Những quy định của Luật tố tụng về biện pháp ngăn chặn tạm giữ - Pdf 34

A. ĐẶT VẤN ĐỀ.
Như chúng ta đã biết, trong tất cả các vụ án hình sự đều cần phải sử dụng đến
các biện pháp ngăn chặn. Nó được coi như là một trong những công cụ hữu hiệu hỗ
trợ tích cực cho quá trình giải quyết vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng. Những
biện pháp này được áp dụng nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội
của bị can, bị cáo và cả những người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp
hoặc phạm tội quả tang), nhằm ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật
hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình
sự. Một trong những biện pháp ngăn chặn được áp dụng phổ biến đó là biện pháp
ngăn chặn tạm giữ. Vậy Luật Tố tụng hình sự có quy định như thế nào về biện pháp
ngăn chặn này và những hạn chế bất cập còn tồn tại cũng như những giải pháp hoàn
thiện vấn đề này ra sao, bài luận dưới đây sẽ giải quyết những vấn đề nêu trên.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
I. Những quy định của Luật tố tụng về biện pháp ngăn chặn tạm giữ.
Biện pháp ngăn chặn tạm giữ được quy định trong Điều 86 Bộ luật tố tụng hình
sự (viết tắt là BLTTHS) năm 2003 như sau: “Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn trong
tố tụng hình sự do cơ quan và những người có thẩm quyền áp dụng đối với người bị
bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú
hoặc đối với người bị bắt theo lệnh truy nã.”
Như vậy, ta thấy Điều 86 BLTTHS năm 2003 quy định về đối tượng, căn cứ và
thẩm quyền áp dụng Biện pháp ngặn chặn tạm giữ. Theo quy định của điều luật này
thì tạm giữ là việc cơ quan và người có thẩm quyền ra quyết định tạm thời hạn chế
tự do trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc trường hợp khẩn cấp.
Mục đích của biện pháp ngăn chặn (BPNC) tạm giữ là nhằm ngăn chặn hành
vi phạm tội hoặc hành vi cản trở việc điều tra khám phá tội phạm của người bị nghi
là thực hiện hành vi phạm tội; tạo điều kiện cho cơ quan có thẩm quyền đủ thời gian
để xác định tính chất, mức độ của hành vi, nhân thân của người thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội để từ đó có thể quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị
can hoặc không khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can. Tạm giữ đối với người bị bắt
theo quyết định truy nã để có thời gian cho cơ quan đã ra quyết định truy nã đến
nhận người bị bắt.

khoản 2 Điều 83 BLTTTS năm 2003.
2. Thẩm quyền ra quyết định tạm giữ.
Khoản 2 Điều 86 BLTTHS quy định “ Những người có quyền ra lệnh bắt khẩn
cấp quy định tại khoản 2 Điều 81 của Bộ luật này, Chỉ huy trưởng vùng cảnh sát
2


biển có quyền ra quyết định tạm giữ”. Theo khoản 2 Điều 86 quy định về thẩm
quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp thì có bốn nhóm người có quyền
ra lệnh bắt khẩn cấp, gồm nhóm người sau đây:
- Thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp ( cơ quan điều tra trong
công an nhân dân, cơ quan điều tra trong quân đội nhân dân, cơ quan điều tra của
Viện kiểm sát nhân dân tối cao… )
- Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương ; người
chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới.
- Người chỉ huy tàu bay, sân bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời sân bay,
bến cảng.
- Chỉ huy trưởng vùng cảnh sát biển.
Như vậy, khoản 2 Điều 86 BLTTHS 2003 đã bổ sung thêm thẩm quyền ra
quyết định tạm giữ cho chỉ huy trưởng vùng cảnh sát biển, đây là điểm mới so với
thẩm quyền ra quyết định tạm giữ trong BLTTHS năm 1988. Và theo quy định
BLTTHS 2003 thì cơ quan điều tra cấp huyện trở lên có quyền ra quyết định tạm
giữ. Thực hiện quyết định này, khi nhận người bị bắt trong từng trường hợp phạm
tội quả tang hoặc đang bị truy nã thì UBND phường, xã, thị trấn phải tiến hành lập
biên bản phạm tội quả tang, biên bản bắt người đang bị truy nã và giải quyết ngay tới
cơ quan thẩm quyền. Vậy những người có quyền ra quyết định tạm giữ không hoàn
toàn là những người đại diện của các cơ quan tiến hành tố tụng mà bao gồm cả
những người của các cơ quan Nhà nước khác hoặc trong lực lượng vũ trang.
3. Thời hạn tạm giữ.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 87 BLTTHS năm 2003 thì thời hạn tạm giữ

BLHS 1999 quy định “Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp
hành hình phạt tù, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng một ngày tù”. Tuy nhiên
không phải trường hợp nào cũng được gia hạn tạm giữ mà chỉ trong trường hợp cần
thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ một lần và trường hợp đặc
biệt có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai.
Trong khi tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì phải trả tự do ngay
cho người đã bị tạm giữ. Tức là việc tạm giữ không nhất thiết phải kéo dài cho đến
ngày hết hạn tạm giữ mà có thể trả tự do cho người bị tạm giữ trước ngày hết hạn
tạm giữ. Đây là một quy định mới so với quy định tại BLTTHS năm 1988 thể hiện
nhà nước đã chú ý đến quyền bất khả xâm phạm thân thể của công dân, hạn chế việc
bồi thường thiệt hại cho người bị bắt oan.

4


Thời hạn tạm giữ đối với người phạm tội được áp dụng thủ tục rút gọn được
quy định tại khoản 2 Điều 322 BLTTHS là không được quá ba ngày , kể từ ngày Cơ
quan điều tra nhận người bị bắt. Những vụ án được áp dụng theo thủ tục rút gọn là
những vụ án do Viện kiểm sát quyết định áp dụng thủ tục rút gọn theo đề nghị của
Cơ quan điều tra khi có đủ các điều kiện quy định trong luật tố tụng.
4. Thủ tục tạm giữ.
Thủ tục tạm giữ bao gồm: quyết định tạm giữ, các công việc mà người thi hành
quyết định tạm giữ phải thực hiện trước hoặc sau khi tạm giữ người.
Pháp luật quy định muốn tạm giữ người phải có quyết định của người có thẩm
quyền. Quyết định của người có thẩm quyền phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ của người bị
tạm giữ, lí do tạm giữ, ngày hết hạn tạm giữ và phải được giao cho người bị tạm giữ
một bản. Quyết định này không đòi hỏi phải có sự phê chuẩn của VKS trước khi thi
hành. Tuy nhiên, để đảm bảo cho công tác kiểm sát việc giam giữ, tránh vi phạm
quyền tự do, bất khả xâm phạm về than thể của công dân, trong thời hạn 12 giờ, kể
từ khi ra quyết định tạm giữ, quyết định tạm giữ phải được gửi cho Viện kiểm sát

trên thì còn phải tuân thủ những quy định tương ứng trong Hiến pháp năm 1992, sửa
đổi, bổ sung năm 2001, Luật tổ chức Quốc hội năm 2001 và Luật tổ chức Hội đồng
nhân dân năm 2003
- Với Đại biểu Quốc hội, việc áp dụng BPNC tạm giữ đối với đối tượng này
tuy không có trong BLTTHS nhưng được quy định tại Điều 58 Luật tổ chức Quốc
hội năm 2001 như sau: “ Không có sự đồng ý của Quốc hội và trong thời gian Quốc
hội không họp, không có sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì không được
bắt giam, truy tố đại biểu Quốc hội và không được khám xét nơi ở và nơi làm việc
của đại biểu Quốc hội. Việc đề nghị bắt giam, truy tố, khám xét nơi ở và nơi làm
việc của đại biểu Quốc hội thuộc thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao.
Nếu vì phạm tội quả tang mà đại biểu Quốc hội bị tạm giữ, thì cơ quan tạm giữ
phải lập tức báo cáo để Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội xét và quyết
định.
Trong trường hợp đại biểu Quốc hội bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quyết định tạm đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
của đại biểu Quốc hội đó.
Đại biểu Quốc hội bị Tòa án kết án thì đương nhiên mất quyền đại biểu Quốc
hội, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

6


Đại biểu Quốc hội không thể bị cơ quan, đơn vị nơi đại biểu làm việc cách
chức, buộc thôi việc, nếu không được Ủy ban Thường vụ Quốc hội đồng ý.”
- Với Đại biểu Hội đồng nhân dân, việc bắt giữ đối với đối tượng này được quy
định trong Điều 44 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003:
“Trong thời gian Hội đồng nhân dân họp, nếu không được sự đồng ý của Chủ tọa kỳ
họp thì không được bắt giữ đại biểu Hội đồng nhân dân. Nếu vì phạm tội quả tang
hoặc trong trường hợp khẩn cấp mà đại biểu Hội đồng nhân dân bị tạm giữ thì cơ

cáo lúc phạm tội chưa đủ 18 tuổi thì không áp dụng thủ tục này.
5.2. Chế độ tạm giữ.
Tạm giữ không phải là một biện pháp ngăn chặn trong TTHS. Việc áp dụng
biện pháp tạm giữ không nhằm mục đích trừng trị người phạm tội mà để ngăn chặn
tội phạm và hành vi trốn tránh pháp luật, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án của
người phạm tội. Vì vậy Điều 89 BLTTHS quy định về vấn đề này như sau:
"Chế độ tạm giữ, tạm giam khác với chế độ đối với người đang chấp hành hình
phạt tù.
Nơi tạm giữ, tạm giam, chế độ sinh hoạt, nhận quà, liên hệ với gia đình và các
chế độ khác được thực hiện theo quy định của Chính phủ.”
Nghị định 98/CP ban hành ngày 7/11/1998 về quản chế, tạm giam, tạm giữ và
Nghị định 98/2002/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của quy chế tạm giữ, tạm
giam ban hành kèm theo Nghị định 98 nêu trên đã góp phần tích cực trong công tác
đấu tranh phòng chống tội phạm. Việc thực hiện chế độ tạm giữ theo quy định của
pháp luật đã góp phần đảm bảo quyền và lợi ích của người bị tạm giữ trong thời gian
bị tạm giữ.
5.3 Những biện pháp bảo hộ của pháp luật đối với nhân thân và tài sản của
người bị tạm giữ.
Vấn đề này được thể hiện cụ thể trong Điều 90 của BLTTHS năm 2003 như sau:
“Điều 90. Việc chăm nom người thân thích và bảo quản tài sản của người bị
tạm giữ, tạm giam
Khi người bị tạm giữ, tạm giam có con chưa thành niên dưới 14 tuổi hoặc có
người thân thích là người tàn tật, già yếu mà không có người chăm sóc, thì cơ quan
ra quyết định tạm giữ, lệnh tạm giam giao những người đó cho người thân thích
chăm nom. Trong trường hợp người bị tạm giữ, tạm giam không có người thân thích
thì cơ quan ra quyết định tạm giữ, lệnh tạm giam giao những người đó cho chính
quyền sở tại chăm nom.

8


giữ cho nên việc hiểu một cách chính xác về khái niệm tạm giữa còn có những ý
kiến khác nhau . Điều này ảnh hưởng đến việc áp dụng các quy định khác của biện
9


pháp ngăn chặn tạm giữ trong tố tụng hình sự. Thực tế này đòi hỏi cần có một khái
niệm cụ thể, đầy đủ và thống nhất về biện pháp ngăn chặn tạm giữ quy định trong
BLTTHS. Có như vậy, việc áp dụng luật mới được đúng đắn, triệt để và hanh chế
một cách tối đa việc hiểu sai bản chất của biện pháp ngăn chặn này.
Theo quy định tại điều 86 BLTTHS năm 2003 thì đây chưa hẳn là khái niệm
của biện pháp ngăn chặn tạm giữ bởi điều luật này mới chỉ nêu nên được đối tượng
bị áp dụng biện pháp ngăn chặn này. Như vậy là chưa cụ thể và rõ ràng . Vì vậy, cần
phải có một quy định cụ thể về khái niệm BPNC tạm giữ trong BLTTHS.
b, Về căn cứ áp dụng BPNC tạm giữ.
BLTTHS hiện hành chưa có điều luật nào quy định cụ thể về căn cứ này,
khoản 1 Điều 86 chỉ quy định về các đối tượng bị áp dụng BPNC tạm giữ chứ không
quy định về căn cứ áp dụng biện pháp này. Như vậy ta có thể hiểu điều luật quy định
về việc tạm giữ là tùy nghi, do những người có thẩm quyền xem xét và quyết định
chứ không quy định tròn trường hợp nào thì bắt buộc phải tạm giữ. Trong khi đó,
Điều 86 lại quy định nếu Viện kiểm sát nhận thấy không có căn cứ hoặc không cần
thiết thì ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ. Vì không có quy định cụ thể nên
trên thực tế khi kiểm sát việc tạm giữ, Viện kiểm sát cũng chỉ chủ yếu xem xét yếu
tố “tính cần thiết” của việc tạm giữ, chứ không có cơ sở để xem xét “căn cứ” tạm
giữ. Ngoài ra, việc không quy định rõ còn dẫn đến cách hiểu không đúng về việc áp
dụng BPNC tạm giữ, họ cho rằng căn cứ áp dụng biện pháp tạm giữ là căn cứ áo
dụng các biện pháp bắt người nên cứ người nào bị bắt mà đang chờ để xác minh
thêm chứng cứ, tài liệu là bị áp dụng biện pháp tạm giữ.
Việc hiểu như trên không đúng với bản chất và mục đích của việc áp dụng
BPNC nói chung và biện pháp tạm giữ nói riêng, không thể lấy mục đích của việc
tiến hành hoạt động tố tụng để làm căn cứ áp dụng BPNC mà phải lấy căn cứ từ thực

d, Về thẩm quyền ra lệnh tạm giữ:
Theo khoản 2, Điều 86 BLTTHS 2003 quy định “những người có quyền ra lệnh
bắt khẩn cấp quy định tại khoản 2, Điều 81 của bộ luật này. Chỉ huy trưởng vùng
cảnh sát biển có quyền ra lệnh tạm giữ”. Việc điều luật quy định bổ sung thêm thẩm
quyền ra lệnh tạm giữ cho Chỉ huy trưởng vùng cảnh sát biển . Điều này là hoàn
toàn hợp lý. Xuất phát từ đặc thù công việc và địa bàn hoạt động vì thế lực lượng
cảnh sát biển trong một số trường hợp được giao thẩm quyền điều tra thì Thủ trưởng
vùng cảnh sát biển có quyền ra lệnh tạm giữ. Tuy nhiên, hiện tại pháp luật chưa có
quy định cụ thể về việc Chỉ huy trưởng vùng cảnh sát biển có thẩm quyền quyết định

11


tạm giữ trong những trường hợp nào? Với những đối tượng nào? Chính vì vậy, về lý
luận cũng như trong thực tế áp dụng còn vướng mắc, cần sự quy định rõ ràng.
e, Về thời hạn tạm giữ.
Theo khoản 1 Điều 87 BLTTHS 2003 quy định “ thời hạn tạm giữ không được
quá ba ngày, kể từ khi cơ quan điều tra nhận người bị bắt”. Để đạt được mục tiêu
của tạm giữ, thời điểm tính thời hạn tạm giữ không phải là thời điểm bắt người. Mặt
khác, để hạn chế việc giữ người trái pháp luật thì thời điểm tính thời hạn tạm giữ
cũng không được tính từ khi ra lệnh tạm giữ mà được tính từ khi cơ quan điều tra
nhận người bị bắt. Tuy nhiên, trong thực tế áp dụng thì việc quy định như trên vẫn
còn nhiều vướng mắc
Thứ nhất: Theo quy định tại khoản 1 Điều 87 BLTTHS thì thời hạn tạm giữ
được tính từ khi cơ quan điều tra nhận người bị bắt. Mà theo quy định tại khoản 1
Điều 86 BLTTHS thì tạm giữ có thể áp dụng đối với người phạm tội tự thú, đầu thú.
Và như chúng ta đã biết người phạm tội tự thú đầu thú không phải là người bị bắt mà
họ tự nguyện trình diện, khai báo hành vi phạm tội. Họ không phải là người bị bắt.
Vậy câu hỏi đặt ra ở đây là : thời hạn tạm giữ đối với họ được tính từ thời điểm nào?
Điều này chưa được pháp luật quy định.

riêng phát huy tính tích cực, vai trò, ý nghĩa của nó trong việc ngăn chặn các hành vi
phạm tội, giúp cho công tác điều tra được nhanh chóng, kịp thời, làm cho quá trình
giải quyết các vụ án hình sự công bằng, đúng người, đúng tội. Đồng thời để khắc
phục những hạn chế nêu trên, có thể đưa ra một số biện pháp khắc phục những thiếu
sót và hoàn thiện các quy định về tạm giữ, như sau:
Thứ nhất, về khái niệm.
Như đã nói ở trên BLTTHS chưa có điều luật nào quy định cụ thể về khái niệm
BPNC tạm giữ. Do vậy nên quy định thêm khái niệm BPNC tạm giữ tại khoản 1
điều 86 một cách khái quát như sau:
“Tạm giữ là BPNC trong tố tụng hình sự, do cơ quan và người có thẩm quyền
theo luật định áp dụng đối với những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp,
trường hợp phạm tội quả tang hoặc người đang bị truy nã, người phạm tội tự thú,
đầu thú nhằm ngăn chặn tội phạm, tạo điều kiện cho việc xử lí tội phạm được chính
xác và kịp thời.”
Thứ hai, về căn cứ áp dụng biện pháp tạm giữ.
Theo phân tích ở trên một trong những bất cập trong BLTTHS đó là việc
chưa quy định căn cứ áp dụng biện pháp tạm giữ, dẫn đến nhiều sai phạm trong việc

13


áp dụng biện pháp này do vậy để hoàn thiện hơn BLTTHS cần bổ sung quy định về
vấn đề này,nên quy định theo hướng sau:
Tạm giữ có thể bị áp dụng biện pháp tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp
khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người
bị bắt theo lệnh truy nã khi có các căn cứ chứng tỏ: người đó có thể tiếp tục phạm
tội; người đó có thể trốn, tiêu hủy chứng cứ hoặc các hành vi khác gây khó khăn cho
việc xác định sự thật vụ án; người đó không có nơi cư trú rõ ràng hoặc chưa xác định
được nơi cư trú cũng như nhân thân, lai lịch của họ.
Thứ ba, về đối tượng tạm giữ.

Thứ sáu, về gia hạn tạm giữ.
BLTTHS cần bổ sung thêm những căn cứ để gia hạn tạm giữ, tức là bổ sung
thêm những căn cứ để được coi là trường hợp cần thiết và trường hợp đặc biệt để có
thể gia hạn tạm giữ. Theo chúng tôi căn cứ để gia hạn tạm giữ có thể là: sự cần thiết
phải có thêm thời gian để xác minh căn cước, lai lịch của người bị tạm giữ; hành vi
phạm tội nghiêm trọng, phức tạp; khi xét cần ngăn chặn ngay người có hành vi chạy
trốn. Nếu không gia hạn tạm giữ, người đó sẽ trốn hoặc có hành động cản trở điều
tra làm rõ sự việc.
C. KẾT LUẬN.
Như vậy, qua việc tìm hiểu các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về biện
pháp ngăn chặn tạm giữ, ta có những hiểu biết sâu hơn về vấn đề này, cụ thể ta có
kiến thức về mục đích, đối tượng, người có thẩm quyền tạm giữ, thời hạn cũng như
là trình tự thủ tục tạm giữ và các vấn đề khác liên quan như áp dụng biện pháp này
với một số đối tượng đặc biệt và chế độ tạm giữ. Đồng thời qua đây ta thấy việc quy
định và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ nói riêng các biện pháp ngăn chặn nói
chung trong tố tụng hình sự có ý nghĩa lớn trong việc đấu tranh và phòng ngừa tội
phạm. Chính vì có vai trò quan trọng như vậy, nên các nhà làm Luật cần nghiên cứu
kĩ lưỡng nhằm đưa ra những giải pháp hiệu quả nhất khắc phục những hạn chế thiếu
sót nhằm phát huy hơn nữa vai trò, hiệu quả của biện pháp ngăn chặn này.

15




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status