A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong bối cảnh hiện nay, nhu cầu về việc ban hành văn bản quy phạm
pháp luật để giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội cụ thể ở địa phương là rất
lớn. Trước đây, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cấp tỉnh chưa
có quy định nào điều chỉnh. Trong khi đó, Luật Ban hành văn bản quy phạm
pháp luật năm 1996 (được sửa đổi năm 2002 và năm 2008) chỉ quy định
chung chung về việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương.
Do đó, tại địa phương, mỗi nơi mỗi kiểu tự mày mò, xây dựng trình tự, thủ
tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho riêng mình. Để khắc phục tình
trạng đó, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND
được Quốc hội thông qua ngày 03 tháng 12 năm 2004 và có hiệu lực thi
hành kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2005. Đây là đạo luật quan trọng trong việc
quy định về trình tự, thủ tục soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp
luật ở địa phương các cấp và có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động quản lý
điều hành ở địa phương. Sau khi Luật có hiệu lực thi hành, hành năm có
hàng ngàn văn bản quy phạm pháp luật của địa phương nhất là cấp tỉnh đã
được xây dựng và ban hành. Để hiểu rõ hơn về hoạt động của UBND các
cấp trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật ....
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Một số vấn đề lý luận chung về văn bản quy phạm pháp luật và văn
bản quy phạm pháp luật do Ủy ban nhân dân ban hành.
1. Một số vấn đề lý luận về văn bản quy phạm pháp luật.
a. Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật.
Một trong những vấn đề lý luận cơ bản về văn bản quy phạm pháp luật
là khái niệm "văn bản quy phạm pháp luật ". Trong sách báo khoa học pháp
lý trong nước có những định nghĩa khác nhau về khái niệm " văn bản quy
phạm pháp luật ". Chẳng hạn, " Văn bản quy phạm pháp luật ( sản phẩm của
quá trìnhsáng tạo pháp luật ) là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền
ban hành theo thủ tục và trình tự luật định, trong đó có những quy tắc xự sử
sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để
điều chỉnh các quan hệ xã hội.".
b. Đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật
Là một hình thức văn bản quan trọng của nhà nước, VBQPPL có những
đặc điểm cơ bản sau:
* VBQPPL được ban hành bởi chủ thể có thẩm quyền do luật định
Pháp luật hiện hành quy định rất nhiều chủ thể có thẩm quyền ban hành
VBQPPL như các cơ quan quyền lực nhà nước, cơ quan hành chính, cơ quan
xét xử, cơ quan kiểm sát, người đứng đầu cơ quan nhà nước. Do đó chỉ có
những chủ thể đã được pháp luật quy định mới có thẩm quyền ban hành
VBQPPL. Nếu một VBQPPL được ban hành bởi một chủ thể mà pháp luật
không quy định về thẩm quyền ban hành thì văn bản đó không có hiệu lực
pháp luật
* VBQPPL có nội dung là các quy phạm pháp luật mang tính bắt buộc
chung, được áp dụng nhiều lần đối với nhiều đối tượng, có hiệu lực trong
phạm vi toàn quốc hoặc từng địa phương.
VBQPPL tác động tới tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ
chức xã hội và mọi công dân. VBQPPL được thực hiện cho tới khi nó bị
ngưng hiệu lực bằng một quyết định đình chỉ thi hành của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền hoặc cá nhân có thẩm quyền; hoặc bị hết hiệu lực ở thời điểm
được quy định ngay trong văn bản đó hay được thay thế bằng một văn bản
mới của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản, hoặc bị hủy bỏ hay bị
bãi bỏ bằng một văn bản của chủ thể có thẩm quyền.
* VBQPPL được ban hành theo thủ tục, trình tự luật định.
Pháp luật quy định về thủ tục ban hành đối với mỗi loại VBQPPL cụ
thể. Trong mỗi thủ tục đó, có thể có những nét riêng biệt nhưng nhìn chung
đều bao gồm những hoạt động mang tính chuyên môn nghiệp vụ. Thủ tục
ban hành các VBQPPL được quy định trong nhiều VBQPPL khác nhau,
quyền quản lý Nhà nước. Từ nhận định này, có thể thấy, VBQPPL của chính
quyền địa phương nói chung và VBQPPL của UBND nói riêng đã thực sự
trở lên cần thiết và giứ vai trò quan trọng trong việc điêu chỉnh, quản lý quan
hệ xã hội ở địa phương.
Xuất phát từ nhu cầu trên Hiến pháp, Luật hiện hàh quy định UBND các
cấp có thẩm quyền ban hành VBQPPL. Về hình thức văn bản, UBND có
thẩm quyền ban hành quyết định và chỉ thị. Trong hoạt động ban hành
VBQPPL, UBND các cấp khác nhau có thẩm quyền và trách nhiệm khác
nhau về cả phạm vi, mức độ và tính chất xuất phát từ vị trí, vai trò của
UBND mỗi cấp trong hệ thống chính quyền Nhà nước thống nhất. Sự khác
nhau này không chỉ ở phạm vi đơn vị hành chính lãnh thổ mà điều quyết
định là sự khác nhau về quyền hạn ở mỗi cấp UBND đối với những nhiệm
vụ thuộc lĩnh vực hoạt động theo quy định của pháp luật.
b. Trình tự thủ tục soạn thảo, ban hành VBQPPL của UBND
Tất cả các VBQPPL đều phải được ban hành theo thủ tục và trình tuej
do pháp luật quy định. Thủ tục trong hoạt động xây dựng VBQPPL được
hiểu là cáh thức và trật tự tiến hành các hoạt động cần thiết của chủ thể có
thẩm quyền trong quá trình ban hành VBQPPL.
VBQPPL của UBND là được ban hành là kết quả của một quá trình hoạt
động phối hợp giữa các cơ quan tổ chức, cán bộ chuyên môn trong việc
cguaanr bị nghiên cứu, biên soạn, chỉnh lý, hoàn thiện và xem xét thông qua
văn bản. Trên thực tế, trình tự soạn thảo, ban hành VBQPPL của mỗi cấp
UBND theo luật ban hành VBQPPL của Hội đồng nhân dân( HĐND) và
UBND năm 2004 gồm các bước khác nhau.
c. Hiệu lực của VBQPPL do UBND ban hành.
Theo quy định trong Luật ban hành VBQPPL năm 2008, thi VBQPPL
có hiệu lực về thời gian, không gian và đối tượng áp dụng.
* Hiệu lực về thời gian.
* Hiệu lực về không gian.
Hiệu lực về không gian của VBQPPL là giới hạn phạm vi tác động
của văn bản về mặt không gian, có thể là toàn bộ lãnh thổ quốc gia, một
địa phương hoặc một vùng nhất định. Hiệu lực không gian của VBQPPL
phụ thuộc vào thẩm quyền của cơ quan ban hành văn bản, phạm vi và
mức đọ điều chỉnh của văn bản. UBND là cơ hành chính ở địa phương
được tổ chức tương ứng với từng đơn vị hành chính lãnh thổ, nên về
nguyên tắc, VBQPPL của chính quyền địa phương chỉ có hiệu lực trên
phạm vilãnh thổ mà chính quyền quản lý và theo đó đối tượng thi hành
cũng hạn chế. Cụ thể hóa nguyên tắc này, tại khoản 1,2 Điều 49 luật ban
hành VBQPPL của HĐND và UBND năm 2004 đã quy định:
1. Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân
dân của đơn vị hành chính nào thì có hiệu lực trong phạm vi đơn vị hành
chính đó.
2. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân
dân, Uỷ ban nhân dân có hiệu lực trong phạm vi nhất định của địa phương
thì phải được xác định ngay trong văn bản đó.
* Hiệu lực về đối tượng áp dụng.
Đối tượng áp của VBQPPL là những cá nhân, cơ quan Nhà nước, tổ
chức trên vùng lãnh thổ mà văn bản đó có hiệu lực về thời gian và về
không gian. Nếu VBQPPL quy định đối tượng áp dụng của văn bản thì
việc xác định hiệu lực về đói tượng áp dụng của văn bản rất dễ dàng, còn
nếu không quy định thì cũng phải dựa vào thẩm quyền ban hành văn bản
và nội dung văn bản để xác định hiệu lực về đối tượng áp dụng của nó.
II. Thực trạng hoạt động ban hành VBQPPL của UBND, nguyên
nhân và giải pháp.
1. Thực trạng hoạt động ban hành VBQPPL của UBND
Trong những năm qua, việc ban hành VBQPPL của UBND các cấp
_ Nhiều địa phương đã coi trọng công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống
hóa VBQPPL thành một hoạt động thường xuyên và xác định đây la một
hoạt động quan trọng gắn liền với công tác xây dựng văn bản và thực hiện
pháp luật.
b. Những tồn tại thiếu sót trong hoạt động ban hành VBQPPL của
UBND
Thứ nhất:Ở một số địa phương vẫn còn tình trạng ban hành văn bản
có tính quy phạm dưới hình thức không do luật định như: công văn, công
báo , kết luận...Đây là tồn tại khá phổ biến trong hoạt động ban hành
VBQPPL của UBND các cấp trong nhiều năm qua. Ngoài ra, việc sử
dụng căn cứ pháp luật để ban hành VBQPPL đôi khi còn rất tùy tiện như:
văn bản ban hành không có căn cứ pháp lý, hoặc căn cứ vào công văn,
thông báo, két luận miệng của lãnh đạo, căn cúa không chính xác hoặc
căn cứ vào văn bản đã hết hiệu lực thi hành.
Thứ hai: Tình trạng ban hành VBQPPL trái thẩm quyền về hình thức
do pháp luật quy định. Điều này xảy ra ở cả ba cấp: cấp tỉnh, cấp huyện
và cấp xã nhưng tập trung chủ yếu ở cấp xã.
Thứ ba: Trong hệ thống VBQPPL của UBND các cấp còn nhiều mâu
thuẫn, chồng chéo. Trong từng văn bản cũng như trong cả hệ thông văn
bản chưa có tính thống nhất cao, còn sai sót về thẩm quyền ban hành cũng
như hình thức văn bản. Trên thực tế, vẫn còn một số VBQPPL có sai sót
về thẩm quyền nội dung, chủ yếu trong lĩnh vực xử phạt vi phạm hành
chính, thuế, lệ phí...
Thứ tư: Việc quản lý, lưu trữ VBQPPL còn thiếu đồng bộ, chặt chẽ,
chưa đảm bảo tính khoa học,nhất là cac huyện, xã. Công tác hệ thống hóa
văn bản mới chỉ dừng lại ở cấp tỉnh. Công tác rà soát, hệ thống hóa văn
bản tuy được tiến hành theo định kì nhưng việc in ấn, xuất bản tập hệ
thống VBQPPL đang còn hiệu lực để áp dụng thống nhất chưa được thực
VBQPPL do UBND ban hành cũng nhằm tăng cường trậy tự kỉ cương
trong hoạt động xây dựng VBQPPL
_ Cơ quan ban hành VBQPPL phải tự kiểm tra các văn bản đã ban
hành và kiểm tra việc ban hành văn bản của cơ quan cấp dưới để kịp thời
xử lý văn bản trái pháp luật
_ Xây dựng một cơ chế kiểm tra phù hợp bao gồm các yêu tố thể chế
pháp luật, tổ chức nhân sự và các điều kiên đảm bảo khác.
Tài liệu tham khảo
1. Giáo trình xây dựng văn bản pháp luật
2. Giáo trình Lý luận về Nhà nước và pháp luật
3. Luật ban hành VBQPPL năm 2008
4. Luật ban hành VBQPPL của HĐND và UBND năm 2004
5. Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003
6. Khóa luận tốt nghiệp " hoạt động ban hành VBQPPL của
UBND thực trang và giải pháp" Nguyễn Thị Thúy Kiều-2009