Phân tích ba tình huống trong lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy để làm rõ nội dung và ý nghĩa quy luật phủ định của phủ định - Pdf 33

Thế giới này tồn tại những mối liên hệ khách quan, bản chất, tất yếu, phổ biến và
lặp lại giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính bên trong mỗi sự vật hay giữa các
sự vật, hiện tượng với nhau. Đó là những “quy luật” phép biện chứng duy vật trong
triết học Mác – Lênin đã tìm ra điều đó. Căn cứ vào mức độ phổ biến, phạm vi bao
quát, tính chất và vai trò đối với quá trình phát triển của sự vật, người ta chia ra
thành các quy luật: Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành
những sự thay đổi về chất và ngược lại, Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các
mặt đối lập, và Quy luật phủ định của phủ định. Trong phạm vi bài viết này, nhóm
chúng em muốn khai thác và đi sâu vào đề tài “Phân tích ba tình huống trong
lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy để làm rõ nội dung và ý nghĩa quy luật phủ
định của phủ định”, bởi theo Ăng – ghen, đây là “ Là một quy luật vô cùng phổ
biến và chính vì vậy mà có một tầm quan trọng và có tác dụng vô cùng to lớn về sự
phát triển của tự nhiên, của lịch sử và của tư duy”[1]. Thông qua bài viết này, nhóm
em muốn chứng minh rằng triết học nói chung và quy luật phủ định của phủ định
thật sự gần gũi với cuộc sống hằng ngày chứ không xa vời và khó hiểu như nhiều
người thường nghĩ, qua đó cũng chứng minh tính “phổ biến”, “tầm quan trọng”
như Ăng – ghen đã nêu thông qua các ví dụ sinh động và thực tiễn.
KHÁI QUÁT VỀ QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH
I.1. Phủ định và phủ định biện chứng
I.

Đây là quy luật thể hiện khuynh hướng của sự phát triển. Bất cứ sự vật, hiện
tượng nào trong thế giới đều trải qua quá trình sinh ra, tồn tại, phát triển và diệt
vong. Sự vật cũ mất đi, được thay thế bằng sự vật mới. Triết học gọi sự thay thế
này là sự phủ định. Qua đây, ta có thể định nghĩa, “sự phủ định là sự thay thế sự
vật này bằng sự vật khác trong quá trình vận động và phát triển”.
Trong sự phủ định này, nhiều người theo quan điểm siêu hình cho rằng phủ
định là sự diệt vong hoàn toàn cái cũ; xóa sạch trơn, chấm dứt hoàn toàn sự vận
1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, t20,tr 200





QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH THỂ HIỆN TRONG CÁC TÌNH
HUỐNG TỰ NHIÊN, XÃ HỘI, TƯ DUY
II.

II.1 Tình huống trong lĩnh vực tự nhiên

Thế giới tự nhiên vô cùng rộng lớn, phong phú, đa dạng tồn tại bằng sự vận
động, phát triển liên tục không ngừng nghỉ. Sự vận động, phát triển đó thể hiện rất
rõ sự chi phối và tầm ảnh hưởng vô cùng lớn của quy luật phủ định của phủ định.
Loài bướm, một loài côn trùng hết sức thân quen trong giới tự nhiên sẽ giúp ta hiểu
rõ nội dung và ý nghĩa của quy luật.
Nhìn những chú bướm bay lượn trong vườn với màu sắc rực rỡ mê hồn, ít ai
biết được rằng để được như vậy, chúng đã phải trải qua một qua trình biến thái
hoàn toàn. Nghiên cứu về vòng đời của loài bướm là một quá trình phủ định của
phủ định diễn ra theo hình xoáy ốc, là một vòng xoáy phát triển theo hướng đi lên,
là một chu kì tuần hoàn nhưng luôn thể hiện sự hoàn hảo và ngày càng mạnh mẽ
hơn. Vòng đời sinh sản của chúng khá đặc biệt, đó là một vòng tuần hoàn khép kín:
từ quả trứng được bọc trong kén sau đó kén nở thành sâu non, sâu non phát triển
thành nhộng, nhộng rồi lại nở thành bướm, cứ thế chu trình sinh sản của loài bướm
theo một vòng nối tiếp nhau.
I.1 Ấu trùng – sự phủ định của quả trứng sâu
Ta hãy bắt đầu với sự khẳng định – quả trứng sâu. Quả trứng sâu sau một thời
gian tồn tại, với điều kiện môi trường thích hợp sẽ nở ra ấu trùng hay gọi là sâu
bướm. Ở giai đoạn này, ấu trùng ra đời trên cơ sở những hạt nhân hợp lý của cái cũ
để phát triển thành cái mới, tạo nên tính liên tục cho sự phát triển. Ấu trùng ra đời
trên nền tảng của trứng đã thụ tinh, được hình thành sau nhiều lần hợp tử phân chia
thành phôi. Các cơ quan của sâu bướm được hình thành từ các tế bào phôi của
trứng, nhưng là sự biểu hiện ở mức độ cao hơn, hoàn chỉnh dần và phát triển hơn.



đoạn cuối cùng trong chu kì biến đổi của bướm. Tuy bướm lột xác hoàn toàn để có
thể tung cao đôi cánh bay nhưng thực chất sự hoàn thiện của bướm là dựa trên
nhộng. Nhộng phải trải qua một quá trình tiêu mô và phát sinh mô, tiêu biến các cơ
quan ấu trùng và hình thành các cơ quan trưởng thành (từ các tế bào đĩa mầm). Dựa
trên nền tảng này, bướm mới có thể phát triển và hoàn thiện dần, đồng thời nó cũng
xóa bỏ những đặc điểm của nhộng không còn cần thiết. Đó là lớp kén bên ngoài
bảo vệ quá trình lột xác của nhộng thành bướm. Nói như vậy vì bướm đã trở nên
cứng cáp và có thể thích nghi với môi trường. Lúc này, bướm là sự phủ định của
nhộng. Bướm mang những nét đặc trưng của loài bướm được di truyền từ mẹ
nhưng đồng thời cũng có những nét riêng của nó thông qua màu sắc, hình dạng.
I.4 Trứng – kết thúc một chu kì
Bướm sau thời gian sinh trưởng, phát triển sẽ lại đẻ ra trứng. Trứng chính là
sự phủ định của bướm, nhưng không xóa sạch trơn mà kế thừa và phát triển những
cái phù hợp và lọc bỏ những mặt tiêu cực lỗi thời. Trứng đã kế thừa có chọn lọc
được nét đặc trưng của loài bướm - đó chính là hệ gen, nhưng đồng thời khắc phục
những hạn chế của bướm mẹ. Trong trứng bướm đã chứa đựng những đột biến gen,
là khả năng chống chịu với môi trường khắc nghiệt xung quanh, những đột biến
này được tích dần dần trong cơ thể của chúng, là nguồn gốc cho sự hoàn thiện và
phát triển để thích ứng hơn với điều kiện sống.
Qua phân tích trên ta đã hiểu rõ được nội dung của quy luật phủ định của phủ
định. Nhận thức đúng đắn về quy luật sẽ giúp ta hiểu rõ sự vận động, phát triển của
giới tự nhiên từ đó phát huy những điểm tốt, hạn chế những cái có hại, vận dụng sự
phát triển theo chiều hướng luôn luôn đi lên nhằm cải thiện đời sống con người
cũng như thế giới tự nhiên. Giới tự nhiên ảnh hưởng trực tiếp tới sự sinh tồn của
loài người. Vì vậy, con người – nắm trong tay những quy luật chi phối tự nhiên, cụ
thể ở đây là quy luật phủ định của phủ định- vận dụng chúng để tác động vào giới





trước. Mỗi vạt có hai thân nối sống (vị chi thành bốn) tượng trưng cho tứ thân phụ
mẫu, và vạt con nằm dưới vạt trước chính là thân thứ năm tượng trưng cho người
mặc áo.
Như vậy, áo ngũ thân ra đời đã phủ định áo tứ thân nhưng không phải phủ
định sạch trơn. Cũng kiểu áo dài bốn tà như vậy nhưng nó đã được biến tấu, cách
tân đẹp và sang trọng hơn, là sự khẳng định nó không chỉ phù hợp với miền quê
mà còn phù hợp với nét quý phái của người chốn thành thị.
II.2.2. Áo dài Việt Nam dần được định hình
Chúa Nguyễn Phúc Khoát được xem là người có công khai sáng và định
hình chiếc áo dài Việt Nam. Chiếc áo dài được quy định: áo từ hai bên nách trở
xuống phải khâu kín liền, không được xé mở.
Cho đến thời vua Minh Mạng thế kỉ XVII, truyền thống mặc váy vẫn tồn tại
ở Việt Nam, được ghi trong sách “Lê triều thiên chính” vào đời vua Lê Huyền
Tông tháng 3 năm 1665 với sắc lệnh: “Áo đàn bà con gái không có thắt lưng, quần
không có hai ống từ xưa đến nay vốn đã có hủ tục như thế”. Năm Minh Mạng thứ
Chín (1628), triều đình Huế ra sắc chiếu chỉ cấm đàn bà mặc váy và bắt đàn bà
phải mặc quần hai ống.
Ta có thể thấy một sự thay đổi từ chiếc áo tứ thân bốn tà rồi đến áo ngũ thân
và sau đó là áo dài thời vua Minh Mạng, nó đã có một bước nhấn đáng chú ý. Áo
dài được mặc kèm với quần, hai bên nách khâu kín liền. Chiếc áo dài ở thời vua
Minh Mạng đã phát triển theo hình thức xoáy ốc đã nói trong quy luật phủ định của
phủ định. Vẫn là chiếc áo bốn tà nay đã được khâu kín hai bên nách, mặc kèm theo
quần để đáp ứng nhu cầu thời đại.
II.2.3. Áo dài thời hiện đại
II.2.3.1 Áo dài Lemur - một bước nhảy vọt lớn của áo dài Việt Nam.
Với chiếc áo dài kín nách mặc liền với quần, người ta đã cải tiến để có chiếc
áo dài hiện đại, hợp thời hơn. Thập niên 30, chiếc áo dài đã được cải cách những
điểm quan trọng từ chiếc áo tứ thân. Đó là chiếc áo dài Lemur – may ráp vai, tay

kiểu dáng của chiếc áo dài trước, mang đậm nét văn hóa dân tộc, bản sắc Việt


Nam, hồn cốt truyền thống của 4000 năm lịch sử. Chiếc áo dài đã được biến thể
cho phù hợp với cách ăn vận của phụ nữ Việt Nam. Sự thay đổi của chiếc áo dài là
sự kế thừa, mang tính lặp lại và tiến lên.
Quy luật phủ định của phủ định thể hiện sự phát triển do mâu thuẫn. Đây là
cơ sở để chúng ta nhận thức đúng đắn về xu hướng vận động, phát triển của sự vật,
hiện tượng. Chiếc áo dài Việt cũng đã trải qua nhiều thời kì với sự thay đổi và cách
tân sao cho phù hợp với thời đại mà nó tồn tại. Đồng thời nó cũng đáp ứng những
nhu cầu cần thiết của con người. Trong mỗi thời đại, đó là sự vận động, phát triển
từ cái có trước. Nói như vậy để thấy rằng cái mới nhất định sẽ thay thế cái cũ, cái
tiến bộ sẽ thay thế cái lạc hậu nhưng cái mới phát triển từ cái cũ, nó kế thừa tất cả
những gì tích cực đồng thời khắc phục những tồn tại của cái cũ.

II.3 Quy luật phủ định của phủ định trong lĩnh vực tư duy - sự thay đổi
nhận thức của con người
Quy luật phủ định của phủ định được thể hiện ngay trong tư duy của bộ óc
con người, nó có ý nghĩa quan trọng với sự phát triển tư duy trong suốt quá trình
tồn tại của cá nhân con người hay cả xã hội loài người nói chung. Để hiểu rõ nội
dung và ý nghĩa của quy luật phủ định của phủ định ta hãy xem xét vấn đề đơn
giản nhất: “sự phát triển về tư duy của một con người từ khi còn bé đến khi trưởng
thành”.
Từ khi mới bắt đầu hình thành ý thức, các em nhỏ ở lớp mầm hay lớp lá đã
được cha mẹ dạy một điều vô cùng cơ bản – phải biết nghe lời ông bà, cha mẹ, anh
chị và những người lớn tuổi hơn để trở thành những em bé ngoan. Với một ý thức
mới hình thành, còn non nớt cùng tình yêu và niềm tin tuyệt đối với cha mẹ, chúng
luôn sẵn sàng nghe theo và mong làm theo thật tốt những gì người lớn đã nói. Tuy
trẻ con có hay làm nũng người lớn phải làm thế này, phải làm thế kia thì chúng mới
thực hiện dẫn tới chỗ người lớn phải nhượng bộ (như việc phải cho xem hoạt hình

mà đó còn là sự giành giật, sự bon chen khốc liêt, đôi khi nó là sức mạnh tự vực
dậy lại mình sau mỗi lần thất bại, lòng khao khát tự hoàn thiện bản thân. Như vậy,
ý thức lại một lần nữa được thay đổi: do hiểu được ý nghĩa những gì khi xưa được
dạy, người trưởng thành đó sẽ biết lắng nghe những lời khuyên của cha mẹ mình.
Cách tư duy nảy sinh từ khi mới lớn đã bị phủ định. Lối tư duy khi bé dường như
được lặp lại khi trưởng thành nhưng thực tế đã phát triển ở một mức cao hơn –
chấp nhận và hiểu sâu sắc những lời dạy bảo của cha mẹ dù đúng hay sai. Đồng
thời, bằng những kiến thức và cách tu duy đã đc hình thành trong giai đoạn phát
triển, họ sẽ có những biện pháp dạy dỗ con cái mình hợp lý hơn. Sau hai lần bị phủ
định, tư duy của con người đã thực hiện đầy đủ một chu kì phát triển – lặp lại trạnh
thái cũ, kế thừa những mặt tích cực của cả lần khẳng định và lần phủ định thứ nhất
– tư duy được nâng lên một tầm cao mới.
Ví dụ trên đây đã giúp ta hiểu rõ nội dung và tính đúng đắn của quy luật phủ
định của phủ định. Khi đã hiểu rõ nội dung của quy luật, ta vận dụng, sử dụng quy
luật sao cho phù hợp với thực tế để phát huy những mặt tích cực, có như vậy ta
mới hiểu được tường tận ý nghĩa của quy luật phủ định của phủ định. Trong ví dụ
đã phân tích trên đây, khi đã hiểu được lời dạy của cha mẹ, nhận thức được quy
luật phủ định của phủ định, con người ta sẽ có cách giáo dục với trẻ sao cho phù
hợp nhất, đạt hiệu quả cao nhất. Cần ý thức được rằng những cái mới sinh ra sau
phủ định luôn tiến bộ hơn cái trước, vì vậy cần chú trọng phát huy những mặt tích
cực của cái mới: khi con trẻ không nghe lời, cha mẹ không nhất thiết phải ép buộc
con tuyệt đối, chỉ nên giữ trẻ trong một trạng thái, quy củ nhât định – khuyến khích
trẻ tìm tòi sáng tạo, học hỏi để phát triển, hoàn thành quá trình phủ định lần hai.
Đồng thời khi cái mới được sinh ra cũng không được phép gạt bỏ hoàn toàn – sạch
trơn cái cũ, mà phải biết chọn lọc phát huy những mặt tốt: khi đã trưởng thành và
hoàn thành 2 lần phủ định, con người ta vừa hiểu được ý nghĩa, tình yêu thương


của cha mẹ trong những lời dạy bảo đồng thời cũng phải biết tính đúng sai trong
những lời khuyên bảo, dạy dỗ đó để ứng dụng vào thực tế cho tốt.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status