LỜI MỞ ĐẦU
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn là điều kiện không thể thiếu để thành lập
một doanh nghiệp và tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Vốn còn phản ánh nguồn
lực tài chính của doanh nghiệp để đầu tư vào một số loại hình sản xuất, kinh doanh. Mọi
doanh nghiệp đều có nhu cầu về vốn để vận hành và phát triển. Tuy nhiên, nguồn vốn tự có
không đủ để đảm bảo nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp phải tìm kiếm
nguồn cung ứng vốn để đảm bảo ổn định và đủ mạnh. Nhiệm vụ của doanh nghiệp là phải
huy động vốn và sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc
quản lý tài chính và chấp hành pháp luật của Nhà nước. Công ty cổ phần là loại hình đặc
trưng của công ty đối vốn nên các quy định về vốn có ý nghĩa rất quan trọng. Để hiểu hơn
về vấn đề này, em xin chọn đề tài: “Tìm hiểu pháp luật về huy động vốn của công ty cổ
phần”.
NỘI DUNG
I. Khái quát chung về công ty cổ phần (CTCP) và một số vấn đề về huy động vốn của
CTCP
1. Khái niệm về CTCP
Trong khoa học pháp lý, hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau lại có định
nghĩa khác nhau về công ty cổ phần. Pháp luật hiện hành Việt Nam chưa đưa ra định nghĩa
cụ thể về CTCP mà chỉ đưa ra những dấu hiệu để nhận biết CTCP. Theo đó, khoản 1 Điều
77 Luật Doanh nghiệp năm 2005 có quy định rõ:
“Công ty cố phần là doanh nghiệp, trong đó:
a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không
hạn chế số lượng tối đa;
c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của
doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
1
d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ
tiền của những tài sản vô hình (tài sản vô hình của doanh nghiệp có thể là vị trí kinh doanh,
lợi thế trong sản xuất, bằng phát minh sáng chế...)
Căn cứ vào nguồn gốc hình thành vốn, vốn của CTCP được chia thành: vốn chủ sở hữu
(vốn tự có) và vốn tín dụng (vốn vay).
Vốn chủ sở hữu là nguồn gốc vốn thuộc sở hữu của công ty, được hình thành từ nguồn
gốc đóng góp của cổ đông và vốn do công ty cổ phần tự bổ sung từ lợi nhuận của công ty.
Vốn tín dụng là nguồn vốn hình thành từ việc đi vay dưới các hình thức khác nhau như
vay ngân hang, vay của các tổ chức, cá nhân khác, hoặc vay bằng cách phát hành trái
phiếu.
3. Huy động vốn trong CTCP
Các chủ thể kinh doanh thường muốn có nguồn vốn lớn để mở rộng quy mô sản xuất
kinh doanh. Công ty cổ phần có hai cách để huy động vốn: tăng vốn chủ sở hữu và tăng
vốn vay. Công ty cổ phần khẳng định sự lý tưởng trong mô hinh kinh doanh của mình bằng
quyền phát hành chứng khoán được quy định trong khoản 3 điều 77 Luật doanh nghiệp
2005: “Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn”.
Trong các loại chứng khoán ấy, cổ phiếu là công cụ riêng của công ty cổ phần, nó đem lại
ưu thế rất lớn cho công ty cổ phần nhờ khả năng thu hút vốn dễ dàng: có thể huy động
được một nguồn vốn lớn do mở rộng đối tượng huy động; có thể giảm chi phí huy động
vốn do tiếp cận trực tiếp với người đầu tư…
Phần vốn của cổ đông có thể tự do chuyển nhượng thông qua việc chuyển quyền sở
hữu cổ phần (trừ trường hợp do pháp luật quy định) mà biểu hiện hình thức là chuyển
nhượng cổ phiếu. Tính chuyển nhượng cổ phiếu mạng lại cho nền kinh tế sự vận động
nhanh chóng của vốn đầu tư mà không phá vỡ tính ổn định của tài sản công ty. Việc
chuyển vốn dưới hình thức này rất dễ dàng và thuận lợi thông qua thị trường chứng khoán.
Mặt khác, cổ phần có mệnh giá nhỏ kết hợp với tính thanh khoản và chuyền nhượng đã
khuyến khích mọi tầng lớp dân chúng đầu tư.
3
LDN cũng không đưa ra khái niệm chung cho ‘cổ phần ưu đãi” mà mỗi cổ phần ưu đãi
đều có khái niệm riêng và đem lại cho người nắm giữ những quyền đặc biệt. Thực chất, cổ
phần ưu đãi có nguồn gốc từ cổ phần phổ thông, chẳng qua từ cái gốc chính đó, người ta
giảm đi các yếu tố quyền căn bản để tạo ra những cổ phần ưu đãi khác nhau. Trong đó:
+ Cổ phần ưu đãi biểu quyết theo khoản 1 Điều 81 LDN, là “cổ phần có số phiếu biểu
quyết nhiều hơn so với cổ phần phổ thông. Số phiếu biểu quyết của một cổ phần ưu đãi
biểu quyết do Điều lệ công ty quy định”. Như vậy, so với các cổ phần phổ thông, cổ phần
ưu đãi biểu quyết sẽ có tiếng nói nhiều hơn trong các cuộc họp đại hội đồng cổ đông. LDN
không hạn chế tối đa số phiếu biểu quyết của cố phần ưu đãi biểu quyết và cũng không hạn
chế tỉ lệ cổ phần ưu đãi biểu quyết nói riêng mà chỉ hạn chế về chủ thể có quyền nắm giữ
loại cổ phần này nhằm hạn chế cổ đông đưa ra các quyết định bất lợi cho CTCP. Theo đó,
“chỉ có tổ chức được Chính phủ uỷ quyền và cổ đông sáng lập được quyền nắm giữ cổ phần
ưu đãi biểu quyết”.
+ Cổ phần ưu đãi cổ tức, theo khoản 1 Điều 82 LDN, là “cổ phần được trả cổ tức với
mức cao hơn so với mức cổ tức của cổ phần phổ thông hoặc mức ổn định hằng năm”. Đây
là loại cổ phần phù hợp với các cổ đông thiểu số và những cổ đông không có nhu cầu quản
trị công ty. Đối với các cổ đông thiểu số thường chọn loại cổ phần này để có được lợi ích
cao hơn trong việc nhận cổ tức vì họ biết rằng với ngần ấy cổ phần ít ỏi quyền biểu quyết,
quyền quản trị công ty (nếu có) cũng trở nên vô nghĩa. Còn đối với các cổ đông không có
nhu cầu quản trị, dù họ sở hữu một lượng lớn cổ phần đã phát hành, lựa chọn loại cổ phần
này chủ yếu để nhận cổ tức. Các chủ thể này sẵn sàng hy sinh quyền bầu cử, ứng cử để lựa
chọn cổ phần ưu đãi cổ tức vì mức cổ tức hấp dẫn của nó.
+ Cổ phần ưu đãi hoàn lại, theo khoản 1 Điều 83 LDN, là “cổ phần được công ty hoàn
lại vốn góp bất cứ khi nào theo yêu cầu của người sở hữu hoặc theo các điều kiện được
ghi tại cổ phiếu của cổ phần ưu đãi hoàn lại”. Cổ phần ưu đãi loại này cũng là một trong
những công cụ huy động vốn hữu hiệu của CTCP, đặc biệt là khi công ty cần gấp một
khoản vốn lớn để giải quyết những công việc cụ thể. Có thể nói, đây cũng là một khoản
vay của CTCP trong quá trình hoạt động của mình, chỉ khác là công ty không phải trả lãi
cho người nắm giữ nó và quyền ưu tiên nhận tài sản còn lại của CTCP phải xếp sau người
nắm giữ trái phiếu sau khi công ty giải thể hoặc phá sản (nếu có).
b. Huy động vốn bằng phát hành cổ phiếu
Phát hành cổ phiếu là việc chào bán cổ phần cùa công ty cổ phần cho người đầu tư
nhằm đáp ứng yêu cầu về vốn của công ty. Kết quả của việc chào bán cổ phần sẽ đảm bảo
6
huy động vốn điều lệ trong quá trình thành lập công ty hoặc sẽ làm tăng vốn điều lệ của
công ty trong trường hợp công ty đang hoạt động.
Hiện nay, huy động vốn bằng phát hành cổ phiếu gồm hai loại là chào bán cổ phiếu ra
công chúng và chào bán cổ phiếu riêng lẻ.
* Chào bán cổ phiếu ra công chúng
Chào bán cổ phiếu ra công chúng là phương thức phát hành cổ phiếu mà cổ phiếu được
chào bán rộng rãi theo một trong các phương thức sau: thông qua phương tiện thông tin đại
chúng, kể cả internet; chào bán chứng khoán cho một trăm nhà đầu tư trở lên, không kể
nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; chào bán số lượng nhà đầu tư không xác định
(khoản 12 Điều 6 LK 2006)
Theo quy định tại Điều 11 LCK 2006 và Điều 3 Nghị định 14/2007/NĐ – CP của
Chính phủ ban hành ngày 19/1/2007 thì chào bán cổ phiếu ra công chúng bao gồm 2 loại:
chào bán lần đầu và chào bán thêm.
- Chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng gồm: chào bán cổ phiếu để huy động vốn
điều lệ; thành lập mới CTCP và chào bán để chuyển đổi cơ cấu sở hữu thành lập công ty
đại chúng mà không làm thay đổi vốn điều lệ của công ty.
- Chào bán thêm cổ phiếu ra công chúng gồm: công ty đại chúng chào bán thêm cổ
phiếu ra công chúng hoặc chào bán quyền mua cổ phần cho cổ đông hiện hữu để tăng vốn
điều lệ; công ty đại chúng chào bán cổ phiếu ra công chúng để thay đổi cơ cấu sở hữu
nhưng không làm tăng vốn điều lệ; công ty đầu tư chứng khoán chào bán thêm cổ phiếu ra
công chúng.
Việc chào bán cổ phiếu ra công chúng giúp CTCP có thể đáp ứng nhu cầu đa dạng về
vốn trong quá trình hoạt động của mình, đồng thời có thể làm tăng uy tín của công ty, giúp
công ty có nhiều thuận lợi hơn trên thị trường vì được nhiều người biết đến. Tuy nhiên,
bán cổ phiếu riêng lẻ là hoạt động của chủ thể phát hành chào bán chứng khoán cho các
khách hàng đặc biệt thường là các tổ chức như các công ty bảo hiểm nhân thọ, các công ty
đầu tư chứng khoán...Hình thức chào bán này chỉ được tiến hành trong phạm vi hẹp, thủ
tục chào bán cũng đơn giản.
Điều kiện chào bán cổ phiếu riêng lẻ được quy định tại Điều 8 Nghị định 01/2010/NĐ
– CP. Bên cạnh các điều kiện trên, LDN 2005 còn yêu cầu CTCP phát hành cổ phiếu riêng
lẻ phải dành quyền ưu tiên mua cổ phiếu mới phát hành cho các cổ đông hiện hữu trong
công ty theo tỷ lệ hiện có của họ tại công ty. Trong trường hợp, cổ đông hiện hữu của
CTCP không mua hoặc mua không hết cổ phần chào bán riêng lẻ thì pháp luật cho phép họ
8
được chuyển nhượng quyền ưu tiên mua cho người khác (điểm c khoản 2 Điều 87 LDN
2005)
Trình tự, thủ tục chào bán cổ phiếu riêng lẻ: CTCP tiến hành chào bán cổ phiếu riêng lẻ
phải gửi hồ sơ đăng ký chào bán để Ủy ban chứng khoán Nhà nước. Hồ sơ đăng ký bao
gồm các tài liệu được quy định tại Điều 9 Nghị định số 01/2010/NĐ – CP. Tổ chức chào
bán phải thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin về đợt chào bán cho nhà đầu tư. Trong vòng
10 ngày kể từ khi kết thúc đợt chào bán tổ chức chào bán phải có nghĩa vụ gửi Báo cáo kết
quả đợt chào bán và danh sách cổ đông cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, đồng thời
công bố kết quả chào bán trên website của tổ chức chào bán (nếu có).
2. Huy động vốn thông qua hình thức tín dụng
a) Phát hành trái phiếu
Trái phiếu là chứng khoán có thể chuyển nhượng được trong đó ghi nhận một khoản
vay dài hạn của CTCP. Người sở hữu trái phiếu có mệnh giá giống nhau thì có trái quyền
giống nhau.
Bằng việc phát hành trái phiếu CTCP có thể có được những số tiền lớn mà không gặp
các khó khăn vì người sở hữu trái phiếu chỉ là một chủ nợ, cổ đông của CTCP sẽ không
tăng thêm và không đảo lộn thành viên trong các phiên họp ĐHĐCĐ. Lãi suất trả cho các
được từ đợt chào bán được HĐQT công ty thông qua; 4. Có cam kết thực hiện nghĩa vụ
của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về điều kiện phát hành, thanh toán, bảo đảm
quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các điều kiện khác.
Như vậy, có thể thấy nếu như việc phát hành cổ phiếu ra công chúng phải được sự nhất
trí thông qua ĐHĐCĐ thì việc phát hành trái phiếu ra công chúng lại chỉ cần sự thông qua
của HĐQT. Sự khác nhau này xuất phát từ bản chất của hai hình thức phát hành này. Việc
phát hành cổ phiếu ra công chúng làm tăng vốn điều lệ của công ty nhưng có thể ảnh
hưởng tới địa vị của cổ đông trong công ty nên cần được ĐHĐCĐ thông qua. Ngược lại,
việc chào bán trái phiếu với bản chất là quan hệ vay vốn chỉ ảnh hưởng tới cơ cấu vốn của
công ty chứ không ảnh hưởng tới vị thế, quyền lợi của cổ đông nên chỉ cần HĐQT quyết
định là phù hợp.
Trong một số trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 88 LDN 2005 CTCP không được
phát hành trái phiếu, đó là: 1) trường hợp công ty không thanh toán đủ cả gốc và lãi của
trái phiếu đã phát hành, không thanh toán hoặc thanh toán không đủ các khoản nợ đến hạn
trong ba năm liên tiếp trước đó; 2) tỷ suất lợi nhuận sau thuế bình quân của ba năm liên
tiếp trước đó không cao hơn mức lãi suất dự kiến trả cho trái phiếu định phát hành.
- Trình tự thủ tục phát hành trái phiếu ra công chúng
10
Cũng giống như phát hành cổ phiếu ra công chúng, LCK 2006 quy định thủ tục tiến
hành chào bán trái phiếu gồm 3 bước: đăng ký phát hành trái phiếu, công bố thông tin
trước khi chào bán và phân phối trái phiếu. Trong đó, nội dung của các bước này cũng
tương tự như phát hành cổ phiếu ra công chúng, chỉ khác ở yêu cầu đối với hồ sơ đăng ký
chào bán trái phiếu, đó là: thứ nhất, thay vì cần có quyết định của ĐHĐCĐ thông qua
phương án phát hành thì CTCP phát hành cần có quyết định của HĐQT. Thứ hai, phải có
thêm bản cam kết thực hiện nghĩa vụ của CTCP phát hành đối với nhà đầu tư về điều kiện
phát hành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các điều kiện
khác.
* Phát hành trái phiếu riêng lẻ
đổi, tổ chức phát hành còn phải công khai một số nội dung khác theo quy định của pháp
luật.
Việc phát hành trái phiếu riêng lẻ chủ yếu diễn ra dưới hình thức đấu thầu trái phiếu.
Thông thường việc đấu thầu trái phiếu có thể được tiến hành trực tiếp tại công ty hoặc
thông qua tổ chức trung gian hoặc qua trung tâm giao dịch chứng khoán.
b) Tín dụng ngân hàng
Huy động vốn thông qua hình thức tín dụng ngân hàng là một hình thức huy động vốn
phổ biến được các doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần nói riêng áp dụng trên thực
tế. Thông qua hình thức này, công ty cổ phần có thể có được các khoản vay ngắn hạn,
trung hạn và dài hạn đáp ứng được yêu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Việc huy động vốn thông qua hình thức tín dụng ngân hàng có nhiều thuận lợi hơn đối
với các công ty có uy tín, có quan hệ lâu dài với ngân hàng. Bên cạnh đó cơ chế cho vay
hiện nay đang tạo cho việc huy động vốn qua ngân hàng có ưu điểm, ưu việt hơn mà huy
động vốn bằng trái phiếu không có như khi vay ngân hàng nếu đến hạn trả công ty chưa có
khả năng trả nợ thì có thể xin gia hạn nợ; trong khi nếu công ty phát hành trái phiếu thì
phải có nghĩa vụ hoàn trả các khoản lãi và gốc khi trái phiếu đến hạn thanh toán.
Để huy động vốn thông qua hình thức tín dụng ngân hàng, công ty phải đáp ứng các
điều kiện nhất định như có tình hình tài chính lành mạnh, có phương án sử dụng vốn khả
thi và có tài sản đảm bảo cho khoản vay bằng biện pháp cầm cố, thế chấp hoặc được bên
thứ ba bảo lãnh bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng trừ
trường hợp công ty được ngân hàng cho vay không có bảo đảm bằng tài sản. Công ty vay
vốn ngân hàng phải đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đich đã thỏa thuận, hoàn trả nợ
12
gốc và lãi suất vốn vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Có hai hình
thức cho vay vốn là vay có bảo đảm và vay không bảo đảm.
c) Tín dụng thuê mua
Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần nói riêng khó tiếp cận
vốn vay ngân hàng. Sự ra đời của các công ty cho thuê tài chính là một giải pháp để tài trợ
III. Một số nhận xét về các quy định của pháp luật về huy động vốn
1. Về vốn chủ sở hữu
Mặc dù các quy định của pháp luật về huy động vốn chủ sở hữu đã có nhiều điểm tiến
bộ, tạo được những điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nhưng bên cạnh đó vẫn còn
những hạn chế không tránh khỏi. Chúng ta nên đa dạng hóa các loại cổ phiếu ưu đãi để tạo
sự hấp dẫn với người đầu tư như ở một số nước có nền kinh tế chuyển đổi tương tự Việt
Nam, đặc biệt là các nước trong khu vực ASEAN đã áp dụng như cổ phần ưu đãi dồn lãi,
cổ phần ưu đãi dự phần được chia cổ tức, cổ phần ưu đãi mua lại, cổ phần ưu đãi có thể
chuyền đổi, cổ phần phức hợp, cổ phần ưu đãi hàng đầu, cổ phần ưu đãi để trống…
2. Về vốn tín dụng
a. Trái phiếu.
Cũng giống như cố phiếu, các loại trái phiếu vẫn chưa thực sự thu hút các nhà đầu tư.
Để tạo thêm hàng cho thị trường trái phiếu, một thị trường mà các doanh nghiệp Việt Nam
còn bỏ ngỏ, pháp luật nên có những quy định về quyền phát hành các loại trái phiếu khác
như trái phiếu không trả lãi, trái phiếu trả lãi theo thu nhập, trái phiếu lãi suất thả nổi, trái
phiếu có quyền bán trước khi đáo hạn…
Trong quy định về phát hành trái phiếu của Luật doanh nghiệp 2005 thì “Việc phát
hành trái phiếu cho các chủ nợ là tổ chức tài chính được lựa chọn không bị hạn chết bởi
các quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản này” (Điểm b Khoản 2 điều 88) nhưng hiện nay
chưa có khái niệm chính thức về tổ chức tài chính.
b. Tín dụng ngân hàng.
Đây là một hình thức huy động vốn khá phổ biến và được không chỉ công ty cổ phần
mà cả các doanh nghiệp khác áp dụng. Tuy nhiên, hình thức này cũng tồn tại những hạn
chế không tránh khỏi như hệ thống văn bản pháp luật còn chồng chéo phức tạp, thủ tục cho
vay phức tạp…Hơn nữa khi doanh nghiệp vay vốn thì khoản vay thường lớn nên lãi suất
cao đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải chịu áp lực trả lãi và thời hạn trả. Mặt khác,
nguồn vốn của ngân hàng thương mại là nguồn tài trợ ngắn hạn nên doanh nghiệp chỉ được
14
nghiệp , Nxb. Đại học quốc gia, Hà Nội, 2006
3. Luật Doanh nghiệp năm 2005
4. Luật Chứng khoán 2006
5. Website: www.sinhvienluat.vn
www.wattpad.com
16