Kết hôn có yếu tố nước ngoài – Một số lý luận và thực tiễn” - Pdf 34

A. LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một đòi hỏi có tính tất yếu
khách quan của mọi quốc gia trong tiến trình phát triển. Sự mở rộng hợp tác kinh tế,
giao lưu văn hóa, xã hội giữa Việt Nam với các nước đã tăng cao và theo đó là có cả
các giao lưu dân sự có yếu tố nước ngoài tăng nhanh mà hôn nhân gia đình cũng
không phải là một ngoại lệ. Nếu như trước đây, việc kết hôn với người nước ngoài
chỉ là những trường hợp hi hữu, hiếm gặp thì nay hiện tượng này đã trở lên phổ biến.
Bài viết dưới đây xin đề cập đến vấn đề “Kết hôn có yếu tố nước ngoài – Một số lý
luận và thực tiễn”.
B. NỘI DUNG
I.
Một số vấn đề lý luận về kết hôn có yếu tố nước ngoài
1.
Khái niệm kết hôn có yếu tố nước ngoài
a.
Khái niệm kết hôn
Theo quy định tại khoản 2 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình (luật HNGĐ) năm
2000 thì “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của
pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn”. Như vậy quan hệ vợ chồng được
hình thành trên cơ sở của việc kết hôn.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì trong trường hợp nam nữ chung sống với
nhau như vợ chồng mà không tiến hành việc đăng ký kết hôn thì không công nhận
có quan hệ hôn nhân giữa họ. Hệ thống pháp luật về hôn nhân và gia đình quy định
nam nữ kết hôn phải đảm bảo hai yếu tố: Thứ nhất là việc kết hôn phải dựa trên sự
tự nguyện, thể hiện ý chí của nam và nữ là mong muốn kết hôn với nhau; Thứ hai là
việc kết hôn phải được Nhà nước thừa nhận. Do đó theo quy định của pháp luật thì
kết hôn là một sự kiện bắt buộc để xác lập quan hệ vợ chồng.
b.
Kết hôn có yếu tố nước ngoài
Hiện nay, pháp luật không có quy định thế nào là quan hệ kết hôn có yếu tố nước
ngoài, tuy nhiên căn cứ vào khoản 14 Điều 8 và khoản 4 Điều 100 Luật HNGĐ năm

thẩm quyền Việt nam, pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài sẽ áp dụng riêng
rẽ cho mỗi bên đương sự là công dân của nước mình. Tuy nhiên, trong nhiều trường
hợp khi việc kết hôn được tiên hành trước cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì
công dân Việt Nam có thể còn phải tuân thủ cả pháp luật nước sở tại liên quan đến
điều kiện kết hôn do pháp luật nước đó quy định.
* Vấn đề công nhận kết hôn hợp pháp giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài được tiến hành tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài: Mặc dù luật
HNGĐ năm 2000 không quy định chi tiết về vấn đề này nhưng căn cứ theo khoản 1
Điều 20 Nghị định 68 NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung theo Nghị định 69/2006/NĐ-CP) thì
đặt ra các yêu cầu chung sau:
Thứ nhất, về yêu cầu chung: “Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau hoặc
với người nước ngoài đã được đăng kí tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài,
phù hợp với pháp luật của nước đó thì được công nhận tại Việt Nam, nếu tại thời
điểm kết hôn, công dân Việt Nam không vi phạm quy định của pháp luật Việt Nam về
điều kiện kết hôn”. Như vậy, để một quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài tiến hành ở nước ngoài được công nhận tại Việt Nam, pháp luật
nước ta đưa ra hai yêu cầu: Một là, quan hệ kết hôn đó phải được đăng kí phù hợp
với pháp luật nước sở tại. Hai là, tại thời điểm đăng kí kết hôn, công dân Việt Nam
không được phép vi phạm pháp luật Việt Nam về đăng kí kết hôn.
2

2


Thứ hai, về ngoại lệ : “Trong trường hợp có sự vi phạm pháp luật Việt nam về đăng
kí kết hôn, nhưng vào thời điểm yêu cầu công nhận việc kết hôn, hậu quả của sự vi
phạm đó đã được khắc phục hoặc việc công nhận kết hôn đó là có lợi để bảo vệ
quyền lợi của phụ nữ và trẻ em, thì việc kết hôn đó cũng được công nhận tại Việt
Nam”. Đây là một quy định thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta luôn
hướng tới việc bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ và trẻ em.

3


nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của luật Hôn nhân, gia đình
năm 2000 thì: không bắt buộc nam phải từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ phải từ đủ 18 tuổi
trở lên mới được kết hôn, do đó nam đã bước sang tuổi 20, nữ đã bước sang tuổi 18
mà kết hôn là không vi phạm quy định về độ tuổi kết hôn.
* Về sự tự nguyện của đương sự: Tự nguyện trong việc kết hôn là việc hai bên nam
nữ tự mình quyết định việc kết hôn và thể hiện ý muốn thành vợ chống, khoản 2
Điều 9 luật HNGĐ có quy định: “Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định,
không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào, không ai được cưỡng ép hoặc cản
trở”. Như vậy, có thể hiểu việc kết hôn là do sự tự nguyện của hai bên, nếu có hành
vi lừa dối, ép buộc… thì sẽ bị coi là hôn nhân không tự nguyện, vi phạm pháp luật
về điều kiện kết hôn. Quy định này được quy định chi tiết tại điểm b Mục I Nghị
quyết 02/2000 nêu ở trên.
* Về trường hợp cấm kết hôn: Được quy định tại Điều 10 luật HNGĐ 2000, theo đó
cấm kết hôn trong các trường hợp: Người đang có vợ hoặc có chồng; người mất
năng lực hành vi dân sự; giữa những người cùng dòng máu trực hệ; giữa những
người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã
từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố
dượng với con riêng của vợ, mẹ kế vớ con riêng của chồng; giữa những người cùng
giới tình.
Trên đây là những điều kiện kết hôn và cấm kết hôn theo quy định của pháp luật
Việt Nam mà công dân Việt Nam khi kết hôn với người nước ngoài thì họ buộc phải
tuân theo. Nhưng nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan có thẩm quyền của
Việt Nam thì người nước ngoài không những phải tuân theo điều kiện kết hôn của
nước mà người đó là công dân mà còn phải tuân theo quy định của pháp luật Việt
Nam về điều kiện kết hôn và cấm kết hôn.
3.
Thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết kết hôn có yếu tố nước

Nam có yêu cầu đăng ký kết hôn phải chuẩn bị hồ sơ đăng ký kết hôn theo quy định
tại Khoản 3 Điều 1 Nghị định số 69/2006/NĐ-CP.
Bước 2: Nộp hồ sơ: Cá nhân có yêu cầu đăng ký kết hôn đem hồ sơ đã lập nộp tại Sở
Tư pháp, nếu đăng ký kết hôn tại Việt Nam; nộp tại Cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự
Việt Nam, nếu đăng ký kết hôn tại Cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam theo thủ
tục nhận, nộp tại Điều 14 Nghị định 68/2002/NĐ-CP.
Bước 3: Giải quyết việc đăng ký kết hôn: sau khi tiếp nhận hồ sơ xin đăng ký kết
hôn, cơ quan có thẩm quyền tiến hành kiểm tra hồ sơ và tiến hành giải quyết việc
đăng ký kết hôn theo quy định tại điểm 4, điểm 6 Điều 1 Nghị định 69/2006/NĐ-CP.
II.
Một số vấn đề thực tiễn về kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
1. Thực trạng kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam
Trong những năm gần đây, những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước,
phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế cùng với sự điều chỉnh của hệ thống
pháp luật trong nước làm cho các quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài nảy sinh
ngày càng nhiều. Tuy nhiên, các quan hệ này diễn ra tương đối phức tạp cả về quy
mô và tính chất, điều này thể hiện qua số lượng các trường hợp kết hôn giữa công
dân Việt Nam với người nước ngoài ngày càng gia tăng. Ở Việt Nam, vấn đề nghi
thức kết hôn nói chung được quy định trong Luật HNGĐ 2000 nhưng nguyên tắc
chọn luật để giải quyết xung đột pháp luật về nghi thức kết hôn có yếu tố nước ngoài
5

5


thì chưa được quy định cụ thể, gây khó khăn cho các cơ quan chức năng trong việc
giải quyết các vụ việc có liên quan tới vấn đề này.
Trên báo Sài Gòn giải phóng mới ra ngày 23/4/2011 có đưa tin, tính từ năm
1998 cho tới nay, có trên 272.000 phụ nữ Việt Nam kết hôn với công dân của trên 50
quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Trong đó, Đài Loan chiếm khoảng 30%, Hàn

6

6


phụ nữ vượt biên trái phép sang biên giới làm an, rồi chung sống như vợ chồng với
công dân nước đó mà không đăng kí kết hôn; lợi dụng việc kết hôn để hợp lý hóa
việc xuất cảnh ra nước ngoài, …
Mục đích chính của các cô gái khi đồng ý kết hôn với người nước ngoài là
mong muốn mình sẽ có một cuộc sống giàu sang và hạnh phúc, sau đó có thể giúp
đỡ được cho gia đình, bố mẹ. Thực tế cũng có rất nhiều cô gái may mắn, lấy được
một người chồng tốt, kinh tế khá sau một vài năm đã tích luỹ được một số tài sản
đáng kể gửi về gia đình. Theo khảo sát mới nhất của Viện Khoa học lao động - xã
hội tại 7 tỉnh thành có đông phụ nữ lấy chồng nước ngoài( như thành phố Hồ Chí
Minh, Cần Thơ...), có tới 83,6% cô dâu Việt Nam hài lòng với hôn nhân. Rất nhiều
phụ nữ lấy chồng nước ngoài đã gửi tiền về giúp gia đình cải thiện cuộc sống; trong
đó 36,3% hộ có mức sống giàu có hoặc khá giả; 54,7% hộ có mức sống trung bình..
Tuy vậy, không ít các cô gái có số phận ngược lại, họ đã phải trả giá cho những
toan tính sai lầm và mục đích vật chất của họ. Có những phụ nữ không được gia đình
người chồng coi là vợ, họ phải lao động như những người hầu hay nô lệ trong nhà.
Một số khác bị chính người chồng đánh đập, gả bán cho những người đàn ông khác,
bị đưa vào các nhà chứa và trở thành gái mại dâm...Ta thấy, trên những phương tiện
thông tin đại chúng hàng ngày vẫn đưa tin về các vụ cô dâu Việt bị bạo hành, ví dụ
như vụ cô dâu Việt bỏ trốn vì bị chồng Hàn Quốc bạo hành tình dục liên tục ầm ĩ
trên các báo cuối năm 2010, hay mới đây nhất là vụ cô dâu Việt bị giết tại Hàn Quốc
cũng là tin nóng trên các báo.2
Dưới đây là thực tiễn việc kết hôn giữa công dân Việt Nam và công dân nước ngoài:
* Thực tiễn kết hôn giữa công dân Việt Nam với công dân Đài Loan.
Theo thông kế của báo Phụ nữ Việt Nam, năm 2001 số lượng phụ nữ Việt Nam
đã kết hôn với người Đài Loan là 101.300 người, chiếm 49% số cô dâu nước ngoài

chóng ly hôn chỉ sau một thời gian ngắn chung sống.
* Thực tiễn kết hôn giữa công dân Việt Nam với công dân Pháp.
Theo báo cáo của lãnh sự Pháp, năm 2004 phòng quản lý hộ tịch, Đại sứ quán
Pháp tại Việt Nam đã tiến hành đăng ký cho hơn 300 giấy đăng ký kết hôn của các
cặp vợ chồng Pháp Việt, tăng 10% so với năm 2003. Để được kết hôn với công dân
Việt Nam tại Việt Nam, công dân Pháp phải tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ
quan có thẩm quyền của nước sở tại và phải có giấy chứng nhận đủ khả năng kết hôn
do Đại sứ quán cấp. Sau khi hoàn thành thủ tục đăng kí kết hôn tại cơ quan có thẩm
quyền của nước sở tại, đa số các cặp vợ chồng đều được yêu cầu làm thủ tục đăng kí
tại cơ quan quản lý hộ tịch Pháp. Thủ tục này không mang tính bắt buộc nhưng
thường được khuyến khích tiến hành để hôn nhân có hiệu lực theo pháp luật của
Pháp. Ngoài ra thủ tục này, người vợ hoặc chồng mang quốc tịch nước ngoài có thể
có được thị thực cư trú tại Pháp nếu cả hai vợ chồng có dự định cư trú tại nước này.
Đa số hồ sơ kết hôn đều không đặt ra vấn đề về mặt hành chính và yêu cầu đăng ký
được tiến hành một cách bình thường. Tuy nhiên, cơ quan quản lý hộ tịch cũng gặp
phải một số trường hợp kết hôn không tự nguyện.
Các cơ quan quản lý của Việt Nam nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề
quản lý nhà nước đối với quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, Đại sứ
quán Pháp cũng nhận thấy rằng các cơ quan quản lý của Việt Nam trước đây còn
tương đối lỏng trong công tác xác minh nhân thân khi tổ chức hôn lễ cho công dân
8
8


2.

Việt Nam và công dân nước ngoài. Từ hè năm 2004, Đại sứ quán đã ghi nhận được
một trường hợp ủy quyền kết hôn.
Như vậy, thực tiễn thực hiện các quy định trong các Hiệp định tương trợ tư
pháp mà Việt Nam kí kết với các nước liên quan đến vấn đề kết hôn có yếu tố nước

Một là, cung cấp cho xã hội nói chung và các đối tượng mong muốn kết hôn với
9
9


người nước ngoài nói riêng thông tin về thực trạng đời sống hôn nhân của những cô
dâu Việt ở nước ngoài. Có những thông tin đầy đủ và chính xác về người chồng
tương lai, về gia cảnh người chồng, về địa phương mình sẽ đến sinh sống với vai trò
người vợ, người con dâu trong gia đình cũng sẽ góp phần giúp các phụ nữ cân nhắc
về việc lấy chồng nước nào, ở đâu cho phù hợp, đồng thời chuẩn bị cho những cách
biệt văn hóa, ngôn ngữ và suy nghĩ. Hai là, cần quan tâm đảm bảo khả năng giao
tiếp bằng ngoại ngữ trước khi kết hôn có yếu tố nước ngoài. Vì vậy, cần phải quy
định rõ trình độ ngôn ngữ nhất định của người chuẩn bị kết hôn và nhất thiết phải
qua một lớp đào tạo ngắn hạn về luật pháp, văn hóa, phong tục của đất nước mà
công dân Việt Nam sắp đến lập gia đình. Chỉ khi nào có đủ điều kiện cần thiết thì Sở
Tư pháp mới chứng nhận kết hôn.
Cuối cùng, cần tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực kết hôn có yếu tố
nước ngoài bằng việc ký các hiệp định tương trợ tư pháp quy định chặt chẽ và rõ
ràng hơn nữa về điều kiện kết hôn đặc biệt đối với các nước Hàn Quốc, Đài Loan,…
KẾT LUẬN
Cùng với sự phát triển của giao lưu quốc tế, các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu
tố nước ngoài nói chung, quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng phát sinh
ngày càng nhiều. Việc giải quyết tốt các vấn đề liên quan tới quan hệ này sẽ làm cho
quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ngày càng phát triển, góp phần
tăng cường mối quan hệ hợp tác, giao lưu giữa các nước với nhau, làm cho các nước
hiểu nhau hơn dẫn tới quan hệ giữa các nước ngày càng tốt đẹp hơn.
C.

10


( />Phụ

lục

2:



dâu

Việt

bị

chồng

Hàn

Quốc

sát

hại

( />Rạng sáng nay, 24-5, một cô dâu Việt Nam đã bị người chồng Hàn Quốc sát hại
tại huyện Jeongto (huyện Bắc Kyeongsang, Hàn Quốc) khi mới sinh con được
19 ngày. Theo TTXVN, vụ việc xảy ra lúc 1 giờ 10 phút sáng 24-5 (giờ địa
phương). Nạn nhân là Hoàng Thị Nam, 23 tuổi, quê ở Phan Thiết, tỉnh Bình
Thuận. Cảnh sát huyện Jeongto cho biết đã bắt người chồng Hàn Quốc, 37 tuổi,
mang họ Im sau khi người này ra tay sát hại cô Hoàng Thị Nam và đang tiến

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Luật Hôn nhân và gia đình năm Việt Nam 2000
2.Nghị định số 68/2002/NĐ-CP của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều
của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước
ngoài
3.Nghị định số 69/2006/NĐ-CP của Chính Phủ sửa đổi, bổ sung một số điều
của Nghị định của Chính phủ số 68/2002/NĐ-CP
4.Giáo trình tư pháp quốc tế. Trường đại học Luật Hà Nội. NXB.CAND
5.Điều kiện và thủ tục kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài,
Khóa luận tốt nghiệp, Đào Thị Phương Anh, Hà Nội, 2011.
7.Quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài trong các hiệp định tương trợ Tư
pháp giữa Việt Nam với nước ngoài, Khóa luận tốt nghiệp, Lưu Thị Hương, Hà Nội,
2011.
8. Kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam, Khóa luật tốt nghiệp, Vũ Thị
Phương, Hà Nội – 2011.

13

13


14

14




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status