GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÔNG TY CỔ
PHẦN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CTCP VÀ TTCK VIỆT NAM.
3.1.1 Định hướng phát triển CTCP.
Trên thực tế, các CTCP thường cần vốn dài hạn 3-5 năm, thậm chí là
dài hơn trong khi đó nếu sử dụng hệ thống ngân hàng huy động vốn ngắn hạn
để tài trợ cho các CTCP phát triển dài hạn thì rủi ro là rất lớn. Hiện nay, các
CTCP vẫn chủ yếu dựa vào vốn ngắn hạn từ các ngân hàng thương mại nhưng
không đảm bảo an toàn nguồn vốn, vì theo tiêu chuẩn an toàn nguồn vốn, thì
vốn vay bằng khoảng 1,5 lần vốn chủ sở hữu mới đảm bảo, nhưng các CTCP
trung bình có vốn vay bằng 1,8 vốn CSH. Với tình trạng quá tải của các
NHTM, nếu CTCP không sử dụng được kênh huy động vốn với là TTCK thì
khó có cơ hội để mở rộng qui mô.
Về loại hình CTCP: CTCP là loại hình doanh nghiệp phù hợp với nền
kinh tế thị trường. Việt nam đang từng bước xây dựng hoàn chỉnh nền KTTT
nên việc phát triển loại hình CTCP là một tất yếu khách quan. CTCP sẽ là loại
hình doanh nghiệp trung tâm trong hệ thống các doanh nghiệp. Với tính chất
sở hữu rộng rãi, nó có được sự quan tâm của bộ phận lớn các nhà đầu tư và là
cũng chính công công cụ để các cá nhân trong xã hội thực hiện chuyển quyền
sở hữu các tư liệu sản xuất ra của cải.
Với sự cởi mở trong các chính sách kinh tế và sự khuyến khích đầu tư
trong nước, vốn để phát triển loại hình CTCP nói riêng trong giai đoạn 2005 –
2010 ước tính khoảng 40 tỷ đôla. Đây chính là một thách thức không nhỏ với
hệ thống các định chế tài chính, mặt khác đó cũng là mục tiêu mà TTCK cần
vượt qua.
Nếu chỉ có hệ thống các NHTM là kênh cung cấp vốn duy nhất cho các
CTCP, thì CTCP sẽ phải cạnh tranh quyết liệt mà vẫn khó có thể có đủ vốn
cho nhu cầu phát triển. Vì vậy, tăng cường huy động vốn trên TTCK là giải
Trang 1
1
pháp trước mắt và lâu đài đối với CTCP, TTCK sẽ là “bạn đồng hành” của
i) Kể từ khi xuất hiện công ty cổ phần, giao dịch chứng khoán trao tay
cũng lập tức được hình thành. Số lượng công ty cổ phần đến nay là khá lớn
nhưng số CTCP đủ điều kiện niêm yết trên TTCK tập trung là rất nhỏ, số
CTCP không đủ điều kiện niêm yết rất cần vốn. Đấy là chưa kể trong thời
gian đến 2005, Nhà nước có chủ trương đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá, sắp
xếp laị khoảng 2.500 DNNN với số vốn trên sổ sách khảng 30.000 tỷ đồng.
Số doanh nghiệp cần có môi trường để giao dịch các loại chứng khoán là con
số đáng kể.
ii) Theo Luật Doanh nghiệp, việc phát hành chứng khoán ra công
chúng được điều chỉnh theo luật pháp về chứng khoán và TTCK, nhưng Nghị
định về chứng khoán và TTCK chỉ điều chỉnh việc phát hành chứng khoán ra
công chúng của các CTCP sẽ niêm yết tại TTGDCK. Do đó, phần lớn việc
phát hành chứng khoán của CTCP chưa được quản lý.
iii) Đang tồn tại thị trường “ngầm” hoạt động song song với thị trường
giao dịch tập trung, tuy nhiên hoạt động của thị trường “ngầm” chứa đựng
tính rủi ro cao, nếu phát triển mạnh sẽ ảnh hưởng xấu đến TTCK tập trung.
Việc tổ chức TTCK phi tập trung đang trở thành một yêu cầu cấp bách,
hoạt động của TTCK phi tập trung sẽ tạo tính thanh khoản cho các loại chứng
khoán chưa được niêm yết, tạo nên “sân chơi” hợp pháp cho các nhà đầu tư
và kinh doanh chứng khoán, cho các CTCP không thích hoặc không đủ điều
kiện niêm yết tại TTGDCK. Từ đó tạo một kênh huy động vốn mới cho các
CTCP mà giảm được các điều kiện niêm yết chặt chẽ của TTCK tập trung.
3.2.2 Hình thành các Quĩ đầu tư chứng khoán.
Đến cuối năm 2003, có 8 Quĩ đầu tư nước ngoài hoạt động với tổng
vốn khoảng 400 triệu USD như: Quĩ Veil (Viet nam Enterprise Investment
Limited) của công ty quản lý quĩ Dragon Capital, Quĩ Frontier của công ty
quản lý Finansa, Công ty quản lí quĩ MeKong Capital ...
Mặc dù trên thị trường đã có 13 CTCK bước đầu đáp ứng được nhu cầu
của khách hàng đầu tư và các công ty phát hành, tuy vậy chưa xuất hiện một
Trang 3
Trang 4
4
+ Việc bán lại cổ phần do nhà nước nắm giữ nên ưu tiên trước hết cho
QĐTCK.
3.2.3 Đơn giản các điều kiện niêm yết.
Theo kinh nghiệm của một số nước phát triển, mới đầu điều kiện niêm
yết trên TTCK không nên quá chặt chẽ. Chỉ nên chú ý tới các điều kiện cơ
bản đảm bảo tính an toàn cho các nhà đầu tư như: tình hình kinh doanh có lãi
trong 2 năm, tình hình tài chính lành mạnh, ban giám đốc có kinh nghiệm
quản lý, có phương án sử dụng vốn huy động hợp lý... Còn các điều kiện khác
nên giảm bớt.
Điều quan trọng trong giai đoạn hiện nay chính là sự công khai thông
tin của CTCP trong quá trình hoạt động. Chỉ có công khai thông tin mới giảm
bớt sự bất ổn của TTCK, nhà đầu tư sẽ thấy rõ được tiềm năng của các CTCP
từ đó đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn. Đảm bảo được điều kiện này, chỉ số
chứng khoán VN index mới thật sự phản ánh được sự biến động của thị
trường.
3.2.4 Phát triển hơn nữa thị trường trái phiếu.
Thời gian qua, trên TTCK Việt nam giao dịch trái phiếu mới chỉ dừng ở
trái phiếu kho bạc và trái phiếu NHTM. Để thật sự phát huy hiệu quả của một
kênh huy động vốn dài hạn cho nền kinh tế nói chung và CTCP nói riêng cần
phải phát triển hơn nữa thị trường trái phiếu.
Bảng 18: Giá trị trái phiếu giao dịch (làm tròn)
đơn vị: 1 tỷ đồng
Năm Khối lượng giao dịch tốc độ tăng trưởng
2001 70,7
2002 121,5 172%
2003 2.496,3 2.054,5%
Tổng 2.688,5
Nguồn: Tạp chí chứng khoán, thời báo Kinh tế và tổng hợp của tác giả.
Đối với các loại phí nên qui định mức trần đối với từng loại dịch vụ để
các chủ thể cung cấp dịch vụ như CTCK, Công ty tư vấn CK ... cạnh tranh với
nhau về chất lượng dịch vụ, phí dịch vụ.
3.2.7 Chính sách ưu đãi thuế.
Theo Quyết định số 39/2000/QĐ-TTg ngày 27/3/2000 của Thủ tướng
Chính phủ qui định tạm thời về ưu đãi thuế đối với hoạt động kinh doanh
chứng khoán và Thông tư số 74/2000/TT-BTC ngày 19/7/2000 của Bộ Tài
chính hướng dẫn thi hành Quyết định 39 nêu trên thì:
+ Miễn thuế giá trị gia tăng (VAT) đối với hoạt động kinh doanh chứng
khoán trong thời gian 3 năm đầu (từ 1/1/2000 đến 31/12/2003) đối với các
hoạt động môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, quản lý danh mục đầu tư và
tư vấn đầu tư.
+ Công ty chứng khoán và Công ty quản lí quĩ (CTQLQ) ngoài việc
được hưởng các ưu đãi về thuế phù hợp với qui định của Luật thuế thu nhập
doanh nghiệp hiện hành còn được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp thêm 1
năm và giảm 50% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong 2 năm tiếp
theo.
+ Tổ chức phát hành có chứng khoán được niêm yết, ngoài việc được
hưởng các ưu đãi về thuế phù hợp với Luật thuế thu nhập doanh nghiệp còn
được giảm 50% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong 2 năm tiếp theo
kể từ khi niêm yết CK lần đầu tại TTGDCK.
+ Nhà đầu tư cá nhân (trong nước và ngoài nước) được miễn thuế thu
nhập đối với người có thu nhập cao đối với khoản thu nhập từ cổ tức, lãi trái
phiếu và chênh lệnh mua bán chứng khoán. Thuế suất chuyển lợi nhuận ra
nước ngoài đối với khoản thu nhập từ đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư
nước ngoài là 5%.
Thực tiễn thi hành chính sách ưu đãi tạm thời về thuế đối với TTCK
còn mang tính hình thức, không phát huy hiệu quả cao. Theo Thông tư 74 nêu
Trang 7
7
8