CÁC NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN - Pdf 34

I. PHẦN MỞ ĐẦU:
Tòa án nhân dân là một trong bốn hệ thống các cơ quan nhà nước hợp thành
trong tổ chức bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, và để thực
hiện chức năng xét xử của nhà nước. Là cơ quan trong hệ thống tư pháp, Tòa án có
những đặc thù so với các cơ quan khác trong hệ thống này, là người đại diện của quyền
lực tư pháp, khác với cơ quan lập pháp và hành pháp ở chỗ không giải quyết các vấn
đề ở tầm vĩ mô, không hoạch định chính sách kinh tế - xã hội mà có chức năng giải
quyết các vấn đề rất cụ thể, từng tình huống, từng sự kiện cụ thể trong đời sống xã hội.
Vì vậy, cách thức tổ chức và hoạt động của tòa án cần dựa trên những nguyên tắc cụ
thể, đặc biệt là trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, khi vị trí và vai trò của
toà án lại càng được khẳng định. Vì toà án chính là cơ quan thực thi quyền tư pháp
trong bộ máy nhà nước và việc thực thi quyền này lại ảnh hưởng trực tiếp tới mục tiêu
và các giá trị của công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam.
II. CÁC NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
1. Nguyên tắc bổ nhiệm thẩm phán và bầu hội thẩm nhân dân.
Hiện nay, theo quy định của Hiến pháp năm 1992 đã được sửa đổi bổ sung năm
2001 và Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2002 thì Chánh án tòa án nhân dân tối cao
do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch nước; Phó chánh án
và Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán Tòa án
quân sự trung ương do Chủ tịch nước bầu nhiêm, miễn nhiệm, cách chức; Thẩm phán
của các Tòa án nhân dân địa phương, Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Tòa
án quân sự khu vực do Chánh án tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách
chức theo đề nghị của các Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán; Chánh án, Phó Chánh án
các Tòa án nhân dân địa phương do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn
nhiệm; Chánh án, phó chánh án tòa án quân sự quân khu và tương đương, tòa án quân
sự khu vực do Chánh án, Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức
sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Hiến pháp 1992 ra đời đã thay thế
chế độ bầu thẩm phán ở các tòa án địa phương bằng chế độ bổ nhiệm, từ đó tạo điều


kiện tốt hơn cho tòa án xét xử độc lập, khách quan và đề cao phẩm chất nghề nghiệp

nhân dân có Hội thẩm nhân dân tham gia còn được quy định trong Luật tổ chức toà án
nhân dân năm 2002. Điều này thể hiện bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Vì hội đồng nhân dân đều
là những người lao động sống và làm việc gần gũi với nhân dân, họ thay mặt nhân dân
để tham gia vào hoạt động xét xử của tòa án, từ đó đảm bảo cho tòa án hoạt động đúng
đắn với đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước, phù hợp với nhu cầu và nguyện
vọng của nhân dân và thực tế đời sống xã hội. Nhân dân không chỉ giám sát mà còn
trực tiếp tham gia vào các hoạt động của toà án, đó cũng chính là quyền tham gia quản
lí nhà nước với nhiều hình thức khác nhau của công dân. Vì vậy trong quá trình xét xử,
các thành viên trong hội đồng xét xử đều có quyền đưa ra thảo luận tất cả các vấn đề
quan trọng cần giải quyết tại phiên tòa, có quyền xét hỏi, nghị án, định tội, lượng hình,
quyết định quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự. Mọi quyết định của tòa án đều là
những ý kiến đã được thảo luận và biểu quyết theo đa số.
Khi xét xử, Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán, tức là khi xét xử bất
kỳ vụ án nào, về hình sự, dân sự, kinh tế,…thuộc thẩm quyền của tòa án mà có Hội
thẩm tham gia thì Hội thẩm và Thẩm phán có quyền như nhau trong việc giải quyết tất
cả các vấn đề của vụ án, như: quyền kiểm tra, đánh giá các chứng cứ, quyền biểu quyết
khi ra các bản án, quyết định của Tòa án…, không phân biệt là vấn đề về mặt tố tụng
hay nội dung. Tuy nhiên, trên thực tế việc tham gia của Hội thẩm vào hoạt động xét xử
của Tòa án còn có một số hạn chế đặc biệt là về trình độ chuyên môn hay vai trò của
Hội thẩm trong quá trình nghị án…
3. Nguyên tắc khi xét xử thẩm phán, hội thẩm nhân dân độc lập, chỉ tuân theo pháp
luật.
Đây là nguyên tắc quan trọng trong hoạt động xét xử của toà án nhân dân ở Việt
Nam và cũng là một trong số các nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng hình sự được
quy định tại Điều 17 – Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 5 – Luật tổ chức tòa án nhân
dân 2002. Nguyên tắc này có nghĩa là trong khi xét xử, tòa án có trách nhiệm áp dụng


đúng đắn pháp luật, chỉ căn cứ vào pháp luật để xét xử; các cá nhân các cơ quan nhà

thẩm hoặc tái thẩm không lệ thuộc vào chứng cứ, kết luận và quyết định của tòa án đã
xét xử sơ thẩm mà phải tự mình xác định chứng cứ, quy phạm pháp luật cần được áp
dụng để có quyết định cụ thể.
Để tuân thủ nguyên tắc này, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân luôn luôn phải đề
cao ý thức cá nhân và tinh thần tự giác với tư cách là người nhân danh cho nhà nước,
kiên quyết bảo vệ pháp luật để thực hiện chức năng xét xử nhằm bảo vệ lợi ích của nhà
nước, tập thể và công dân
4. Nguyên tắc tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số.
Trước đây tại Sắc lệnh số 13 ngày 14/1/1946 của Chủ tịch nước về cách tổ chức
các Tòa án và các ngạch Thẩm phán trong nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã từng
quy định: “Những vấn đề bàn trong phòng nghị xử giải quyết theo đa số. Một người
không biểu quyết sẽ coi như là có ý kiến lợi cho bị can” (Mục C – điều thứ 32). Như
vậy nguyên tắc tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số đã được ghi nhận từ
những văn bản pháp lý thời kì khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Và giờ
đã được quy định tại điều 131 Hiến pháp năm 1992 cụ thể hóa tại Điều 6 Luật tổ chức
Tòa án nhân dân 2002.
Xét xử là hoạt động đặc thù do tòa án nhân dân thực hiện nhằm hoàn thành các
chức năng của mình. Khi xét xử tất cả các vụ án, ở tất cả các trình tự tố tụng đều phải
thành lập hội đồng xét xử. Toà án xét xử tập thể có nghĩa là việc xét xử bất cứ một vụ
án nào, theo trình tự nào cũng do một Hội đồng thực hiện. Các văn bản pháp luật về tố
tụng đã quy định cụ thể thành phần của Hội đồng xét xử ở từng cấp xét xử:
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân. Trong
trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì hội đồng xét xử gồm hai thẩm
phán và ba hội thẩm nhân dân. Đối với vụ án mà bị cáo bị đưa ra xét xử về tội theo
khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình thì hội đồng xét xử gồm hai thẩm phán và
ba hội thẩm nhân dân.


Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba thẩm phán và trong trường hợp cần thiết có thể có
thêm hai hội thẩm nhân dân.

phải thông báo cho chính quyền địa phương nơi cư trú và làm việc của bị cáo. Đồng
thời phải thông báo cho bị cáo và những người có liên quan đến vụ án biết thông tin về
vụ án (địa điểm, thời gian,…) Tại các phiên tòa, mọi công dân đủ 16 tuổi trở lên đều có
quyền tham dự. Ngoài xét xử công khai, Luật tổ chức tòa án nhân dân cũng quy định
tòa án có thể xét xử kín để giữ bí mật của Nhà nước, thuần phong mĩ tục của dân tộc
hoặc giữ bí mật của các đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ. Nhưng dù xét xử
công khai hay xét xử kín, khi tuyên án, tòa án đều phải đọc công khai để mọi người
đều biết.
6. Nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật
Toà án xét xử theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không
phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội; cá
nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân và các cơ sở sản xuất, kinh doanh
thuộc mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật. Nguyên tắc mọi công dân
đều bình đẳng trước pháp luật là một trong những nguyên tắc quan trọng của chế định
quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, nó thể hiện nền dân chủ của chế độ xã hội chủ
nghĩa, khẳng định công dân là những người chủ của đất nước và được quy định trong
các bản Hiến pháp của nước ta. Trong hoạt động xét xử của tòa án, nguyên tắc này
được quy định tại Điều 8 Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2002: “ Tòa án xét xử theo
nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ,
dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội; cá nhân, cơ quan, tổ
chức, đơn vị vũ trang nhân dân và các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành
phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật”.
Theo quy định trên thì mọi tội phạm, mọi tranh chấp pháp lí do bất kì ai thực hiện
đều phải được tòa án nhân dân xét xử công bằng, không thiên vị. Trong những điều
kiện, hoàn cảnh như nhau mà hành vi vi phạm pháp luật như nhau thì tòa án đều phải
áp dụng quy phạm pháp luật như nhau. Vì vậy, để nguyên tắc mọi công dân đều bình


đẳng trước pháp luật được thực hiện trên thực tế đòi hỏi các thẩm phán và hội thẩm
nhân dân phải tinh thông về nghiệp vụ, trong sáng về đạo đức nghề nghiệp, có tinh

bị cáo và đương sự bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình
8. Nguyên tắc công dân Việt Nam có quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc
mình trước tòa án.
Nguyên tắc này không chỉ được quy định ở điều 133 Hiến pháp năm 1992 mà
còn ở cả ba bản Hiến pháp trước đó và được cụ thể hóa ở điều 10 Luật tổ chức tòa án
nhân dân năm 2002: “Tòa án bảo đảm cho những người tham gia tố tụng quyền dùng
tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình trước tòa án”.
Xuất phát từ thực tế ở nước ta có nhiều dân tộc cùng sinh sống trên một lãnh thổ.
Để thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước về đoàn kết và bình đẳng giữa các dân
tộc, trong hoạt động xét xử của mình, tòa án phải đảm bảo nguyên tắc công dân Việt
Nam có quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình trước tòa án.
Nguyên tắc này bảo đảm cho các chủ thể tham gia tố tụng tại phiên tòa như bị
cáo, người bị hại, đương sự, người làm chứng… thể hiện một cách đúng đắn và chính
xác ý chí của mình khi tham gia tố tụng, đồng thời giúp cho tòa án xét xử được chính
xác, đúng sự thật khách quan của vụ án, góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác xét
xử. Trong trường hợp người tham gia tố tụng trình bày bằng ngôn ngữ dân tộc của họ
thì tòa án phải chỉ định người phiên dịch.
9. Nguyên tắc tòa án nhân dân chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực nhà
nước.
Tòa án nhân dân tối cao chịu sự giám sát của Quốc hội; Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao phải chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, trong thời gian Quốc
hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Ủy ban thường vụ Quốc
hội và Chủ tịch nước, trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội. Tòa án nhân dân địa
phương chịu sự giám sát của hội đồng nhân dân. Chánh án tòa án nhân dân địa phương
chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước hội đồng nhân dân cùng cấp, trả lời chất
vấn của địa biểu hội đồng nhân dân


10. Nguyên tắc tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử.
Nội dung nguyên tắc này được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 1 Luật tổ chức tòa

- Thông tư liên ngành số 01/2004/TTLT/TANDTC-UBTWMTTQVN về việc hướng
dẫn về việc chuẩn bị nhân sự và giới thiệu bầu hội thẩm tòa án nhân dân do TAND Tối
cao- Ủy ban trung ương MTTQ Việt Nam ban hành ngày 01/03/2004.
- Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, Trường ĐH Luật HN, Nxb Tư pháp, Hà
Nội,2003.
- Luật Nhà nước Việt Nam, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Khoa Luật, Hà Nội,
1994.
- Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, ĐHQG Hà Nội, Trường Đại học KHXH&NV Khoa Luật, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999, trang 221.
- Bình luận khoa học Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992, Trung tâm
KHXH&NV Quốc Gia, Viện Nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, Nxb KHXH, Hà Nội,
1996.
-
-
- http:// www.ykvn-law.com
- />-
-




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status