một số vấn đề về người không được hưởng quyền si sản theo quy định tại khoản 1điều 643 Bộ luật dân sự - Pdf 34

LỜI MỞ ĐẦU
Chế định về quyền thừa kế là một trong những chế định quan trọng của bộ luật
dân sự Việt Nam 2005 nói riêng và luật dân sự Việt Nam nói chung. Đặc biệt, trong
giai đoạn hiện nay, những vấn đề tranh chấp về thừa kế xảy ra ngày càng nhiều, đòi
hỏi sự phát triển sâu và rộng của chế định về quyền thừa kế. Việc nghiên cứu về
quyền thừa kế có ý nghĩa quan trọng đối với cả lý luận lẫn thực tiễn. Đặc biệt, là để
giải quyết các vấn đề tranh chấp về thừa kế, cần xác định được đâu là đối tượng có
quyền hưởng thừa kế, đâu là đối tượng không được quyền hưởng thừa kế. Để hiểu
rõ hơn về vấn đề thừa kế nói chung, và vấn đề đối tượng được hưởng hay không
được hưởng quyền thừa kế nói riêng, bài làm sau đây em xin trình bày một số vấn
đề về người không được hưởng quyền si sản theo quy định tại khoản 1điều 643 Bộ
luật dân sự
NỘI DUNG
I. Lý luận chung về thừa kế
1.

Khái niệm thừa kế, quyền thừa kế

Thừa kế có thể hiểu là việc dịch chuyển tài sản của người chết cho người còn
sống theo di chúc hoặc theo những quy định của pháp luật.
Dẫn đến, quyền thừa kế nếu hiểu theo nghĩa chủ quan là quyền của người để lại
di sản và quyền của người nhận di sản. Tuy nhiên, với nghĩa rộng thì quyền thừa kế
là một chế định pháp luật, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điểu chỉnh
mối quan hệ về việc dịch chuyển tài sản từ người chết cho những người còn sống
khác theo ý chí của họ, được thể hiện trong di chúc hoặc theo ý chí của nhà nước
được thể hiện trong di chúc hoặc theo ý chí của nhà nước được thể hiện thông qua
các quy định của pháp luật.
2.

Di sản


nhân, huyết thống, nuôi dưỡng với người đã chết. Người thừa kế là cá nhân phải
còn sống vào thời điểm mở thừa kế; người đã thành thai vào thời điểm mở thừa kế
và sinh ra mà còn sống. Người thừa kế là pháp nhân, tổ chức thì phải còn tồn tại vào
thời điểm mở thừa kế.
II.

Người không được hưởng quyền si sản theo quy định tại khoản 1 Điều

643 Bộ luật dân sự 2005
Người không được quyền hưởng di sản là người không xứng đáng được thừa kế
vì đã có những hành vi phạm tội, hành vi trái đạo đức xã hội đối với người để lại di
sản, người thừa kế khác hoặc trong việc thừa kế.

~2~


a. Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi
ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh
dự, nhân phẩm của người đó (điểm a khoản 1 điều 643)
Điều kiện chính được đặt ra trong trường hợp này đó là phải có một bản án có
hiệu lực của pháp luật. Vì vậy, người không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc
không bị kết án thì sẽ không bị ràng buộc bởi điều này. Mặt khác, nếu một người đã
bị kết án, sau đó được xóa án tích thì vẫn không được quyền hưởng di sản theo quy
định tại điều này.
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người để
lại di sản: người có hành vi cố ý giết người để lại di sản và đã bị kết án về hành vi
đó thì không có quyền thừa kế di sản của người để lại di sản. Điều cần lưu ý ở đây
đó là hành vi này phải là cố ý hòng tước đoạt sinh mạng của người để lại di sản, và
hành vi này phải là hành vi trái pháp luật. Điều đó khẳng định rằng, nếu hành vi
tước đoạt tính mạng của người để lại di sản là hành vi không trái pháp luật (người

nuôi dưỡng.
Người thừa kế phải có nghĩa vụ nuôi dưỡng và cấp dưỡng đối với người để lại
di sản trong những trường hợp sau:
- Người để lại di sản là cha mẹ hoặc con của người đó
Nghĩa vụ nuôi dưỡng giữa cha mẹ con là một trong những đạo đức của người
Việt Nam, không chỉ vậy, nghĩa vụ nuôi dưỡng giữa cha mẹ con còn được pháp luật
quy định và cụ thể hóa trong Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 (sau đây gọi là Luật
Hôn nhân và Gia đình) (điều 36) và có chế tài nghiêm khắc nếu vi phạm được quy
định tại điều 151 BLHS 1999
Điều 36: Nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng
1. Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa
thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không
có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
2. Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ
ốm đau, già yếu, tàn tật; trong trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải
cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ
~4~


Theo quy định tại điều khoản này thì cha mẹ có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng
con trong hai trường hợp:
+ Con chưa thành niên
+ Con đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có
khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình
Con có quyền lập di chúc để lại thừa kế trong ba trường hợp:
+ Con đã thành niên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự
+ Con chưa thành niên trên mười lăm tuổi, có tài sản riêng
+ Con đã thành niên nhưng bị tàn tật, tuy nhiên không mất năng lực hành vi dân
sự
Có thể thấy, trong ba trường hợp này, cha mẹ chỉ có nghĩa vụ nuôi dưỡng con

có nghĩa vụ phải phụng dưỡng ông bà.
Bởi vậy nếu người thừa kế và người để lại di chúc thuộc một trong hai trường
hợp này mà người thừa kế lại không thực hiện nghĩa vụ chăm sóc nuôi dưỡng người
để lại di sản thì người thừa kế cũng không được hưởng di sản thừa kế theo quy định
của điều luật này.
Trong điều khoản này có quy định rằng người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi
dưỡng với người để lại di sản thì không được quyền hưởng di sản. Vậy như thế nào là
nghiêm trọng và căn cứ vào đâu để xác định mức độ nghiêm trọng? Thực chất, tính
chất nghiêm trọng này hoàn toàn phụ thuộc vào quyết định của thẩm phán. Vi phạm
nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng ở đây được hiểu là, có khả năng thực hiện nghĩa vụ
nuôi dưỡng mà không thực hiện làm cho người cần được nuôi dưỡng lâm vào tình
trạng khổ sở hoặc nguy hiểm tới tính mạng.
Tuy nhiên, điều khoản này được cho là mang nhiều tính chất đạo đức, bởi lẽ,
nếu một người đã không có khả năng tự nuôi bản thân, phụ thuộc hoàn toàn vào sự
nuôi dưỡng của người khác, và nếu thiếu sự nuôi dưỡng đó họ sẽ lâm vào tình trạng
khổ sở hoặc nguy hiểm tới tính mạng thì không thể có tài sản để để lại thừa kế.
c. Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác
nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền
hưởng (điểm c khoản 1 điều 643)

~6~


Người thừa kế do mưu đồ muốn chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ di sản thừa
kế mà người thừa kế khác có quyền được hưởng nên đã có hành vi cố ý xâm phạm
tính mạng người thừa kế khác (giết người thừa kế khác). Người thừa kế khác ở đây
có thể hiểu theo hai hướng:
- Thứ nhất, người thừa kế cùng hàng
- Thứ hai, người thừa kế không cùng hàng – trong trường hợp này buộc phải là
người thừa kế hàng phía trên. Vì không có lý do gì giết người ở hàng thừa kế phía

của họ chứ không phải là kẻ giết người.
Ví dụ: A và B kết hôn hợp pháp có con chung là C, D, E. C có vợ là M. A chết
không để lại di chúc. Sau khi A chết, D giết C. Nhưng thực tế, thời điểm mở thừa kế
là thời điểm người có tài sản chết. Tại thời điểm đó, phần di sản của C được hưởng
đã được gộp vào phần tài sản riêng của C. Và người thừa kế của C sau khi C chết là
M và B chứ không phải D. Bởi vậy, trong trường hợp này không thể xem hành vi
giết người thừa kế cùng hàng của D là nhằm chiếm đoạt một phần di sản của A
được.
Trường hợp khác, giả sử, kẻ giết người cũng là một người có quyền hưởng thừa
kế của người bị giết, thì các quy tắc thiết lập tại điểm a khoản 1 điều 643 sẽ được áp
dụng.
Ví dụ: A và B kết hôn hợp pháp, có ba người con chung là C, D, E. Tháng
7/2010 A chết. Tháng 8/2010, C giết B. Trong trường hợp này có thể thấy, C là
người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của B. Nhưng C đã có hành vi giết B, nên theo
điểm a khoản 1 điều 643, C sẽ không được quyền hưởng di sản của B. Tuy nhiên, C
hoàn toàn không ở tình trạng không có quyền hưởng di sản của A.
Người thừa kế thực hiện hành vi xâm phạm tính mạng của người thừa kế khác
với mong muốn làm tăng phần thừa kế mình được hưởng một cách trực tiếp trong di
sản của người mà họ và người có tính mạng bị xâm hại được hưởng chung. Sự
mong muốn ấy phải có cơ sở trên thực tế.
Nếu như trường hợp như ví dụ sau đây thì có thể xem là mục đích làm tăng
thêm phần của mình được hưởng là không có căn cứ:
Ví dụ: A và B kết hôn hợp pháp, có ba người con chung là anh C, anh D và chị
E. Anh C kết hôn hợp pháp với chị M và có con chung là cháu K và cháu H. Tháng
~8~


5/2009 ông A chết mà không để lại di chúc. Trong trường hợp này, di sản của ông
sẽ được chia đều cho bốn người thuộc hàng thừa kế thứ nhất đó là bà B (vợ ông A)
và ba người con: anh C, anh D và chị E. Trong trường hợp này, giả sử trước khi ông

Tòa tuyên C không được quyền hưởng di sản. Nghiễm nhiên, sau sự kiện này, D
được hưởng toàn bộ di sản của ông A (do là người thừa kế duy nhất có quyền
hưởng di sản), hưởng toàn bộ di sản của bà B (do là người thừa kế duy nhất có
quyền hưởng di sản).
Qua tình huống nêu trên có thể thấy, không thể loại trừ khả năng người cung
cấp chứng cứ thúc đẩy vụ án chỉ vì lợi ích vật chất đó. Nếu có đủ bằng chứng về
động cơ hành động của người tố giác hoặc khởi kiện thì việc đó có nên hay không
áp dụng điều 643 đối với người bị tố giác và khởi kiện. Đây có thể xem là một vấn
đề vẫn còn vướng mắc và cần được chú ý thêm qua 20 năm áp dụng quy định về
người không được quyền hưởng di sản.
d. Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong
việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một
phần hặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản (điểm d khoản 1 điều
643)
Di chúc thể hiện ý chí của người có tài sản lập ra, định đoạt phần tài sản đó của
mình cho những người thừa kế sau khi người lập di chúc chết đi. Di chúc là một
giao dịch đơn vụ, có nghĩa là giao dịch dân sự chỉ thể hiện ý chí của một bên – đó là
người lập di chúc. Ý chí của người lập di chúc là hoàn toàn tự do, tự nguyện, tự
định đoạt tài sản của mình cho người đã được chỉ định. Pháp luật cũng quy định về
điều kiện để lập di chúc (điều 647 BLDS 2005), theo đó, người lập di chúc phải đủ
điều kiện về độ tuổi lập di chúc và điều kiện để di chúc hợp pháp (điều 652 BLDS
2005), theo đó người lập di chúc phải trong tình trạng minh mẫn, sáng suốt, hoàn
toàn làm chủ được suy nghĩ và hành vi của bản thân, không bị ràng buộc bởi bất cứ
tác nhân nào. Người lập di chúc hiểu được mình muốn định đoạt tài sản như thế
nào.
Quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của cá nhân chính là quyền định đoạt tài
sản của chủ sở hữu khi còn sống. Hành vi cản trở đối với người lập di chúc là hành

~ 10 ~


~ 11 ~


643 BLDS nhưng vẫn thể hiện ý chí cho người này hưởng di sản thì người này cũng
vẫn được hưởng di sản thừa kế tuy nhiên chỉ được hưởng di sản theo di chúc. Nếu
một phần di sản không phát sinh hiệu lực hay người để lại di sản không định đoạt
hết phần tài sản của mình, người thừa kế đã nêu trên không có quyền hưởng di sản
thừa kế theo pháp luật.
Như vậy có thể thấy pháp luật luôn có những quy định tôn trọng quyền tự định
đoạt tài sản theo ý chí chủ quan của người để lại di sản, tuy biết được hành vi của
người mà nếu theo quy định của pháp luật là bất xứng nhưng vẫn thể hiện ý chí cho
họ hưởng di sản thì họ được hưởng di sản theo di chúc. Theo quy định này, pháp
luật thừa kế Việt Nam hiện hành đã thể hiện rõ bản chất nhân đạo và phù hợp với
quan niệm trong nhân dân ta là tha thứ cho những hành vi theo quy định của pháp
luật là phạm pháp nhưng trên phương diện của quan hệ xã hội thông thường, người
có hành vi vi phạm pháp luật này vẫn được những người thân thích tha thứ.
III. Một số nhận xét cùng những ý kiến đề xuất nhằm làm hoàn thiện quy
định về những người thừa kế không có quyền hưởng di sản theo pháp luật.


Thứ nhất, trong điều 643 Bộ luật dân sự 2005 đã quy định người không

được quyền hưởng di sản, bao gồm cả người thừa kế theo luật và cả người thừa kế
theo di chúc. Đó là những người đáng lẽ được hưởng di sản vì theo quy định của
pháp luật thì họ là người thừa kế của người để lại di sản hoặc đã được lập di chúc
cho họ hưởng nhưng những người này lại có hành vi trái pháp luật, trái đạo đức nên
bị pháp luật tước đi quyền hưởng di sản theo luật cũng như theo di chúc. Tuy nhiên
tính trái pháp luật và đạo đức trong hành vi của người thừa kế phải được cơ quan
nhà nước có thẩm quyền xác định bằng một bản án hoặc bằng một quyết định. Mặt
khác, một bản án chỉ được thi hành khi đã có hiệu lực pháp luật bởi nó có thể bị sai



Thứ ba, những người không có quyền hưởng thừa kế theo pháp luật của

người để lại di sản, là những người bị kết án về một trong các hành vi theo quy định
tại Khoản 1 Điều 643 BLDS 2005 thì họ không có tên trong hàng thừa kế được
hưởng di sản. Như vậy, khi xác định suất thừa kế theo pháp luật để tính kỷ phần cho
những người được thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo quy định tại
điều 669 BLDS 2005 thì họ sẽ không là tham số trong số chia để nhân suất, vì họ
không có quyền hưởng di sản theo pháp luật.


Thứ tư, trong thực tiễn có nhiều trường hợp con, cháu vi phạm nghĩa vụ

đạo lý với cha, mẹ, ông, bà. Vì vậy cần phải hạn chế quyền lợi của những người có

~ 13 ~


hành vi vi phạm đó. Những người này cần phải bị pháp luật tước quyền thừa kế di
sản.


Thứ năm, tuy những quy định tại điều 643 BLDS là hoàn toàn phù hợp với

đạo lý, phong tục, tập quán của nhân dân ta nhưng trong điều luật trên còn có những
nội dung chưa rõ ràng có thể dẫn đến việc áp dụng giải quyết tranh chấp về thừa kế
không thống nhất giữa các toà án. Ví dụ như điểm b Khoản 1 điều 643 BLDS quy
định người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản thì không
có quyền hưởng di sản. Vậy những người thừa kế nào có nghĩa vụ nuôi dưỡng

 Thứ bảy, theo quy định của pháp luật thì trong trường hợp người không được
hưởng quyền thừa kế chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản thì sẽ
không phát sinh thừa kế thế vị với con của người này. Bởi lẽ, vốn dĩ, ngưới không
được hưởng quyền thừa kế sẽ không được nhận bất cứ phần di sản nào để có thế vị.
Tuy nhiên, xét trên cả lý luận và thực tiễn thì: không có quyền hưởng di sản là một
chế tài áp dụng đối với riêng người có lỗi. Nên chăng cần xem xét người được thế
vị có hay không được hưởng thừa kế thế vị trong trường hợp cha hoặc mẹ của họ là
những người không được quyền hưởng di sản?
KẾT THÚC
Có thể nói, vấn đề về thừa kế trong pháp luật Việt Nam hiện này đang ngày
càng được hoàn thiện với nhiều những điểm mới tiến bộ nhằm răn đe đồng thời
cũng để nâng cao đạo đức của người thừa kế với những điều kiện để được hưởng
quyền nhận di sản đồng thời làm triệu tiêu quyền của những người thừa kế đã vi
phạm pháp luật liên quan đến thừa kế di sản. Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn còn
những điểm chưa hợp lý, những vấn đề pháp luật chưa đề cập tới, hoặc có đề cập
nhưng chưa cụ thể dẫn tới sự khó khăn trong việc áp dụng pháp luật cũng như áp
dụng pháp luật mang tính chủ quan của thẩm phán, thiết nghĩ, cần có sự sửa đổi bổ
sung nhằm hoàn thiện pháp luật dân sự nói chung và pháp luật về thừa kế nói riêng.

~ 15 ~


MỤC LỤC
Mục
LỜI MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
I.
Lý luận chung về thừa kế
1. Khái niệm thừa kế, quyền thừa kế
2. Di sản

1
1
2
2
2
3

4
6

10

11
12

15


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, tập 1,

Nxb. Công an nhân dân, 2006
2.

Ts. Lê Đình Nghị (Chủ biên), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, tập 1,

Nxb. Giáo dục Việt Nam, 2009
2.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status