Tìm hiểu vấn đề kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi với các nội dung sau - Pdf 34

Bài tập nhóm- Môn Luật Thương mại
Module1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nền kinh tế của chúng ta đang phát triển từng ngày, song vẫn có những con sâu
đang lợi dụng để đục khoét để kiếm lợi cho cá nhân, những kẻ lợi dụng chức quyền,
lách luật để mưu lợi bản thân. Chủ yếu là dựa vào những giao dịch, hợp đồng để
hưởng lợi cá nhân. Điều này không những làm xâm hại đến lợi ích của các thành viên
mà còn ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của công ty. Vì vậy, việc kiểm soát các
giao dịch tư lợi trên là cần thiết để đảm bảo quyền lợi của các chủ sở hữu, bảo vệ
quyền bình đẳng về lợi ích cho tất cả các cổ đông trong công ty.
Từ những nhận thức trên cũng như kiến thức tìm hiểu thêm, nhóm chúng em xin
được chọn đề tài số 6: “Tìm hiểu vấn đề kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh
tư lợi với các nội dung sau:
1.

Khái niệm về kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi

2.

Các loại giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi

3.

Các quy định pháp luật có mục đích kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh
tư lợi

4.

Một (hoặc một số) vụ việc thực tiễn”
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Khái niệm về kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi.

đó có ý đồ tước đi lợi ích của công ty làm lợi ích của riêng mình.
2. Kiểm soát giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi.
Kiểm soát nghĩa là kiểm tra, giám sát, quản lý những giao dịch có liên quan đến
công ty. Kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong doanh nghiệp là
nhằm đảm bảo quyền lợi cho các chủ nợ, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho các thành
viên, cổ đông trong doanh nghiệp và bảo vệ môi trường kinh doanh lành mạnh, công
bằng, luôn được sự quan tâm của Nhà nước, của doanh nghiệp và các thành viên, cổ
2


Bài tập nhóm- Môn Luật Thương mại
Module1
đông trong công ty. Kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong công ty
là hết sức cần thiết, tuy nhiên tìm ra cách thức kiểm soát vừa hợp lý, vừa hiệu quả mà
không hạn chế quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp, động viên các nguồn lực
trong xã hội lại không phải là vấn đề đơn giản. Đây là bài toán khó cho các nhà quản
lý cũng như hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia.
Phương thức để quản lý:
- Thứ nhất, pháp luật cấm những người quản lý và những người có liên quan của
họ thiết lập giao dịch với công ty và cấm công ty giao dịch với các công ty khác mà ở
đó người quản lý công ty, thành viên hoặc cổ đông có lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp.
Phải xem xét loại trừ khả năng phát sinh các hành vi trục lợi, nhưng nó cũng có
nhược điểm là hạn chế quyền tài sản của thành viên hoặc cổ đông là người quản lý
công ty. Do đó sự cấm đoán này là rào cản, hạn chế quyền tự do kinh doanh của công
ty. Trên thực tế thì không phải giao dịch nào giữa công ty và người quản lý hay những
người có liên quan đều có mục địch tư lợi, mà càng cấm thì hành vi mưu lợi sẽ càng
tinh vi hơn khi đó Nhà nước càng khó quản lý, hậu quả sẽ càng tệ hại hơn.
- Thứ hai, pháp luật cho phép chủ thể tiến hành các giao dịch này hợp đồng thành
lập hoặc điều khoản công ty không cấm, tuy nhiên nó phải được giám sát chặt chẽ.
Phải xây dựng những quy phạm tương ứng để xác định những đối tượng bị giám


h) Nhóm người thoả thuận cùng phối hợp để thâu tóm phần vốn góp, cổ phần hoặc
lợi ích ở công ty hoặc để chi phối việc ra quyết định của công ty.
Đó là những chủ thể có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với doanh nghiệp. Trên
thực tế những người nắm quyền sở hữu cũng đồng thời nắm quyền chi phối quyết
định, người sở hữu càng nhiều thì nắm quyền càng lớn, do đó sự lệ thuộc về mặt sở
4


Bài tập nhóm- Môn Luật Thương mại
Module1
hữu dẫn đến sự lệ thuộc về quản lý. Vì không có sự tách bạch như vậy nên khi tham
gia gia dịch với các chủ thể này công ty phải chịu những sức ép nhất định về tài chính
cũng như quản lý là nguyên nhân làm cho các giao dịch có nguy cơ không được xác
lập một cách công bằng, bình đẳng.
Bản thân các giao dịch này nếu được thực hiện một cách trung thực vì lợi ích cho
công ty thì vẫn được xem là hợp pháp. Chúng chỉ bị coi là các giao dịch bất hợp pháp
khi người xác lập giao dịch đó có ý đồ tước đi lợi ích của công ty làm lợi ích của riêng
mình. Những giao dịch này có thể có giá trị không lớn và tính chất không nghiêm
trọng nhưng để đảm bảo lợi ích cho công ti cũng như cho chủ sở hữu công ti thì các
giao dịch này cũng là đối tượng cần phải kiểm soát. Tất cả đều phải được công khai và
được tập thể chấp thuận.
III. Các quy định pháp luật có mục đích kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát
sinh tư lợi.
1. Những quy định về đối tượng bị kiểm soát.
LDN đã xác định hai nhóm giao dịch phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ của các
thành viên, cổ đông trong công ty bao gồm:
a.

Các giao dịch có giá trị tài sản lớn

Đối với công ti TNHH một thành viên là tổ chức thì hợp đồng, giao dịch giữa công ti
với các đối tượng sau phải được hội đồng thành viên (HĐTV) hoặc chủ tịch công ti
(CTCT), GĐ hoặc TGĐ và kiểm soát viên (KSV) xem xét quyết định theo nguyên tắc
đa số, mỗi người một phiếu biểu quyết: chủ sở hữu công ti; người quản lí chủ sở hữu
công ti, người có thẩm quyền bổ nhiệm những người quản lí đó; người đại diện theo
ủy quyền, GĐ hoặc TGĐ và KSV; người có liên quan của những người nêu trên. Hợp
đồng giao dịch giữa công ti TNHH một thành viên là cá nhân với chủ sở công ti hoặc
người có liên quan của chủ sở hữu công ti phải được ghi chép và lưu giữ thành hồ sơ
riêng của công ti.


Đối với công ti cổ phần (CTCP):

Theo LDN, quy định tại Điều 120 quy định về các hợp đồng, giao dịch giữa các công
ti với các đối tượng sau đây phải được đại hội đồng cổ đông hoặc hội đồng quản trị
chấp thuận: cổ đông, người đại diện ủy quyền của cổ đông sở hữu trên 35% tổng số cổ
phần phổ thông của công ti và những người có liên quan của họ; các doanh nghiệp mà
thành viên hội đồng quản trị (HĐQT), thành viên ban kiểm soát, GĐ hoặc TGĐ công
ti và người quản lí khác của công ti có sở hữu phần vốn góp hoặc cổ phần; doanh
6


Bài tập nhóm- Môn Luật Thương mại
Module1
nghiệp mà những người liên quan của những người nêu trên cùng sở hữu hoặc sở hữu
riêng cổ phần hoặc phần vốn góp trên 35% vốn điều lệ.
Như vậy, các giao dịch giữa các công ti với các thành viên , cổ đông hoặc giữa
công ti với những người quản lí công ti (người quản lí doanh nghiệp là chủ sở hữu,
giám đốc doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh công ti hợp danh, chủ tịch
HĐTV, CTCT, thành viên HĐQT, GĐ hoặc TGĐ và các chức danh quản lí khác do

kiện làm thành viên HĐQT nếu là cổ đông của công ty thì cá nhân phải sở hữu ít nhất
5% tổng số cổ phần phổ thông của công ty.
Để hạn chế mối quan hệ liên quan giữa những người quản lý doanh nghiệp với
nhau, qua đó có thể phát sinh sự câu kết để tư lợi hay bao che cho những hành vi tư
lợi thì các nhà làm luật đã đưa ra các quy định sau:Điểm b Khoản 3 Điều 70 quy định
về điều kiện trở thành GĐ( TGĐ) công ty TNHH một thành viên là tổ chức; Điểm b
Khoản 4 Điều 71 quy định về điều kiện phải có của KSV và Điểm b Khoản 1 Điều
122 quy định về điều kiện cần đáp ứng đối với các thành viên Ban kiểm sát của
CTCP.
3. Những quy định về quyền và nghĩa vụ của thành viên hoặc cổ đông nhằm ngăn
ngừa, hạn chế các giao dịch tư lợi trong công ty
Thành viên hay cổ đông của công ty cũng là những chủ thể có chung lợi ích với
công ty. Theo đó, LDN đã có những quy định cụ thể về thẩm quyền, trách nhiệm của
các thành viên trong công ty trong điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,
đối với từng loại hình công ty:


Đối với công ty cổ phần, LDN quy định: Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) là cơ

quan có quyền quyết định cao nhất của công ty, quyết định đầu tư hoặc bán tài sản có
giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản công ty (nếu Điều lệ không có quy
định khác). HĐQT là cơ quan quản lí công ty, có quyền nhân danh công ty quyết định
các vấn đề không thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ; giám sát, chỉ đạo Giám đốc và
người quản lí khác trong công ty. GĐ (TGĐ) là người điều hành công việc kinh doanh
hàng ngày của công ty; chịu sự giám sát của HĐQT. Ban Kiểm soát chịu trách nhiệm
trước ĐHĐCĐ; thực hiện giám sát HĐQT, GĐ trong việc quản lí công ty; kiểm tra

8



có thể xảy ra.
DNNN theo khoản 22 Điều 4 LDN là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu
trên 50% vốn điều lệ. Từ việc xác định rõ về doanh nghiệp nhà nước, có các quy định
áp dụng riêng cho các doanh nghiệp thỏa mãn tiêu chí này như sau:
9


Bài tập nhóm- Môn Luật Thương mại
Module1
Khoản 2 Điều 48 quy định về người đại diện theo ủy quyền của tổ chức trong
công ty TNHH hai thành viên trở lên phải đầu tư các điều kiện và tiêu chuẩn luật định
trong đó có quy định: Đối với công ty …người đại diện theo uỷ quyền tại công ty con.
Về tiêu chuẩn và điều kiện làm GĐ(TGĐ) công ty THHH hai thành viên trở lên
và CTCP, khoản 2 Điều 57 quy định: “Đối với công ty con của công ty … người quản
lý của công ty mẹ”.
Về tiêu chuẩn và điều kiện làm thành viên HĐQT công ty cổ phần khoản 2
Điều 110 LDN quy định: “Đối với công ty con … người quản lý công ty mẹ”.
Ngoài ra, tại điều 13 LDN còn có quy định hạn chế về quyền thành lập, góp
vốn, mua cổ phần và quản lí doanh nghiệp. Theo đó những người nêu trên không được
quyền thành lập, góp vốn, mua cổ phần và quản lí doanh nghiệp. Riêng đối với một số
đối tượng là cán bộ, công chức còn không được quyền mua cổ phần của công ty cổ
phần, góp vốn vào công ty TNHH, công ty hợp danh.
Những quy định “cấm không được” nêu trên nhằm loại bỏ hoàn toàn nguy cơ tư lợi
của những người tham gia bộ máy quản lí hành chính có thể dùng vị thế, quyền lực
của mình cũng như những người quản lí trong doanh nghiệp nhà nước có thể sử dụng
những thuận lợi do Doanh nghiệp nhà nước có được để tìm cách san sẻ lợi ích đó cho
các doanh nghiệp mà mình hoặc người thân có lợi ích liên quan.
5. Quy định ranh giới giữa hành vi được phép, không được phép tiến hành
trong giao dịch kinh doanh và cơ chế thông qua quyết định của doanh nghiệp để
tránh giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi

pháp lí độc lập, có quyền, nghĩa vụ, tài sản và lợi ích riêng biệt, giá trong hợp đồng là
giá thị trường tại thời điểm kí kết; chủ sở hữu công ty phải tuân thủ đúng nghĩa vụ.
Đồng thời các hợp đồng này phải được lưu giữ trong hồ sơ công ty.


Đối với công ty cổ phần, thành viên HĐQT, Ban kiểm soát, GĐ (TGĐ) và

người quản lí khác của công ty phải kê khai các lợi ích liên quan như: những doanh
nghiệp mà họ góp vốn hoặc cổ phần; những doanh nghiệp mà những người có liên
quan của họ cùng sở hữu hoặc sở hữu trên 35% vốn điều lệ. Việc kê khai phải được
thông báo cho Đại hội đồng cổ đông và niêm yết tại trụ sở chính. Cổ đông và mọi
thành viên khác của công ty có quyền xem xét nội dung kê khai bất cứ lúc nào.
Hợp đồng, giao dịch giữa công ty với cổ đông, người đại diện ủy quyền của cổ
đông sở hữu trên 35% cổ phần phổ thông và những người có liên quan; thành viên
11


Bài tập nhóm- Môn Luật Thương mại
Module1
HĐQT, GĐ, Doanh nghiệp và người có liên quan; thành viên HĐQT, GĐ phải được
ĐHĐCĐ hoặc HĐQT chấp thuận.
Khoản 4 Điều 118, LDN cũng quy định HĐQT, GĐ hoặc TGĐ nhân danh cá nhân
hoặc nhân danh người khác thực hiện công việc dưới mọi hình thức trong phạm vi
công việc của công ty phải giải trình bản chất, nội dung công việc đó.


Nhằm tránh việc chia sẻ lợi ích trong doanh nghiệp, LDNNN quy định: Chủ

tịch HĐQT, thành viên HĐQT, GĐ không giữ chức danh quản lí các công ty khác,
nếu không được sự phân công, cho phép; vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột của những

và khoản 4 Điều 120).



Về những người có trách nhiệm thực hiện đúng theo quy định của pháp luật và
những người có liên quan trong các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi nếu
để hợp đồng, giao dịch được giao kết hoặc thực hiện không đúng quy định
thì phải chịu những chế tài sau:

- Đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên: người đại diện theo pháp luật của
công ty, thành viên có lien quan và người có lien quan của thành viên đó phải bồi
thường thiệt hại phát sinh, hoàn trả cho công ty các khoản lợi thu được từ việc thực
hiện hợp đồng, giao dịch đó (Khoản 2 Điều 59).
- Đối với công ty TNHH một thành viên là tổ chức: người đại diện theo pháp luật của
công ty và các bên của hợp đồng phải bồi thường thiệt hại phát sinh, hoàn trả cho
công ty các khoản lợi thu được từ việc thực hiện hợp đồng, giao dịch đó cho công ty
(Khoản 3 Điều 75).
- Đối với CTCP: người đại diện theo pháp luật của công ty, cổ đông, thành viên
HĐQT hoặc GĐ(TGĐ) có liên quan phải bồi thường thiệt hại phát sinh; hoàn trả cho
công ty các khoản lợi thu được từ việc thực hiện hợp đồng, giao dịch đó (Khoản 4
Điều 120 LDN).
Ngoài ra họ còn phải chịu các hình thức xử lí khác theo quy định của pháp luật theo
Khoản 1 Điều 156 LDN.
13


Bài tập nhóm- Môn Luật Thương mại
Module1
IV. Một ( hoặc 1 số) vụ việc thực tiễn.
Ngày 20/8, được biết, Viện KSND tối cao đã phê chuẩn quyết định khởi tố bị

Lộc đã chỉ đạo giám định viên Lê Phúc Đức lập khống các giấy tờ, hồ sơ thẩm định và
ký giấy chứng nhận thẩm định giá trị tàu theo yêu cầu của Hảo và Tuấn.
Căn cứ vào kết quả thẩm định giá nêu trên, Hảo đã chỉ đạo bộ phận nghiệp vụ
của Công ty ALC II lập hợp đồng mua bán tàu Tinro 2 với Công ty Cát Long Hải.
Theo đó, Công ty ALC II mua lại của Công ty Cát Long Hải tàu lặn Tinro 2 với giá
130 tỷ đồng và đã giải ngân số tiền này cho bên bán. Sau đó lại ký hợp đồng cho thuê
tài sản trên với Công ty Cát Long Hải với giá thuê là 130 tỷ đồng, lãi suất cho thuê
khoảng 1,17%/tháng, thời hạn cho thuê 60 tháng. Đến nay, Công ty Cát Long Hải vẫn
nợ Công ty ALC II 130 tỷ đồng tiền gốc thuê tài chính không có khả năng thanh toán.
Như vậy, vụ tiêu cực tại Công ty ALC II với số tiền thất thoát hàng trăm tỷ
đồng chưa kịp khép lại thì đã phát hiện thêm hành vi của Vũ Quốc Hảo, Phạm Minh
Tuấn cùng các đối tượng liên quan, thông qua việc ký hợp đồng thuê tài chính nâng
khống giá trị tàu lặn Tinro 2, rút tiền của Nhà nước gần 80 tỷ đồng sử dụng mua hơn
89 ngàn mét vuông đất tại tỉnh Tiền Giang.
Việc làm của Vũ Quốc Hảo, Phạm Minh Tuấn, Vũ Đức Hòa là hành vi tham nhũng
tài sản của công ty, nhà nước nhằm tư lợi cho bản thân, làm thất thoát của ngân sách
nhà nước hàng chục tỷ đồng. Vụ việc trên là một minh chứng rõ ràng về giao dịch tư
lợi trong nền kinh tế Việt Nam.

KẾT LUẬN
15


Bài tập nhóm- Môn Luật Thương mại
Module1
Giao dịch tư lợi ở nước ta trong thời gian qua đã diễn ra rất đa dạng , phức tạp với
sự tham gia của nhiều đối tượng, nhiều doanh nghiệp dưới nhiều loại hình, cách thức
gây thất thoát nghiêm trọng tài sản của nhà nước và làm lung loạn thị trường. Vì vậy
kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi trong công ty là hết sức cần thiết
để nền kinh tế có thể phát triển tốt nhất. Không có những giao dịch phát sinh tư lợi thì


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status