Đánh giá tác động của Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước
Tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khoá XII) đã
ban hành Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và Luật này có hiệu lực thi hành từ
ngày 01/01/2009. Trong quá trình xây dựng Luật này, cơ quan chủ trì soạn thảo là Bộ Tài
chính đã nhận được sự hỗ trợ rất tích cực của cơ quan Hợp tác phát triển Úc (AusAID)
thông qua Dự án “Hỗ trợ xây dựng và ban hành Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước”.
Trong khuôn khổ hoạt động của Dự án nêu trên, nhóm tư vấn độc lập đã tiến hành thực
hiện đánh giá tác động của Dự án dựa trên các căn cứ sau:
- Báo cáo tình hình triển khai “Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước” của Bộ Tài
chính;
- Báo cáo của Chính phủ về tình hình quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2009, trình
Quốc hội khoá 12 tại kỳ họp thứ tư (tháng 11/2009);
- Báo cáo đánh giá, khảo sát thực tế về tác động của Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà
nước tại các tỉnh, thành phố như: thành phố Hồ Chí Minh, Bình Thuận, Ninh Thuân, Lai
Châu, Lào Cai và Phú Thọ.
- Kết quả các cuộc hội thảo chuyên đề về:
+ Kết quả thực hiện Quyết định số 179/2007/QĐ-TTg ngày 26/11/2007 của Thủ tướng
Chính phủ về mua sắm tài sản, hàng hoá từ ngân sách nhà nước theo phương thức tập
trung (tổ chức tại Bình Thuận tháng 3/2009);
+ Đề án khu hành chính tập trung (tổ chức tại Đà Lạt tháng 7/2009).
Dưới đây, nhóm tư vấn xin báo cáo khái quát về kết quả triển khai thực hiện Luật Quản
lý, sử dụng tài sản nhà nước và tác động của Luật trong thực tiễn quản lý, sử dụng tài sản
nhà nước của Chính phủ, các Bộ, các địa phương và các cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Phần thứ nhất
TÌNH HÌNH QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN NHÀ NƯỚC TRƯỚC KHI BAN HÀNH
LUẬT
Hiến pháp năm 1992 quy định: Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong
lòng đất, nguồn lợi vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn do Nhà nước đầu tư
thay thế cho Luật Đất đai năm 1993. Theo đó, Chính phủ đã ban hành nhiều Nghị định
quy định cụ thể về thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư…
- Về quản lý tài nguyên, tài sản kết cấu hạ tầng, tài sản dự trữ quốc gia và tài sản nhà
nước tại doanh nghiệp: Đây là lĩnh vực mới, trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế
thị trường và hội nhập với thế giới thì vấn đề quản lý các nguồn vật chất này, kiểm soát
để khai thác có hiệu quả đang ngày càng trở nên quan trọng và cấp thiết, đòi hỏi phải
được điều chỉnh bằng các văn bản quy phạm pháp luật. Nhằm hoàn thiện hệ thống pháp
luật, trong những năm vừa qua, Chính phủ đã trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội
ban hành Luật Khoáng sản, Luật Đê điều, Luật Dầu khí, Luật Bảo vệ và phát triển rừng,
Luật Di sản văn hoá, Luật Đường sắt, Luật Doanh nghiệp, Luật Tài nguyên nước, Pháp
lệnh về Khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi, Pháp lệnh Dự trữ quốc gia… Theo đó đã
xác lập được các nguyên tắc cơ bản, quan trọng trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước ở
những lĩnh vực này.
Hai là, Nhà nước đã thực hiện kiểm kê nắm được tổng quan về số lượng, giá trị và cơ cấu
phân bố sử dụng tài sản nhà nước trong khu vực hành chính sự nghiệp và tài sản nhà
nước trong các doanh nghiệp. Các Bộ và địa phương đã bước đầu kiểm soát được việc sử
dụng tài sản nhà nước, hạn chế dần việc sử dụng tài sản không đúng mục đích, lãng phí,
thất thoát.
Cơ chế quản lý tài sản nhà nước đang từng bước được hình thành theo tinh thần đổi mới,
gắn với thị trường. Theo đó, các hoạt động mua, bán tài sản nhà nước, chuyển nhượng
quyền sử dụng đất, cho thuê đất dần theo sát giá thị trường, cơ chế này cho phép huy
động được một bộ phận quan trọng nguồn lực tiềm năng cho đầu tư phát triển; đồng thời
góp phần ngăn chặn tiêu cực, chống thất thoát lãng phí. Bên cạnh đó còn từng bước thực
hiện công khai hoá việc sử dụng tài sản nhà nước, tạo lập cơ sở, môi trường pháp lý căn
bản cho việc thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước về tài sản. Đây là những nội dung rất
cơ bản để Nhà nước thực hiện quản lý đầu tư, xây dựng mới, cải tạo, mua sắm, điều
chuyển, thu hồi, bán, chuyển đổi hình thức sở hữu và thanh xử lý tài sản nhà nước.
Ba là, Xuất phát từ thực tế sử dụng tài sản nhà nước trong những năm qua, đặc biệt là
nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước còn nhiều lãng phí, Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện sắp
xếp lại nhà, đất trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đúc rút kinh nghiệm để triển
chưa điều chỉnh bao quát hết các quan hệ về tài sản trong kinh tế thị trường, tính pháp lý
chưa cao như tài sản nhà nước tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức, tài sản được xác lập
quyền sở hữu Nhà nước…, dẫn đến thiếu môi trường pháp lý minh bạch, đầy đủ để quản
lý tài sản nhà nước một cách có hiệu quả, tiết kiệm; ở một số nơi còn xảy ra tình trạng sử
dụng lãng phí, thất thoát tài sản nhà nước, gây bức xúc trong công luận và dư luận.
Hai là, Mặc dù đã có nhiều tiến bộ song việc nhìn nhận tài sản nhà nước (nhất là đất đai)
như một nguồn lực tài chính thực thụ vẫn chưa được thừa nhận ở một số ngành, địa
phương, đơn vị hoặc nếu có được nhận thức đúng thì cơ chế phát huy nguồn lực này vẫn
còn hạn chế và thiếu đồng bộ.
Ba là, Vẫn còn tình trạng sử dụng tài sản nhà nước sai mục đích, lãng phí, thể hiện tập
trung ở:
- Một bộ phận đất đai, trụ sở làm việc của các cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp, nhất
là tại các đô thị còn bị sử dụng sai mục đích như: bỏ trống, cho thuê, sử dụng để kinh
doanh, dịch vụ… Một số trường hợp thực hiện mua sắm, điều chuyển, thanh lý… tài sản
nhà nước sai thẩm quyền, sai tiêu chuẩn, chế độ dẫn đến thất thoát tài sản nhà nước.
- Trong đầu tư xây dựng mới, mua sắm tài sản: Tình trạng đầu tư, mua sắm vượt tiêu
chuẩn định mức, vượt mức giá cho phép vẫn còn tồn tại mặc dù đã hạn chế đáng kể. Tình
trạng sử dụng tài sản nhà nước lãng phí, sai mục đích còn lớn.
Bốn là, Kỷ cương phép nước chưa thật nghiêm minh, chế tài xử lý những sai phạm về
quản lý, sử dụng trụ sở làm việc; mua sắm sử dụng xe ô tô công, trang thiết bị… còn
chưa kịp thời, có trường hợp còn dùng quỹ công để bồi thường thiệt hại do việc mua sắm,
sử dụng tài sản sai dẫn đến tác dụng răn đe bị hạn chế.
Năm là, Tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước về tài sản nhà nước còn nhiều hạn
chế, thiếu tính chuyên nghiệp, bị động. Quy trình nghiệp vụ quản lý chưa khoa học và lạc
hậu. Tổ chức bộ máy cơ quan thực thi nhiệm vụ quản lý Nhà nước về tài sản nhà nước
chưa được chú trọng kiện toàn.
Phần thứ hai
TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI THỰC HIỆN LUẬT
sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu Nhà nước.
Các văn bản của Bộ Tài chính:
- Thông tư số 245/2009/TT-BTC ngày 31/12/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện
Nghị định số 52/2009/NĐ-CP;
- Thông tư số 07/2009/TT-BTC ngày 15/01/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn mẫu biểu
thực hiện công khai quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và báo cáo số liệu tình hình quản
lý, sử dụng tài sản nhà nước;
- Thông tư số 175/2009/TT-BTC ngày 9/9/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện
Quyết định số 140/2008/QĐ-TTg.
Các văn bản của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương:
- Nghị quyết của Hội đồng nhân dân về phân cấp quản lý, sử dụng tài sản nhà nước trên
địa bàn (60/63 tỉnh);
- Quy chế công khai quản lý, sử dụng tài sản nhà nước trên địa bàn.
Các đơn vị trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản nhà nước:
- Quy chế về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại đơn vị;
- Tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản đặc thù tại đơn vị.
Các văn bản đang trình Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ:
- Nghị định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước của cơ quan Việt Nam tại nước ngoài;
- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chuẩn, định mức sử dụng phương tiện vận
tải của cơ quan Việt Nam tại nước ngoài;
- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chuẩn, định mức sử dụng phương tiện đi
lại tại các cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp và các công ty Nhà nước (sửa đổi);
- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc
tại các cơ quan Nhà nước và các đơn vị sự nghiệp (sửa đổi).
Nhận xét
1. Mặc dù Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước mới được ban hành trong thời gian
ngắn, với khối lượng văn bản chính sách khá đồ sộ, bao quát hết các vấn đề về quản lý,
đến tài sản của cơ quan Việt Nam tại nước ngoài. Vì vậy, để tránh mâu thuẫn giữa các
văn bản của Chính phủ, việc ban hành Nghị định của Chính phủ về quản lý, sử dụng tài
sản Việt Nam tại nước ngoài phải chậm lại, song điều đó cũng cho thấy sự thiếu đồng bộ
và tích cực của các cơ quan được giao soạn thảo cũng như trong hoạt động của các cơ
quan giúp Quốc hội thẩm định và giám sát thi hành hai Luật này.
Hai là, Sự chậm trễ của các cơ quan được giao hướng dẫn thi hành Luật phần nào ảnh
hưởng đến việc thực thi Luật. Như trên đã nêu, mặc dù đã có sự cải cách khi xây dựng
Luật nhằm tránh cho Chính phủ phải hướng dẫn thi hành toàn bộ Luật mà chỉ hướng dẫn
một số điều của Luật. Tuy nhiên, số điều cần hướng dẫn không phải là số ít mà bao gồm
tới 16 nội dung. Vì vậy, không thể tránh khỏi sự lúng túng của các cấp thừa hành khi
chưa có văn bản hướng dẫn.
Ba là, Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước đã đưa ra 6 nguyên tắc về quản lý, sử dụng
tài sản nhà nước, đó là: (1) Mọi tài sản nhà nước đều được Nhà nước giao cho cơ quan, tổ
chức, đơn vị quản lý, sử dụng; (2) Quản lý nhà nước về tài sản nhà nước được thực hiện
thống nhất, có phân công, phân cấp rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cơ quan nhà
nước và trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan nhà nước; (3) Tài sản nhà nước phải
được đầu tư, trang bị và sử dụng đúng mục đích, tiêu chuẩn, định mức, chế độ, bảo đảm
công bằng, hiệu quả, tiết kiệm; (4) Tài sản nhà nước phải được hạch toán đầy đủ về hiện
vật và giá trị theo quy định của pháp luật. Việc xác định giá trị tài sản trong quan hệ mua,
bán, thuê, cho thuê, liên doanh, liên kết, thanh lý tài sản hoặc trong các giao dịch khác
được thực hiện theo cơ chếthị trường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; (5) Tài
sản nhà nước được bảo dưỡng, sửa chữa, bảo vệ theo chế độ quy định và (6) Việc quản
lý, sử dụng tài sản nhà nước được thực hiện công khai,minh bạch; mọi hành vi vi phạm
chế độ quản lý, sử dụng tài sản nhà nước phải được xử lý kịp thời, nghiêm minh theo quy
định của pháp luật.
Trong các nguyên tắc trên, nguyên tắc (4) và nguyên tắc (6) được coi là các nguyên tắc
tiên tiến, thể hiện rõ phương thức mới về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước trong nền
kinh tế thị trường. Song khi hướng dẫn vẫn còn chưa rõ ràng, thậm chí vẫn còn chưa dứt
và trang thông tin điện tử về tài sản nhà nước. Trang WEB này cho phép cập nhật kịp
thời và chính xác sự hình thành và biến động tài sản nhà nước trên phạm vi quốc gia,
đồng thời có khả năng kết nối vào hệ thống TABMIS đang được Bộ triển khai trên diện
rộng.
Phần thứ ba
TÁC ĐỘNG CỦA LUẬT ĐỐI VỚI QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN NHÀ NƯỚC NÓI
RIÊNG VÀ QUÁ TRÌNH QUẢN LÝ KINH TẾ – XÃ HỘI NÓI CHUNG
Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước được Quốc hội thông qua ngày 3/6/2008 và có
hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009. Đây là một trong những Luật đầu tiên được xây
dựng theo nguyên tắc áp dụng được ngay mà không cần chờ các văn bản hướng dẫn thi
hành dưới Luật. Do đó, ngay từ ngày 01/01/2009, các Bộ, địa phương đã triển khai thi
hành Luật. Báo cáo của Chính phủ và kết quả khảo sát, đánh giá cho thấy các quy phạm
của Luật đã đi ngay vào thực tiễn, góp phần đưa công tác quản lý, sử dụng tài sản nhà
nước có chuyển biến rõ rệt, thể hiện trên các mặt sau:
1. Về mua sắm, đầu tư và trang bị tài sản nhà nước tại các cơ quan Nhà nước, đơn vị sự
nghiệp.
Luật có hiệu lực thi hành trong bối cảnh Quốc hội, Chính phủ đang thắt chặt chi tiêu
công, nhằm đối phó với suy thoái và suy giảm kinh tế trên phạm vi toàn cầu, cũng như
khu vực và quốc gia. Chính vì thế, các điều khoản của Luật về mua sắm, đầu tư, trang bị
tài sản nhà nước được thi hành rất nghiêm ngặt. Trong đó, điều thành công dễ nhận thấy
nhất là việc mua sắm và sử dụng xe ô tô công. Báo cáo của Bộ Tài chính cho thấy, trong
cả nước năm 2009 hầu như không phát hiện được các vụ mua sắm ô tô công vượt tiêu
chuẩn chế độ. Thậm chí điều này còn dẫn đến sự khó khăn của các Bộ và các địa phương
trong việc thay thế các xe ô tô đã hết thời hạn sử dụng. Một điểm khác được sự đồng
thuận rất cao của dư luận là tình trạng sử dụng xe công vào các mục đích riêng đã chấm
dứt hoặc nếu còn thì buộc phải chuyển sang các hình thức đối phó tinh vi hơn như thay
biển số xe…
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, số xe ô tô mua sắm từ nguồn tài chính công, trong năm
trung vẫn chưa thực sự được các Bộ, các địa phương đón nhận. Số lượng các Bộ, địa
phương tiếp tục đăng ký mở rộng thí điểm mua sắm tập trung rất hạn chế. Bộ Tài chính
cũng lo ngại khi Thủ tướng Chính phủ quyết định chuyển sang thực hiện chính thức trên
cả nước (dự kiến vào năm 2012) sẽ gặp nhiều khó khăn, trở ngại cả về tư tưởng cũng như
về kỹ thuật.
2. Sắp xếp lại và xử lý tài sản nhà nước tại các cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp.
Chịu ảnh hưởng của quá trình phát triển lịch sử trải qua hai cuộc chiến tranh, hệ thống tài
sản nhà nước của các cơ quan Nhà nước được hình thành từ nhiều nguồn: Đầu tư từ ngân
sách, tiếp quản của chính quyền cũ, vay nợ, viện trợ từ các tổ chức, cá nhân trong và
ngoài nước… Mặt khác, với sự thay đổi thể chế kinh tế cũng tạo ra sự biến động lớn
trong tổ chức bộ máy của Nhà nước cũng như nhiệm vụ, chức năng của các Bộ, các đơn
vị mà trong nhiều trường hợp việc bố trí tài sản nhà nước để phục vụ cho hoạt động
không điều chỉnh kịp dẫn đến tình trạng nơi thừa, nơi thiếu về tài sản.
Để phát huy được nguyên tắc hiệu quả tiết kiệm trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước
theo quy định của Luật, Chính phủ chủ trương sắp xếp lại, xử lý tài sản nhà nước trong
khu vực công với các nội dung chủ yếu như sau:
Chính phủ yêu cầu tất cả các Bộ, địa phương phải tổ chức rà soát kê khai, lập phương án
sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc phạm vi quản lý. Theo đó, nhà, đất dôi dư, cho mượn,
cho thuê không đúng quy định thì cho phép chuyển sang sử dụng vào mục đích khác có
hiệu quả hơn hoặc chuyển nhượng. Nếu không tự xử lý được thì Nhà nước thu hồi. Điểm
nổi bật trong chính sách của Chính phủ về sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu nhà
nước là cho phép các cơ quan nhà nước, kể cả các đơn vị sự nghiệp được phép chuyển
nhượng và sử dụng số tiền thu được do chuyển nhượng không chỉ đối với tài sản gắn liền
với đất mà kể cả giá trị quyền sử dụng đất. Đây là một chính sách kích thích rất mạnh vì
các cơ quan này được giao đất không thu tiền. Xét về mặt quản lý ngân sách thì chính
sách này cũng có một vài điểm chưa phù hợp khi cho phép các cơ quan của Trung ương
được sử dụng tiền thu được từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà theo quy định của
Luật Ngân sách nhà nước thì khoản thu này thuộc nguồn thu của ngân sách địa phương.
Qua kết quả rà soát tại các Bộ, địa phương đã thực hiện điều chuyển tài sản thuộc phạm
vi quản lý. Trong đó, đáng chú ý là các Bộ mới được hình thành trên cơ sở sát nhập từ
các Bộ cũ như Bộ Bưu chính viễn thông, Bộ Văn hoá, thể thao và du lịch, Bộ Thông tin
và truyền thông, Bộ Công thương… đã thực hiện có kết quả phương thức điều chuyển để
đảm bảo vận hành bộ máy mới mà không phải tăng chi ngân sách Nhà nước. Đồng thời,
Chính phủ cũng chỉ đạo quyết liệt việc xem xét xử lý tài sản của các dự án kết thúc. Theo
đó, Bộ Tài chính đã phối hợp với các Bộ có liên quan xử lý theo hình thức điều chuyển
62 xe ô tô của các dự án kết thúc; cụ thể: Bộ Giao thông vận tải thực hiện điều chuyển 01
xe với nguyên giá gần 800 triệu cho Bộ Tư pháp; Bộ Nông nghiệp và phát triển nông
thôn thực hiện điều chuyển 60 xe với tổng nguyên giá trên 50 tỷ đồng; Bộ Lao động
Thương binh và Xã hội thực hiện điều chuyển 01 xe với nguyên giá trên 300 triệu đồng.
Các Bộ, địa phương đã thực hiện điều chuyển xe ô tô từ nơi thừa sang nơi thiếu giữa các
cơ quan, đơn vị trong phạm vi quản lý là 16 xe với giá trị còn lại gần 8 tỷ đồng.
Việc điều chuyển tài sản kịp thời đã góp phần xử lý hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước,
giúp các Bộ, địa phương có phương tiện để phục vụ công tác trong điều kiện ngân sách
hạn hẹp và việc mua mới xe ô tô theo quy định hiện hành còn bị hạn chế.
3.2. Thu hồi, thanh lý và tiêu huỷ tài sản không còn sử dụng.
Các Bộ, địa phương và các đơn vị cũng đẩy mạnh xử lý các tài sản không cần dùng hoặc
hết hạn sử dụng để làm trong sạch hệ thống kế toán tài sản và thu hồi phần giá trị còn lại.
Bộ Giao thông vận tải đã xắp xếp lại tài sản của các trạm thu phí, xử lý dứt điểm tài sản
của các dự án xây dựng cầu, đường từ nhiều năm trước. Bộ Y tế cũng tập trung xử lý
thuốc dự trữ đã hết hạn sử dụng… Đáng chú ý là, lần đầu tiên các Bộ, địa phương đã thực
hiện tiêu huỷ các tài sản không còn giá trị sử dụng buộc phải tiêu huỷ (văn hoá phẩm
ngoài luồng, dược phẩm không còn giá trị sử dụng…).
Tuy nhiên, việc thanh lý tài sản chưa thực hiện được đúng theo quy định về thời hạn sử
dụng, đặc biệt là đối với xe ô tô công. Báo cáo khảo sát cho thấy, tại nhiều địa phương,
các đơn vị vẫn còn phải sử dụng các xe ô tô công đã hết thời hạn sử dụng theo quy định.
Mặc dù có nguyên nhân khách quan là Chính phủ hạn chế mua sắm như đã nêu ở phần
sử dụng tài sản nhà nước.
Chúng tôi cho rằng việc vận hành hệ thống này rất quan trọng vì nó cho phép tổng hợp
nhanh và kịp thời số lượng và chất lượng của tài sản nhà nước trên phạm vi cả nước. Trên
cơ sở hệ thống này sẽ thay thế từng bước hệ thống báo cáo cũ dựa trên giấy tờ vừa tốn
kém, vừa rất khó tổng hợp, không kịp thời.
Phần thứ tư
RỦI RO VÀ BIỆN PHÁP GIẢM THIỂU RỦI RO
Như trên đã trình bày, Luật có phạm vi điều chỉnh rộng, tác động đến tất cả các cơ quan
Nhà nước, các tổ chức xã hội cũng như công dân. Trong 1 năm thi hành chưa thể bộc lộ
hết kết quả cũng như hạn chế.
Tuy nhiên, qua báo cáo của Chính phủ cũng như khảo sát thực tế tại một số tỉnh, thành
phố, chúng tôi thấy nổi lên một số rủi ro sau:
1. Hệ thống pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước mặc dù về cơ bản là dược ban
hành đồng bộ, song vẫn tạo ra sự khác biệt, chồng chéo với hệ thống pháp luật chuyên
ngành khác như pháp luật về đất đai, pháp luật về quản lý doanh nghiệp, pháp luật về bán
đấu giá tài sản… Luật cũng chưa bao hết toàn bộ hệ thống tài sản nhà nước như tài sản tại
doanh nghiệp Nhà nước, tài nguyên, tài sản kết cấu hạ tầng… nên phần nào bị hạn chế
tác dụng.
2. Luật đã đưa ra những phương thức quản lý tài sản nhà nước mới, gắn với thị trường,
như mua bán thông qua đấu giá, cho phép cơ quan được đi thuê trụ sở, mua sắm tài sản
theo phương thức tập trung, giao vốn và tài sản cho đơn vị sự nghiệp công lập… Khi vận
hành trong thực tế, những cơ chế này xung đột với cơ chế cũ vận hành từ nhiều năm, nên
không tránh khỏi lúng túng, hạn chế kết quả. Thậm chí còn có những động thái không
muốn thi hành cơ chế mới.
3. Tài sản nhà nước được hình thành từ nhiều nguồn, hệ thống sổ sách kế toán được phản
ánh đơn nhất bằng tiền Việt Nam với sức mua không ổn định, gây sự khó khăn cho việc
theo dõi và quản lý tài sản nhà nước một cách hệ thống. Đặc biệt là việc tiền tệ hoá các
tài sản có hình thái hiện vật như tài nguyên, rừng, tài sản kết cấu hạ tầng…
thì công tác đào tạo cán bộ có chuyên môn sâu về quản lý tài sản nhà nước cũng được đặt
ra hết sức quan trọng và cấp thiết.
6. Các nhà tài trợ tiếp tục ủng hộ Chính phủ trong việc triển khai thi hành Luật cũng như
bổ sung, sửa đổi Luật này khi cần thiết thông qua các dự án độc lập và dự án hỗn hợp với
sự tham gia của các tổ chức song phương và đa phương./.