MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
I. Khái niệm về việc kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi
1. Khái niệm về kiểm soát giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi
2. Sự cần thiết phải kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi
3. Bản chất của các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi
II. Các loại giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi
III. Các quy định pháp luật có mục đích kiểm soát các giao dịch có nguy cơ
phát sinh tư lợi
1. Những quy định về đối tượng bị kiểm soát
a. Các giao dịch có giá trị tài sản lớn
b. Các giao dịch với những “người có liên quan”
2. Những quy định về ngăn ngừa kiểm soát các giao dịch có nguy cơ gây thiệt
hại về tài sản của nhà nước
3. Những quy định về điều kiện và tiêu chuẩn của người tham gia quản lí doanh
nghiệp
4. Những quy định về quyền và nghĩa vụ của thành viên, cổ đông và người quản
lí nhằm ngăn ngừa, hạn chế các giao dịch tư lợi trong công ty
5. Quy định ranh giới giữa hành vi được phép, không được phép tiến hành
trong giao dịch kinh doanh và cơ chế thông qua quyết định của doanh nghiệp để
tránh giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi
6. Những quy định về xử lí vi phạm trong giao kết và thực hiện giao dịch có
nguy cơ phát sinh tư lợi trong công ty.
IV.Một số vụ việc thực tiễn
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
LỜI MỞ ĐẦU
Trong hoạt động đầu tư kinh doanh của các cơ quan, doanh nghiệp không phải lúc nào
Như vậy có thể hiểu kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi là việc
thông qua các quy định của pháp luật để nhà nước và các công ty thực hiện việc xem
xét, ngăn chặn những giao dịch do một hoặc một nhóm người dùng địa vị của mình để
tiến hành các giao dịch này nhằm thu lợi nhuận cho bản thân họ.
2. Sự cần thiết phải kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi
Các giao dich tư lợi cần phải được kiểm soát từ các công ty và nhà nước thông qua
các quy định của pháp luật do:
Thứ nhất, các giao dịch tư lợi sẽ gây thiệt hại về tài sản cho công ty và nó làm hạn
chế, triệt tiêu nguồn vốn dùng để tái đầu tư của công ty, ngăn cản sự phát triển của
công ty. Khi một công ty xảy ra các giao dịch tư lợi thì uy tín của công ty sẽ bị giảm
sút, các thành viên đầu tư vào công ty sẽ mất lòng tin và tìm cách rút ra khỏi công ty.
Thứ hai, là do lợi ích của người góp vốn vào công ty: Khi xảy ra các giao dịch tư
lợi, tài sản của công ty sẽ bị “chảy” vào túi của một hay một nhóm người thì như vậy
những người góp vốn khác trong công ty sẽ bị chia sẻ về mặt lợi ích họ góp vốn
nhưng lại để người khác chiểm hưởng mất phân lợi nhuận mà đáng lý ra phải là của
họ.
Thứ ba, là từ sự thiệt hại về lợi ích của ty kéo theo đó là sự thiệt hại về quyền lợi
của các chủ nợ khi công ty không còn đủ tài sản để thanh toán các nghĩa vụ cho chủ
nợ.
3
Thứ tư, các giao dịch tư lợi không chỉ làm thất thoát tài sản của công ty mà còn có
tác động tiêu cực tới sự phát triển của nền kinh tế, đe dọa môt trường kinh doanh lành
mạnh.
3. Bản chất của các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi
Bản chất kinh tế của các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi là vấn đề sở hữu, là sự
chuyển dịch ngầm sở hữu của pháp nhân cho các cá nhân nắm quyền kinh doanh.
Tổng lợi ích kinh tế trong giao dịch không đổi nhưng quyền sở hữu giữa các chủ thể
tham gia có sự thay đổi, chuyển hóa.
Bản chất pháp lí của giao dịch này là hợp đồng được thể hiện dưới hình thức hợp
pháp, nhưng thực chất là thể hiện ý chí, mục đích trục lợi của cá nhân người giao kết.
doanh nghiệp đó;
h) Nhóm người thoả thuận cùng phối hợp để thâu tóm phần vốn góp, cổ phần hoặc lợi
ích ở công ty hoặc để chi phối việc ra quyết định của công ty.
Bản thân các giao dịch này nếu được thực hiện một cách trung thực vì lợi ích cho
công ty thì vẫn được xem là hợp pháp. Chúng chỉ bị coi là các giao dịch bất hợp pháp
khi người xác lập giao dịch đó có ý đồ tước đi lợi ích của công ty làm lợi ích của
riêng mình.
III. Các quy định pháp luật có mục đích kiểm soát các giao dịch có nguy cơ
phát sinh tư lợi
1. Những quy định về đối tượng bị kiểm soát
LDN đã xác định hai nhóm giao dịch phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ của các
thành viên, cổ đông trong công ty bao gồm:
a. Các giao dịch có giá trị tài sản lớn
Như đã phân tích ở trên, LDN đã quy định giao dịch có giá trị tài sản lớn là đối
tượng phải bị kiểm soát. Điều 47, Điều 64, Điều 96, Điều 135 LDN quy định những
giao dịch này chỉ được thực hiện khi có quyết định của chủ sở hữu công ty. Việc quy
định này nhằm ngăn chặn người đại diện hợp pháp có thể nảy sinh ý đồ tư lợi, san sẻ
lợi ích của công ty vào “túi riêng” của họ, gây thiệt hại lớn về tài sản cho công ty và
các chủ nợ, thành viên khác của công ty.
5
b. Các giao dịch với những người có “liên quan”
● Đối với công ti trách nhiệm hữu hạn (TNHH) từ hai thành viên trở lên:
Theo quy định của LDN, theo quy định tại Điều 59 thì hợp đồng giao dịch giữa công
ti với các đối tượng sau phải được hội đồng thành viên chấp thuận: thành viên, người
đại diện theo ủy quyền của thành viên, giám đốc (GĐ) hoặc tổng giám đốc (TGĐ)
công ti mẹ, người có thẩm quyền quản lí công ti mẹ.
● Đối với công ti trách nhiệm hữu hạn một thành viên:
Đối với công ti TNHH một thành viên là tổ chức thì hợp đồng, giao dịch giữa công ti
với các đối tượng sau phải được hội đồng thành viên (HĐTV) hoặc chủ tịch công ti
(CTCT), GĐ hoặc TGĐ và kiểm soát viên (KSV) xem xét quyết định theo nguyên tắc
50% vốn điều lệ. Từ việc xác định rõ về doanh nghiệp nhà nước, có các quy định áp
dụng riêng cho các doanh nghiệp thỏa mãn tiêu chí này như sau:
Khoản 2 Điều 48 quy định về người đại diện theo ủy quyền của tổ chức trong công
ty TNHH hai thành viên trở lên phải đầu tư các điều kiện và tiêu chuẩn luật định trong
đó có quy định: Đối với công ty con của công ty có phần vốn góp hay cổ phần sở hữu
nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ thì vợ hoặc chồng, cha, cha nuôi, mẹ, mẹ nuôi,
con, con nuôi, anh, chị, em ruột của người quản lý và của người có thẩm quyền bổ
nhiệm người quản lý công ty mẹ không được cử làm người đại diện theo uỷ quyền tại
công ty con.
Về tiêu chuẩn và điều kiện làm GĐ(TGĐ) công ty THHH hai thành viên trở lên và
CTCP, khoản 2 Điều 57 quy định: “Đối với công ty con của công ty có phần vốn góp,
cổ phần của Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ thì ngoài các tiêu chuẩn và điều
kiện quy định tại khoản 1 Điều này, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc không được là vợ
hoặc chồng, cha, cha nuôi, mẹ, mẹ nuôi, con, con nuôi, anh, chị, em ruột của người
quản lý và người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý của công ty mẹ”.
Về tiêu chuẩn và điều kiện làm thành viên HĐQT công ty cổ phần khoản 2 Điều
110 LDN quy định: “Đối với công ty con là công ty mà Nhà nước sở hữu số cổ phần
7