủng hộ, bảo vệ được tài sản của Nhà nước , quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân tạo điều kiện ổn định cho các quan hệ xã hội, thúc đẩy
giap lưu dân sự và có những đóng góp quan trọng vào tiến trình phát triển

triệt để yếu tố tình cảm trong quá trình hoà giải dựa trên những quy định cụ
thể của pháp luật mà các thẩm phán phụ trách đã thành công trong việc giúp
đỡ các đương sự tự thoả thuận với nhau. Đối với loại vụ việc tranh chấp phức
tạp như là tranh chấp chia thừa kế thì đây thực sự là kết quả đáng khích lệ.
b. Hạn chế:
Mặc dù đã đạt một số kết quả nhưng công tác giải quyết những tranh
chấp tại các tòa án vẫn bộc lộ những tồn tại, hạn chế. Thực tiễn giải quyết các
tranh chấp về thừa kế theo di chúc trong ngành tòa án nói chung đã cho thấy
những sai sót phổ biến là: “ Việc xác định di sản không đúng, phân chia
thừa kế không hợp lí, việc tính công sức cho người có công duy trì khối tài
sản còn tùy tiện, chủ quan”. Một số án bị hủy, bị sửa gây khó khăn cho việc
thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, làm giảm sút lòng tin của
quần chúng nhân dân vào cơ quan pháp luật .
Bên cạnh đó, do trình độ hiểu biết pháp luật còn hạn chế, vì vậy đa số
các di chúc được lập theo hình thức miệng hoặc không để lại di chúc. Mặc dù
vấn đề về tranh chấp chia thừa kế đã được các văn bản luật và văn bản dưới
luật quy định một cách khá cụ thể và chi tiết, tuy nhiên trong thực tế nhiều khi


các cơ quan chức năng cũng đã lúng túng trước các vụ việc thực tế xảy ra do
các sự việc này thường rất phức tạp, nhiều khi nó không trùng khớp với các
quy định của pháp luật.
I.2. Một số vụ án tranh chấp thừa kế theo di chúc tiêu biểu:
Vụ án thứ 1 : Về phân chia di sản thừa kế trong trường hợp di chúc
miệng không đúng thủ tục.
Ông Nguyễn Văn K và bà Lê Thị M có ba người con một trai và hai gái
là anh Nguyễn Anh T, Nguyễn Thị N và Nguyễn Thị H. Ngày 2/4/ 2004 bà M
chết không để lại di chúc, ngày 5/8/ 2006 ông K chết và có để lại di chúc
miệng với nội dung như sau: “ Tôi có để lại cho con trai là anh Nguyễn Anh T
căn nhà và đất đang ở trị giá 200 triệu đồng còn hai người con gái là Nguyễn

thực hiện. Do sự hiểu biết pháp luật của những người làm chứng còn hạn chế
nên họ đã không ghi chép lời dặn dò của ông K lại thành văn bản và công
chứng, chứng thực tuy nhiên trong trường hợp này ta thấy đã đủ căn cứ khẳng
định rằng di chúc miệng của ông K là ý chí tự nguyện cuối cùng của cụ lập
khi hoàn toàn minh mẫn nên di chúc đó cần được thừa nhận vấn đề cần giải
quyết ở đây là cơ quan có thẩm quyền cần sớm có văn bản hướng dẫn cụ thể
về vấn đề này.
Vụ án thứ 2 : Về phân chia di sản thừa kế trong trường hợp bản di
chúc không hợp lệ về nội dung (được quy đinh tại điều 653 BLDS)
Chị Thỏa con bà Đệ kết hôn với anh Khiêm là con ông Sơn năm 1998.
Năm 2000, anh Khiêm chết, tháng 7 năm 2003 chị Thỏa vay cơ quan 5000000
đồng để mua một chiếc xe máy Wave 13500000. Ngày 5/11/2003, khi lâm
chung chị Thỏa dặn: “ Chiếc xe máy là của riêng con, con giao lại cho mẹ, khi
con chết mẹ xuống cơ quan hỏi xem được thanh toán bao nhiêu tiền thì đem
trả nợ cho con”, có bà Len làm chứng. Ngoài ra chị có chúc thư để lại cho bà
Đệ.
Bà Đệ đến cơ quan chị Thỏa để giải quyết thì ông Sơn đã trả 5000000
đồng và sử dụng chiếc xe. Bà Đệ khởi kiện yêu cầu được chia thừa kế theo di


chúc.Ông Sơn cho rằng khi chị Thoa mua xe ông cho chị 4 triệu đồng, chi phí
mai tang chị và trả nợ cho cơ quan là 5 triệu đồng nên không nhất trí trả xe
cho bà Đệ.
Tại bản án DSST số 29 ngày 28/9/2004 nhận định: chúc thư của chị
Thỏa không ghi rõ đặc điểm chiếc xe, không có ngày, tháng, năm, không ghi
họ tên người được hưởng di sản theo điều 653 BLDS nên không hợp lệ. Khi
lâm chung chị Thỏa có di chúc miệng nhưng không hợp pháp. Ông Sơn đã
cho chị Thoa 4 triệu đồng và trả nợ 5 triệu trong giá trị chiếc xe, bác yêu cầu
khởi kiện của bà Đệ.
Bà Đệ kháng cáo. Bản án DSPT nhận định: Chúc thư của chị Thỏa mặc

thực tế và tình cảm của bà Giáng khi còn sống vì vậy mà bà Thịnh khởi kiện
đề nghị Tòa án hủy bản di chúc ngày 3/10/2006 và chia thừa kế theo pháp luật
để đảm bảo quyền lợi của Bà.
Theo các đương sự xác định và tài liệu thu thập được thì khi còn sống
bà Giáng có lập một bản di chúc “ giấy di chúc ủy quyền” lập ngày 3/10/2006
được đánh máy và có chữ kí, dấu vân tay, điểm chỉ của người lập là bà Trần
Thị Giáng, ngoài ra còn có chữ kí của người làm chứng là ông Nguyễn Quang
Thanh và bà Nguyễn Thị Hồng, cán bộ tư pháp, địa chính phường. Mặt sau
bản di chúc có xác nhận của ông UBND phường Bà Triệu vào ngày 6/10/2006
. Theo bà Hồng khai thì bản di chúc do bà Giáng đọc cho cán bộ phường đánh
máy tại phường sau đó cán bộ phường đọc lại cho bà Giáng nghe, bà nhất trí
rồi kí và điểm chỉ vào bản di chúc ngay sau đó thì cán bộ phường kí xác nhận
vào bản di chúc. Nhưng theo lời khai của ông Ngô Sỹ N và ông Phạm Văn P
là người có mặt hôm ký xác nhận vào bản di chúc thì bà Giáng cùng với bà
Hồng và ông Thanh mang di chúc đánh máy sẵn đến phường xin xác nhận.
Điều này hoàn toàn phù hợp với thục tế bản di chúc lập ngay 3/6/2006. Mặt
khác ông Thanh và bà Hồng là những người được hưởng thừa kế theo di chúc
và diện thừa kế theo pháp luật lại là người làm chứng ký vào.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử quyết


định hủy bản di chúc ngày 3/10/2006 và chia di sản thừa kế của bà Giáng theo
pháp luật.
Nhận xét: Trong vụ án trên, Tòa án không thừa nhận bản di chúc trên
là hoàn toàn chính xác vì bản di chúc của bà Giáng lập tính xác thực chưa cao
và thủ tục lập là không đúng so với quy định của pháp luật tại điều 658
BLDS. Bà Giảng lập di chúc với hình thức di chúc là văn bản xong di chúc lại
được đánh máy và có chữ kí sẵn của bà, sau đó được bà cùng hai con mang
đến phường xin xác nhận sau đó 3 ngày. Mặt khác, hai người làm chứng trong

không tuân theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định gây ra những
tranh chấp về sau. Mặc dù vấn đề về tranh chấp chia thừa kế đã được các
văn bản luật và văn bản dưới luật quy định một cách khá cụ thể và chi tiết,
tuy nhiên trong thực tế nhiều khi các cơ quan chức năng cũng đã lúng túng
trước các vụ việc thực tế xẩy ra do các sự việc này thường rất phức tạp,
nhiều khi nó không trùng khớp với các quy định của pháp luật.


II.2 Nguyên nhân khách quan:
-

Hệ thống pháp luật nước ta đang dần được hoàn thiện nhưng vẫn còn hạn
chế như Đảng đã nhận định: “Nhìn chung hệ thống pháp luật nước ta vẫn
chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, tính khả thi thấp, chậm đi vào cuộc sống.
Cơ chế xây dựng, sửa đổi pháp luật còn nhiều bất hợp lí và chưa được coi

-

trọng đổi mới, hoàn thiện.”
Thực trạng uy tín của đội ngũ thẩm phán ở nước ta , đã có ý kiến cho rằng:
“ Đội ngũ cán bộ tư pháp ( trong đó có thẩm phán) còn thiếu, trình độ

-

nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị của một bộ phận còn yếu.”
Các quy định của BLTTDS về nghĩa vụ chứng minh, cung cấp chứng cứ
của đương sự và trách nhiệm của tòa án trong việc yêu cầu cung cấp chứng
cứ chưa được nhận thức đúng đắn, đương sự phó mặc cho tòa án thu thập
chứng cứ trong khi tòa án thì e ngại vi phạm tố tụng vì BLTTDS năm 2004
không cho phép Tòa án tự xác minh thu thậ chứng cứ khi không có yêu


tin tưởng ở người dân khi họ tới làm việc. Bởi do chưa hiểu biết đầy đủ về
pháp luật nói chung cũng như pháp luật về thừa kế theo di chúc nói riêng nên
họ còn nhiều lúng túng khi làm việc với cơ quan pháp luật. Công tác tiếp dân
được tổ chức tốt sẽ giúp cho việc giải quyết tranh chấp về sau được tiến hành
thuận lợi, dễ dàng hơn.
Hai là: Trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp luôn phải quán triệt
nguyên tắc "kiên trì giúp đỡ các đương sự để họ tự thoả thuận với nhau".
Trước diễn biến tình hình tranh chấp chia thừa kế có xu hướng ngày càng
phức tạp như hiện nay thì việc tìm hiểu những nguyên nhân dẫn tới phát sinh
tranh chấp của từng vụ án là rất cần thiết để từ đó có những phương pháp
thích hợp trong công tác hoà giải.
Ba là: Toà án phối hợp với các cấp, các ngành trong việc nâng cao trình
độ hiểu biết về pháp luật nói chung và pháp luật về thừa kế theo di chúc nói
riêng cho người dân để họ có thể nắm bắt được các quyền và nghĩa vụ của
mình trong quan hệ về thừa kế. Đây là một trong những hình thức tuyên
truyền giáo dục ý thức pháp luật đem lại hiệu quả cao. Qua đó có thể giảm
thiểu những tranh chấp phát sinh do sự thiếu hiểu biết về pháp luật.
b.

Về việc xây dựng và hoàn thiện những chính sách, pháp luật về
thừa kế theo di chúc :
Cần phải được chú trọng nhằm tạo ra những cơ sở pháp lý quan trọng

trong công tác quản lý cũng như bảo vệ quyền và lợi ích của người liên quan:
-

Về hình thức của di chúc:
Pháp luật nên quy định hình thức của di chúc đa dạng, phù hợp hơn trong


người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản và tài sản đó chưa chia
-

thì bản di chúc sau cùng có hiệu lực pháp luật.”
Về di chúc chung của vợ chồng: nên quy định thời điểm có hiệu lực của di
chúc chung vợ chồng như điều 671 BLDS1995 và cần quy định nguyên tắc
xác định phần tài sản của một bên trong khối tài sản chung khi một bên

-

chết trước.”
4. Di sản dùng vào việc thờ cúng, di tặng:
Cần sửa đổi bổ sung quy định tại đoạn cuối khoản 1 Điều 670 BLDS2005
theo hướng quy định rõ sau khi hết thời hiệu quy định tại điều 247 BLDS
2005 về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu thì dân sự đó thuộc về người
đang quản lý hợp pháp dân sự, không nhất thiết phải là người thuộc diện
thừa kế theo pháp luật vì di sản đó có thể được giao cho một người bất kì
quản lí. Nếu không có người nhận thì di sản đó thuộc về nhà nước. Nên
cho phép trong mọi trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản
dùng vào việc thờ cúng, với tỷ lệ tương thích với khối di sản và nghĩa vụ

-

mà họ để lại.
Để đảm bảo quyền lợi cho người thứ 3 trong một số giao dịch thì pháp luật
nên cần quy định người được di tặng, tặng cho trong vòng 3 năm trước khi
người lập di chúc chết cũng phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người
chết để lại thì mới công khác.
5. Về cách tính các khoản công sức đóng góp vào việc duy trì, bảo
quản di sản:

chứng.
KẾT LUẬN
Trong sự vận động và phát triển của nền kinh tế xã hội, một số quy định

về thừa kế theo di chúc trong BLDS 2005 dường như đã rất chặt chẽ, hợp lý
nhưng trong thực tế thì lại nặng về thủ tục, có thể hiểu theo nhiều cách khác
nhau khiến cho các vụ án về tranh chấp về thừa kê theo di chúc càng tăng
nhanh về số lượng. Trong quá trình xét xử, tòa án vẫn bộc lộ nhiều án chế và
bất cập.
Chia thừa kế là một vấn đề phức tạp đối với nhân dân cũng như đối với
những người ban hành và thực thi pháp luật, đặc biệt trong điều kiện phát
triển kinh tế như hiện nay, đang đặt ra cho toàn xã hội chúng ta những vấn đề


đòi hỏi phải có những giải pháp, những hướng đi đúng đắn để làm sao giải
quyết được tốt nhất và đúng pháp luật trong lĩnh vực này. Để làm được điều
đó trước mắt chúng ta cần nghiên cứu hoàn thiện và làm tốt công tác giải
quyết tranh chấp chia thừa kế. Đó chính là mục tiêu chúng ta hướng tới.


1.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
NXB Công an nhân dân, Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình “ Luật dân sự

2.
3.
4.

Việt Nam”, Tập 1,2006


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status