Những vấn đề chung về địa vị pháp lý của người bị hại pháp luật tố tụng hình sư - Pdf 34

MỤC LỤC
MỤC LỤC.....................................................................................................
MỞ BÀI.........................................................................................................
NỘI DUNG....................................................................................................
I. Những vấn đề chung về địa vị pháp lý của người bị hại trong pháp
luật tố tụng hình sư......................................................................................
1.Khái niệm...................................................................................................
2. Cơ sở quy định về địa vị pháp lý của người bị hại trong pháp luật tô
tụng hình sư...................................................................................................
a.Cơ sở lý luận...............................................................................................
b.Cơ sở thưc tiễn...........................................................................................
II. Những quy định của Bộ Luật Tố tụng hình sư năm 2003 về địa vị
pháp lý của người bị hại...............................................................................
1.Quyền của người bị hại.............................................................................
1.1.Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu...............................................................
1.2.Được thông báo về kết quả điều tra........................................................
1.3.Đề nghị thay đổi người tiến hành tô tụng, người giám định, người
phiên dịch theo quy định của Bộ luật tô tụng hình sư 2003.......................
1.4. Đề nghị mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường.........
1.5.Tham gia phiên tòa, trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa.............
1.6. Khiếu nại quyết định, hành vi tô tụng của cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tô tụng, kháng cáo bản án, quyết định của tòa án về
phần bồi thường cũng như hình phạt đôi với bị cáo...................................
1.7. Trong trường hợp vụ án được khởi tô theo yêu cầu của người bị hại
tại Điều 105 BLTTHS 2003 thì người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của
họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa...........................................................
2. Nghĩa vụ của người bị hại.......................................................................
2.1.Phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát,
Tòa án............................................................................................................
2.2.Nghĩa vụ khai báo, cung cấp, những thông tin cần thiết góp cho việc
làm sáng tỏ sư thật của vụ án.......................................................................

MỞ BÀI
Địa vị pháp lý của người bị hại là tổng thể các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật
quy định cho người bị hại và đại diện hợp pháp của họ trong quá trình giải quyết
vụ án.
Quy định về địa vị pháp lý của người bị hại là một quy định tiến bộ.Quy định
này xuất phát từ việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người bị hại nói riêng
và quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng nói chung; nhằm thể hiện sư
cảm thông với những mất mát của người bị hại, hướng tới giải quyết nhanh chóng
vụ án hình sư, xét xử đúng người, đúng tội, đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa.

NỘI DUNG
I. Những vấn đề chung về địa vị pháp lý của người bị hại trong pháp luật tố
tụng hình sư.
1. Khái niệm.
Trên thế giới vấn đề người bị hại và nghiên cứu về người bị hại được nhiều nhà
khoa học quan tâm, tập trung nghiên cứu.
Pháp luật TTHS của các nước không có sư thống nhất trong việc sử dụng thuật
ngữ người bị hại. Chẳng hạn luật TTHS của Cộng hòa Pháp, Liên Bang Nga hay
Việt Nam dùng thuật ngữ người bị hại, trong khi luật TTHS Cộng hòa nhân dân
Trung Hoa thì dùng thuật ngữ người tố cáo. Ngoài ra người bị hại còn được gọi là
người bị thiệt hại, hay gọi là nạn nhân,...
Để có sư nhận thức đầy đủ và thống nhất về khái niệm người bị hại chúng ta tiếp
cận dưới những góc độ sau:
- Dưới góc độ ngôn ngữ : có thể hiểu, người bị hại là con người cụ thể trong xã
hội, chịu sư tác động tiêu cưc của sư việc,hành vi hoặc bất kỳ sư tác động nào khác
hẳn dẫn đến những thiệt thòi, mất mát hay tổn thương cho chính họ. Tất nhiên sư
tác động đó là trái với ý muốn của người bị hại và họ tiếp nhận một cách thụ
động.Thiệt hại gây ra cho người bị hại có thể là thiệt hại vật chất hoặc phi vật chất
và không cần phải giới hạn mức độ thiệt hại.



3


Từ định nghĩa trên có thể hiểu, địa vị pháp lý của người bị hại trong TTHS là
tổng thể những quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho họ trong quy trình
giải quyết vụ án.
2. Cơ sở quy định về địa vị pháp lý của người bị hại trong pháp luật tố tụng
hình sư
a. Cơ sở lý luận
Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản do hành vi
phạm tội gây ra, quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm hại nặng nề nhất. Vì vậy,
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng nói chung và
người bị hại nói riêng là một vấn đề đang được quan tâm.Đây cũng là một trong
những nội dung quan trọng trong định hướng cải cách tư pháp và hoàn thiện hệ
thống pháp luật TTHS ở nước ta hiện nay, trong đó quy định về địa vị pháp lý của
người bị hại là một trong những công cụ pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền và lợi
ích của người bị hại.
Ngoài ra xuất phát từ những nguyên tắc cơ bản của BLTTHS là nguyên tắc
“Bảo đảm pháp chế XHCN trong TTHS”(Điều 3 BLTTHS), nguyên tắc “Tôn trọng
và bảo vệ quyền cơ bản của công dân”(Điều 4 BLTTHS), nguyên tắc “Bảo hộ tính
mạng, sức khỏe,danh dư,nhân phẩm, tài sản của công dân(Điều 7 BLTTHS)...quy
định địa vị pháp lý của người bị hại cũng là sư cụ thể hóa các nguyên tắc trên.
Quy định quyền và nghĩa vụ của người bị hại còn xuất phát từ quan hệ giữa
người bị hại với những người có quyền, lợi ích liên quan đến vụ án, mối quan hệ
giữa người bị hại và người phạm tội.
b. Cơ sở thưc tiễn
Người bị hại là người biết được các tình tiết của vụ án nên họ cũng phải có nghĩa
vụ trong việc giúp các cơ quan tiến hành tố tụng tìm ra sư thật khách quan của vụ
án.

vi phạm tội, chứng minh những thiệt hại mà họ gánh chịu do hành vi phạm tội gây
ra.
Người bị hại có thể đưa ra những yêu cầu trong các giai đoạn tố tụng khác nhau
như: yêu cầu cơ quan điều tra thu thập thêm chứng cứ để định tội, yêu cầu triệu tập
thêm người làm chứng, yêu cầu giám định hoặc giám định lại nếu có căn cứ cho
rằng kết quả giám định trước đó không đúng sư thật,...Người bị hại phải xác định
tính hợp lý và quan trọng là nhằm mục đích trừng trị người phạm tội, góp phần giải
quyết nhanh chóng và chính xác vụ án, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của
5


mình để đưa ra những đồ vật, tài liệu, yêu cầu của người bị hại. Sư đảm bảo này
được luật hóa tại Điều 122 BLTTHS 2003: “Khi người tham gia tố tụng có yêu
cầu về những vấn đề có liên quan đến vụ án thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát
trong phạm vi trách nhiệm của mình, giải quyết yêu cầu của họ và báo cho họ biết
kết quả.Trong trường hợp không chấp nhận yêu cầu thì Cơ quan điều tra hoặc
Viện kiểm sát phải trả lời và nêu rõ lý do”. Pháp luật quy định người bị hại phải
đưa ra tất cả các đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án mà người bị hại biết. Sở dĩ
pháp luật quy định như vậy vì nhằm đảm bảo nguyên tắc xác ddinhjj sư thật của vụ
án trong TTHS, góp phần nhanh chóng giải quyết vụ án, bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của người bị hại, thưc hiện nhiệm vụ bảo vệ pháp chế XHCN. Người bị hại là
người bị tội phạm trưc tiếp xâm hại, bị thiệt hại về thể chất, tinh thần là người nắm
khá chi tiết về tình tiết liên quan đến vụ án (trừ trường hợp các tội trộm cắp tài
sản...); về đối tượng, địa điểm của việc phạm tội.
1.2.Được thông báo về kết quả điều tra
Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần do hành vi phạm tội trưc
tiếp xâm hại, là người chịu hết thiệt hại trong vụ án hình sư. Do vậy, pháp luật quy
định người bị hại được thông báo về kết quả điều tra vụ án.
Người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của họ được thông báo về kết quả điều tra
vụ án để họ biết được những vấn đề thuộc nội dung vụ án. “Trên cơ sở đó để

Thứ hai, những người này đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm
chúng, người giám định, người phiên dịch trong vụ án đó.
Thứ ba, có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm
nhiệm vụ. Khi nhận thấy người tiến hành tố tụng thuộc một trong ba trường hợp
nêu trên thì người bị hại có quyền đề nghị thay đổi họ. Quyền này còn được ghi
nhận tại khoản 2 Điều 43 BLTTHS 2003 quy định về những người có quyền đề
nghị thay đổi người tiến hành tố tụng: “Bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn
dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ”.
Đối với thay đổi Điều tra viên thì sẽ do Thủ trưởng cơ quan điều tra quyết định,
nếu Điều tra viên là Thủ trưởng Cơ quan điều tra thì do Cơ quan điều tra cấp trên
trưc tiếp tiến hành (khoản 2 Điều 44 BLTTHS2003), thay đổi Kiểm sát viên trước
khi mở phiên tòa do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định, nếu Kiểm sát
viên là Viện trưởng Viện kiểm sát thì do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trưc
tiếp quyết định; thay đổi Kiểm sát viên tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử ra quyết
định hoãn phiên tòa; thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm trước khi mở phiên tòa do
Chánh án Tòa án quyết định, nếu Thẩm phán bị thay đổi là Chánh án thì do Chánh
án tòa án cấp trên trưc tiếp quyết định; Việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm tại
7


phiên tòa do Hội đồng xét xử ra quyết định bằng cách biểu quyết theo đa số, trong
trường hợp phải thay đổi tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên
tòa; thay đổi Thư ký tòa án trước khi mở phiên tòa do Chánh án tòa án quyết định,
thay đổi tại phiên tòa do Hội đồng xét xử quyết định, trường hợp phải thay đổi tại
phiên tòa thì hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa.
Đối với người giám định, người phiên dịch khi mà nhận thấy thuộc trường hợp
một và ba ở trên thì người bị hại có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tahy đổi
họ. Quyền này được luật hóa trong điểm a khoản 4 Điều 60 và điểm a khoản 3
Điều 61 BLTTHS 2003. Đối với người giám định thì việc thay đổi do cơ quan
trưng cầu quyết định, người phiên dịch do cơ quan yêu cầu quyết định.

phạm tội bao giờ cũng gồm cả thiệt hại về tài sản và vật chất do phát sinh từ thiệt
hại về thể chất và tinh thần do người phạm tội gây ra.
Trong trường hợp người bị hại chết thì người đại diện hợp pháp thưc hiện quyền
và nghĩa vụ của người bị hại. Người đại diện thay mặt người bị hại thưc hiện đầy
đủ quyền và nghĩa vụ.
1.5.Tham gia phiên tòa, trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa
Phiên tòa chính là nơi kiểm tra công khai các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để
làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án và các phán quyết đối với bị cáo. Tại phiên tòa,
Viện kiểm sát, người bị hại và người tham gia tố tụng khác có quyền đưa ra những
chứng cứ, tài liệu, đồ vật, luận điểm liên quan đến vụ án và tranh luận; hội đồng
xét xử có trách nhiệm xem xét các chứng cứ, xét hỏi và điều khiển việc tranh luận
giữa các bên.
Để đảm bảo và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thưc hiện quyền tham gia phiên
tòa và tranh luận tại phiên tòa của người bị hại, pháp luật TTHS quy định về vị trí
bình đẳng của người bị hại tại phiên tòa tại Điều 19 “Người bị hại có quyền bình
đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận
dân chủ trước tòa án. Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực hiện các
quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án”.
Thủ tục bắt đầu phiên tòa: chủ yếu là những điều kiện cần thiết cho hoạt động
tranh tụng ở các thủ tục xét hỏi và tranh luận tiếp theo. Trong giai đoạn này người
bị hại có quyền đề nghị hội đồng xét xử thay đổi thẩm phán, hội thẩm, thư ký,
người giám định, người phiên dịch nếu có căn cứ cho rằng họ không vô tư, khách
quan trong quá trình giải quyết vụ án là không nằm ngoài mục đích đảm bảo cho
hoạt động buộc tội của mình ở thủ tục xét hỏi và tranh luận tiếp theo đạt hiệu quả.

9


Thủ tục xét hỏi: Người bị hại tại phiên tòa hình sư sơ thẩm là đưa ra tài liệu, đồ
vật, yêu cầu, đề nghị mức bồi thường và quy định về quyền của người bị hại tại



thẩm quyền tiến hành tố tụng có những điểm bất hợp lý, vi phạm pháp luật thì họ
có quyền khiếu nại những quyết định, hành vi tố tụng đó. Người bị hại có thể tiến
hành khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng theo trình tư, thủ tục quy định tại chương XXXV của BLTTHS năm
2003 quy định khiếu nại, tố cáo trong TTHS.
Thời hiệu khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng mà người bị hại cho là
có vi phạm là 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc biết được quyết định, hành vi tố tụng
đó. Trong một số trường hợp do trở ngại khách quan mà người bị hại không thưc
hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu thì thời gian có trở ngại đó không
được tính vào thời hiệu khiếu nại. Ngoài ra để đảm bảo cho việc giải quyết quyền
khiếu nại của người bị hại nói riêng và các chủ thể khác nói chung BLTTHS 2003
quy định tại Điều 31 “Cơ quan có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét và giải
quyết kịp thời, đúng pháp luật các khiếu nại, tố cáo, thông báo văn bản kết quả
giải quyết cho người khiếu nại, tố cáo biết và có biện pháp khắc phục”
Pháp luật TTHS quy định cho người bị hại có quyền khiếu nại các quyết định,
hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nhằm bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại.
* Phần kháng cáo: Phạm vi thưc hiện quyền kháng cáo của người bị hại được
quy định rõ ràng tại điểm e khoản 2 Điều 51 BLTTHS “Người bị hại có quyền
kháng cáo bản án, quyết định của tòa án về phần bồi thường cũng như phần hình
phạt đối với bị cáo”.
Khi tội phạm xảy ra, quan hệ pháp luật hình sư xuất hiện là quan hệ giữa nhà
nước và chủ thể của tội phạm, còn mối quan hệ giữa bị can, bị cáo và người bị hại
chỉ là quan hệ dân sư trong việc bồi thường những thiệt hại do hành vi trái pháp
luật gây ra. Mặc dù vậy, do người bị hại là nạn nhân của hành vi phạm tội, những
thiệt hại mà người bị hại phải gánh chịu không chỉ là thiệt hại về vật chất mà còn là
những tổn thất khác về tinh thần, không chỉ bồi thường thiệt hại vật chất là giải
quyết được. Vì vậy, “ngoài quyền kháng cáo về mức bồi thường, pháp luật còn

cưỡng bức thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ
án. Còn trong trường hợp có căn cứ để xác định người đã yêu cầu khởi tố rút đơn
yêu cầu khởi tố trái ý muốn do bị ép buộc, cưỡng bức thì cơ quan tiến hành tố tụng
tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án. Đây chính là điều kiện để người bị hại
được yêu cầu lại.
2. Nghĩa vụ của người bị hại

12


2.1.Phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa
án.
Người bị hại phải có mặt khi cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập để thưc hiện
các quyền và nghĩa vụ của mình tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết vụ án.
Đây là quyền và nghĩa vụ của người bị hại. Việc có mặt theo giấy triệu tập của
cơ quan tiến hành tố tụng sẽ đảm bảo người bị hại luôn theo sát vụ án, nắm rõ tình
hình của vụ án, bảo đảm tốt cho quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại. Người
bị hại có vai trò hất sức quan trọng trong việc điều tra, truy tố, xét xử, bởi họ là
người bị tội phạm trưc tiếp xâm hại nên sư có mặt của họ theo giấy triệu tập của cơ
quan tiến hành tố tụng là vô cùng quan trọng. Trong trường hợp người bị hại hợp
tác với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án thì việc xử lý vụ án được tiến hành
thuận lợi, ngược lại nếu vì lý do nào đó mà người bị hại không hợp tác với cơ aun
tiến hành tố tụng thì việc xử lý vụ án gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí là bế tắc dẫn
đến việc bỏ lọt tội phạm.
Nghĩa vụ này của người bị hại còn được BLTTHS 2003 quy định tại Điều 115
về trách nhiệm thưc hiện quyết định và yêu cầu của Cơ quan điều tra, Viện kiểm
sát: “Những quyết định, yêu cầu của Cơ quan điều tra,Viện kiểm sát trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự phải được cơ quan, tổ chức và công dân nghiêm chỉnh
chấp hành”. Như vậy, Luật quy định rõ là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong
giai đoạn điều tra mà yêu cầu người bị hại nói riêng và công dân nói ching thì mọi

họ là người trưc tiếp bị tội phạm xâm hại nên lời khai và sư có mặt của họ khi cơ
quan tiến hành tố tụng yêu cầu là vô cùng quan trọng. Trong trường hợp người bị
hại hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng thì việc giải quyết vụ án được tiến hành
thuận lợi; ngược lại nếu vì lý do nào đó mà người bị hại không chịu khai báo, đưa
ra các tài liệu, đồ vật liên quanđến vụ án thì việc xử lý vụ án sẽ gặp rất nhiều khó
khăn, thậm chí là bế tắc, dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm.
Người bị hại có nghĩa vụ khai báo cung cấp những thông tin cần thiết giúp cho
việc làm sáng tỏ sư thật của vụ án. Việc giải quyết đúng đắn vụ án không chỉ nhằm
bảo vệ lợi ích của Nhà nước mà còn bảo vệ lợi ích của người bị hại nên người bị
hại thường chủ động, tích cưc trong việc khai báo. Việc họ từ chối khai báo mà
không có lý do chính đáng là việc không bình thường. Tâm lý của người bị hại là
nhằm trừng trị những ke phạm tội, giải quyết nhanh chóng, chính xác vụ án, nhưng
việc họ từ chối khai báo là mâu thuẫn với tâm lý của nạn nhân. Hành vi gây khó
khăn cho việc giải quyết vụ án, có thể bị coi là tội phạm và pahir chịu trách nhiệm
hình sư theo Điều 308 Bộ luật Hình sư.
Theo quy định của điều luật thì chúng ta có thể hiểu là: người bị hại là người bị
tội phạm trưc tiếp xâm hại, là đối tượng được luật bảo vệ. Do đó, họ không bị xem
14


xét truy cứu trách nhiệm hình sư khi khai báo gian dối, mà chỉ đặt ra vấn đề chịu
trách nhiệm hình sư trong trường hợp từ chối khai báo mà thôi.

KẾT LUẬN
Người bị hại giữ vai trò quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sư.
Nguồn tin do người bị hại cung cấp sẽ giúp ích hữu hiệu cho các cơ quan tiến hành
tố tụng. Sư tham gia của họ không những bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bản
thân họ mà còn góp phần giải quyết vụ án nhanh chóng, thuận lợi, đúng người,
đúng tội, đúng pháp luật. Pháp luật TTHS đã có những quy định mở rộng quyền
của người bị hại phù hợp với quá trình cải cách tư pháp hiện nay. Những quy định


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status