MỤC LỤC
Tran
1. Chuẩn mực pháp luật
1.1. Khái niệm
1.2. Một số đặc điểm của chuẩn mực pháp luật
2. Chuẩn mực đạo đức
2.1. Khái niệm
2.2. Một số đặc điểm của chuẩn mực đạo đức
3. Chuẩn mực pháp luật
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
g
2
2
2
4
5
5
6
12
Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng. Nó là
phương tiện không thể thiếu bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành bình thường của xã
hội nói chung và của nền đạo đức nói riêng. Pháp luật không chỉ là một công cụ
quản lý Nhà nước hữu hiệu, mà còn tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển
của ý thức đạo đức, làm lành mạnh hoá đời sống xã hội và góp phần bồi đắp nên
những giá trị mới. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, bài viết dưới đây
của tôi sẽ tập trung triển khai đề tài “Phân tích mối quan hệ giữa chuẩn mực
pháp luật và chuẩn mực đạo đức”.
1. Chuẩn mực pháp luật
Pháp luật rất quan trọng trong mỗi quốc gia và trong hiến pháp nước ta
trong những hành vi nhất định vì trong những trường hợp,do sự chi phối của
nhiều điều kiện khách quan và chủ quan nên có thể nảy sinh những khả năng xử
sự khác nhau gây rối gen cho xã hội. Do vậy nhà nước cần đặt những quy tắc có
tính chất bắt buộc chung cho toàn xã hội.
Thứ hai, pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận
2
Từ những thực trạng xấu phát sinh trong xã hội, từ những ràng buộc
không lành mạnh giữa các quan hệ trong xã hội và nhằm đảm bảo thực thi tính
quyền lực, ý chí của giai cấp thống trị mà nhà nước đã soạn thảo, ban hành những
diều luật hướng cho các quan hệ hoạt động trong vòng trật tự, phát triển bền
vững. Pháp luật được ban hành ra những quy định mà trong đó các cá nhân,t ổ
chức có những giới hạn nhất định, những hành vi được phép làm, không được
phép làm cũng như các quyền và nghĩa vụ cụ thể.
Nhà nước cũng thừa nhận có hệ thống từ các phong tục, điều lệ từ những tổ
chức xã hội,… mà nó phù hợp với những điều kiện xã hội mới vào hệ thống pháp
luật chung, được ban bố dưới các hình thức văn bản pháp luật để toàn xã hội thực
hiện và là bắt buộc với mọi cá nhân tổ chức.
Thứ ba, pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội
Bằng những biện pháp thực thi quyền lực của nhà nước đã ban hành thành
những hệ thống luật với mục đích là điều chỉnh các hành vi sai lệch, trái với
chuẩn mực đạo đức xã hội nhằm tạo lập xã hội pháp triển lành mạnh, các mối
quan hệ trong xã hội có điều kiện liên kết pháp triển tạo nên một môi trường xã
hội phát triển, hòa bình trong vòng trật tự xã hội có pháp luật. Nếu những hành
vi, quan hệ cá nhân tổ chức nào vi phạm thì nhà nước sẽ dùng chính pháp luật là
phương thức, là công cụ cưỡng chế những vi phạm đó.
Thứ tư, pháp luật được nhà nước đảm bảo thực bằng tính cưỡng chế
Tính cưỡng chế thể hiện ở việc nhà nước có thể dùng nhiều biện pháp để
vi xã hội của con người, trong đó xác lập những quan điểm, quan niệm chung về
công bằng và bất công, về cái thiện và cái ác, về lương tâm, danh dự, trách nhiệm
và những phạm trù khác thuộc đời sống đạo đức tinh thần của xã hội.
mà con người cần có: Lịch sự, Biết ơn,
Yêu thương, Lễ độ, Tự trọng, Tôn trọng,
Thật thà, Giản dị, Tiết kiệm, Trung thực, Tôn
sư trọng đạo, Tự tin, Đoàn kết, Dũng cảm,
Khoan dung, Siêng năng, Tương trợ, Liêm
khiết, Tự lập, Giữ chữ tín, Chí công vô tư,
Tự chủ, Lí tưởng, Năng động, sáng tạo,
Danh dự, Hạnh phúc, Lương tâm,…;
Tôn sư trọng đạo
2.2. Một số đặc điểm của chuẩn mực đạo đức
4
Thứ nhất, tính bất thành văn
Chuẩn mực đạo đức là một loại chuẩn
mực xã hội bất thành văn. Tức là nó không
được ghi chép thành văn bản cụ thể mà tồn
tại dưới hình thức là những bài học luân lý,
phép đối nhân xử thế giữa các cá nhân với
nhau trong xã hội. Chuẩn mực đạo đức
thường được củng cố, giữ gìn và phát huy
vai trò và hiệu lực của nó thông qua con
Yêu thương là truyền thống tự
ngàn xưa của dân tộc
tiếp thu và lưu truyền từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác.
nguyện,
tự giác
Thuần phong,
mĩ tục
Sức
mạnh
nội tâm
5
Dư luận xã
hội
3. Mối quan hệ giữa chuẩn mực pháp luật và chuẩn mực đạo đức
Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng. Nó là
phương tiện không thể thiếu bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành bình thường của xã
hội nói chung và của nềnđạo đức nói riêng. Pháp luật không chỉ là một công cụ
quản lý Nhà nước hữu hiệu, mà còn tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển
của ý thức đạo đức, làm lành mạnh hoá đời sống xã hội và góp phần bồi đắp nên
những giá trị mới.
Pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ với đạo dức. Đạo đức là tập hợp các
quan điểm, quan niệm của con người về cái thiện, cái ác, về sự công bằng và bất
công, về nghĩa vụ, danh dự và các phạm trù khác thuộc đời sống tinh thần của xã
hội. Các quan điểm, quan niệm này rất khác nhau, được quy định bởi các điều
kiện của đời sống vật chất xã hội. Trên cơ sở đó, hình thành nên hệ thống ứng xử
của con người. Khi đạo đức trở thành niềm tin nội tâm thì nó là nền tảng để điều
khiển hành vi của con người sao cho phù hợp với đòi hỏi chung của xã hội.
Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, việc tăng cường vai trò của
Ví dụ:
Đạo đức Nho giáo phương Đông mà thành trì là phong kiến Trung Quốc cả
ngàn năm vẫn còn nhiều ảnh hưởng trong nếp sống căn bản của người Việt Nam.
Đặc trưng của nó là cha mẹ có quyền hành rộng rãi đối với con cái.
Nền nếp gia phong cổ truyền vẫn còn đòi hỏi con cái phải phục tùng cha
mẹ triệt để, đến nỗi coi con cái như vật sở hữu của người có công sinh đẻ, nuôi
dưỡng mình. Cha mẹ có thể đánh đập, răn dạy con; có quyền cầm cố, bán đợ con,
từ bỏ con; trong khi con cái có nghĩa vụ không được làm trái lời dạy bảo của ông
bà, cha mẹ. Trong một bộ phận xã hội, mấy câu “kinh điển” lỗi thời đến ngày nay
vẫn còn tồn tại: “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”; “Phụ xử tử vong, tử bất vong
bất hiếu”; “Thương cho roi cho giọt, ghét cho ngọt cho bùi”...;
Ngược lại, chuẩn mực đạo đức có thể là nền tảng tinh thần để thực hiện các
quy định của pháp luật. Được pháp luật thừa nhận và trở thành quy phạm mang
tính bắt buộc chung, không chỉ đối với quốc gia mà còn mở rộng ra toàn thế giới.
Ví dụ:
Điều 26 Công ước Viên về luật điều ước quốc tế năm 1969 quy định: “Mọi
điều ước đã có hiệu lực đều ràng buộc các bên tham gia và phải được các bên
thi hành với thiện chí”; Nguyên tắc thiện chí là một trong những phạm trù đạo
7
đức cơ bản thể hiện tính trung thực cũng như tôn trọng việc thực hiện các cam kết
quốc tế.
Hơn thế nữa, các quy phạm đạo đức này cũng được “luật hóa” trong các
văn bản pháp lý khác nhau của Việt Nam như Bộ luật dân sự, Luật Hôn nhân và
gia đình, Luật thương mại, Bộ luật Hình sự,…;
Chuẩn mực đạo đức tuy khác nhau về phạm vi tác động, cơ chế tác động
tới các quan hệ xã hội nhưng chúng có chung mục đích điều tiết, điều chỉnh hành
vi của con người trong xã hội. Mối quan hệ giữa chuẩn mực đạo đức và pháp luật
đình.
4. Trả thù, đe doạ trả thù người giúp đỡ nạn nhân bạo lực gia đình, người phát
hiện, báo tin, ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình.
5. Cản trở việc phát hiện, khai báo và xử lý hành vi bạo lực gia đình.
6. Lợi dụng hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình để trục lợi hoặc thực hiện
hoạt động trái pháp luật.
7. Dung túng, bao che, không xử lý, xử lý không đúng quy định của pháp luật đối
với hành vi bạo lực gia đình”;
Pháp luật không chỉ là sự ghi nhận các chuẩn mực đạo đức mà còn là công
cụ, phương tiện bảo vệ các chuẩn mực đạo đức một cách hữu hiệu bằng các biện
pháp, chế tài cụ thể. Pháp luật coa vai trò lớn trong việc duy trì, bảo vệ và phát
triển các quy tắc đạo đức phù hợp, tiến bộ trong xã hội.
Song bên cạnh đó, chuẩn mực đạo đức là nền tảng tinh thần để thực hiện
các quy định của pháp luật. Trong nhiều trường hợp, các cá nhân thực hiện hành
vi hợp pháp không phải vì họ hiểu các quy định pháp luật mà họ tuân theo các
quy tắc đạo đức, cách đối nhân xử thế trong cuộc sống. Nhiều quy tắc , yêu cầu
của chuẩn mực đạo đức được nhà nước sử dụng và nâng lên thành quy phạm
pháp luật. Khi xây dựng ban hành, nhà nước không thể không tính tới các chuẩn
mực đạo đức.
Ví dụ:
Điều 8 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về nguyên tắc tôn trọng đạo
đức, truyền thống tốt đẹp:
“Việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự phải bảo đảm giữ gìn bản
sắc dân tộc, tôn trọng và phát huy phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp, tình
đoàn kết, tương thân, tương ái, mỗi người vì cộng đồng, cộng đồng vì mỗi người
và các giá trị đạo đức cao đẹp của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt
Nam.
Đồng bào các dân tộc thiểu số được tạo điều kiện thuận lợi trong quan hệ
dân sự để từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của mình.
Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2010;
2. Cơ sở văn hóa Việt Nam;
Trần Ngọc Thêm;
NXB. Văn hóa, Hà Nội, 2000;
10
3. Bộ luật Dân sự 2005;
4. Luật phòng chống bạo lực gia đình năm 2008;
5. Công ước Viền về luật điều ước quốc tế năm 1969;
6. Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật;
Nguyễn Thị Hồi;
Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2010;
11