A. MỞ ĐẦU
Quan hệ tố tụng hình sự là quan hệ luôn có một bên là quyền lực cơ
quan Nhà nước có trách nhiệm và quyền hạn giải quyết các vụ án hình sự.
Trong tố tụng hình sự, các cơ quan có thẩm quyền có quyền áp dụng các biện
pháp cưỡng chế để tác động tới đối tựợng. Các biện pháp cưỡng chế là sự tác
động một chiều không phụ thuộc vào ý trí của bên bị tác động, xuất phát từ
những căn cứ điều kiện do pháp luật quy định.
Tùy thuộc vào mục đích áp dụng, đối tượng áp dụng hoặc những tiêu
chuẩn khác mà các nhà làm luật phân chia các biện pháp cưỡng chế thành
những nhóm khác nhau: nhóm các biện pháp ngăn chặn và nhóm các biện
pháp điều tra. Trong mỗi nhóm lại có những biện pháp khác nhau, với những
trình tự thủ tục khác nhau.
Điều 79 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) 2003 quy định nhóm biện
pháp ngăn chặn bao gồm các biện pháp sau: Bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi
khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Phần sau
đây sẽ đi vào nghiên cứu biện pháp ngăn chặn tạm giữ.
B. NỘI DUNG
I. Biện pháp ngăn chặn tạm giữ trong tố tụng hình sự
1. Khái quát về biện pháp ngăn chặn tạm giữ
a. Mục đích tạm giữ
Mục đích của biện pháp ngăn chặn tạm giữ là biện pháp ngăn chặn hạn
chế một số quyền của công dân, quyền con người của người bị tạm giữ nhằm
ngăn chặn hành vi phạm tội hoặc hành vi cản trở việc điều tra khám phá tội
phạm của người bị nghi là thực hiện hành vi phạm tội, tạo điều kiện cho cơ
quan có thẩm quyền đủ thời gian để xác định tính chất, mức độ của hành vi,
nhân thân của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội để từ đó có thể
quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can hoặc không khởi tố vụ án
hình sự, khởi tố bị can hoặc các quyết định pháp lý cần thiết khác như: tạm
giam, áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác hay trả tự do cho người bị bắt…
bị can nên cơ quan có thẩm quyền để cho bị can được tại ngoại mà không cần
thiết phải tạm giam bị can.
- Nếu sau khi bắt khẩn cấp hoặc bắt quả tang, các cơ quan có thẩm
quyền bắt đã gửi lệnh bắt cho Viện kiểm sát và Viện kiểm sát không phê
chuẩn lệnh đó thì cũng không được ra quyết định tạm giữ đối với người bị
bắt.
Lưu ý về trường hợp đối tượng của tạm giữ là người chưa thành niên,
chỉ khi họ phạm tội theo như quy định tại khoản 1, 2 Điều 303 BLTTHS thì
mới bị tạm giữ:
“1. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị bắt, tạm giữ, tạm
giam nếu có đủ căn cứ quy định tại các điều 80, 81, 82, 86, 88 và 120 của Bộ
luật này, nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố
ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.
2. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị bắt, tạm giữ, tạm
giam nếu có đủ căn cứ quy định tại các điều 80, 81, 82, 86, 88 và 120 của Bộ
luật này, nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý,
phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.”
c. Thẩm quyền ra quyết định tạm giữ.
Khoản 2 Điều 86 BLTTHS: “ Những người có quyền ra lệnh bắt khẩn
cấp quy định tại khoản 2 Điều 81 của Bộ luật này, Chỉ huy trưởng vùng cảnh
sát biển có quyền ra quyết định tạm giữ”.
Theo khoản 2 Điều 86 quy định về thẩm quyền ra lệnh bắt người trong
trường hợp khẩn cấp thì có bốn nhóm người có quyền ra lệnh bắt khẩn cấp,
gồm nhóm người sau đây:
- Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp (cơ quan điều
tra trong công an nhân dân, cơ quan điều tra trong quân đội nhân dân, cơ quan
điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao…)
- Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương
đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới.
- Người bị tạm giữ chỉ có những vi phạm nhỏ, tính chất nguy hiểm cho
xã hội không đáng kể, chưa đến mức phải truy cứu trách nhỉệm hình sự:
- Người bị tạm giữ trong trường hợp phạm tội quả tang nhưng sự việc
phạm tội nhỏ, tính chất ít nghiêm trọng, người bị tạm giữ có nơi cư trú rõ ràng
và không có biểu hiện sẽ trốn hoặc cản trở công việc điều tra.
Đối với trường hợp tạm giữ đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn
cấp hoặc phạm tội quả tang, sau khi bắt người hoặc nhận người bị bắt, Cơ
quan điều tra phải lấy lời khai ngay và trong thời hạn 24h phải ra quyết định
tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt.
Đối với trường hợp tạm giữ đối với người bị bắt theo quyết định truy nã
thì sau khi lấy lời khai, Cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải thông báo
ngay cho cơ quan đã ra quyết định truy nã để nhận người bị truy nã.
Ngoài ra, đối với tạm giữ người chưa thành niên, thì “Cơ quan ra lệnh
bắt, tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên phải thông báo cho gia đình,
người đại diện hợp pháp của họ biết ngay sau khi bắt, tạm giữ, tạm giam.”
(khoản 3 Điều 303 BLTTHS).
e. Thời hạn tạm giữ
Điều 87 BLTTHS. Thời hạn tạm giữ
“1. Thời hạn tạm giữ không được quá ba ngày, kể từ khi cơ quan điều
tra nhận người bị bắt.
2. Trong trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể ra
hạn tạm giữ nhưng không được quá ba ngày. Trong trường hợp đặc biệt,
người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng cũng
không được quá ba ngày. Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ phải được Viện
kiểm sát cùng cấp phê chuẩn. Trong khi tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố
bị can thì phải trả tự do ngay cho người đã bị tạm giữ. Thời hạn tạm giữ
được tính vào thời hạn tạm giam. Việc tạm giữ đối với người chưa thành niên
phạm tội không có quy định khác về thời hạn tạm giữ.”
Khoản 4 Điều 87 BLTTHS quy định thời hạn tạm giữ được tính vào
thời hạn tạm giam. Một ngày tạm giữ được tính bằng một ngày tạm giam.
Quy định này có mục đích nhân đạo, do vậy cho phép nếu sau đó người bị
tạm giữ bị khởi tố bị can và họ tạm giam thì được trừ đi thời hạn họ đã bị tạm
giữ vào thời hạn tam giam. Tuy nhiên sau này, nếu như người phạm tội bị Tòa
án kết án tù có thời hạn thì pháp luật Việt Nam vẫn cho phép trừ thời hạn tạm
giữ, tạm giam vào thời hạn họ phải chấp hành hình phạt tù với cách tính một
ngày tạm giữ được tính bằng một ngày tù.
2. Phân biệt tạm giữ trong tố tụng hình sự và tạm giữ hành chính
So với tạm giữ người theo thủ tục hành chính thì tạm giữ người theo
thủ tục tố tụng hình sự có những điểm khác sau đây:
Một là, đối tượng có thể bị tạm giữ theo thủ tục tố tụng hình sự là
những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người
phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã.
Còn đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giữ theo thủ tục hành chính là những
người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hành chính. Đó là các hành vi gây
rối trật tự công cộng, gây thương tích cho người khác hoặc những hành vi vi
phạm hành chính khác mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp
luật phải bị xử phạt hành chính.
Hai là, mục đích áp dụng biện pháp tạm giữ theo thủ tục tố tụng hình sự
là để xác định căn cứ khởi tố bị can đối với người bị bắt hoặc giao người đang
bị truy nã bị bắt cho cơ quan đã ra lệnh truy nã. Còn mục đích tạm giữ người
theo thủ tục hành chính là ngăn chặn, đình chỉ ngay những hành vi gây rối trật
tự công cộng, gây thương tích cho người khác hoặc để thu thập, xác minh
những tình tiết quan trọng làm căn cứ để ra quyết định xử lý vi phạm hành
chính.
Ba là, nhìn chung thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục tố tụng hình
sự hạn chế hơn thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính.
trong BLTTHS 2003
a. Về đối tượng bị áp dụng đối với biện pháp tạm giữ.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 86 BLTTHS 2003 thì tạm giữ có thể áp
dụng đối với người phạm tội tự thú, đầu thú. Tự thú là việc một hay nhiều
người sau khi thực hiện hành vi phạm tội, nhưng hành vi đó chưa bị phát hiện
hoặc họ chưa bị phát hiện có hành vi phạm tội mà đã ra trước cơ quan bảo vệ
pháp luật khai nhận về hành vi phạm tội của mình hoặc thực hiện cùng đồng
bọn. Đầu thú là việc một hay nhiều người đã thực hiện hành vi phạm tội, vụ
án đã được khởi tố, họ có thể đã bị khởi tố bị can, nhưng có thể chưa hoặc đã
bị bắt, tạm giữ, tạm giam mà trốn tránh nay đang bị truy nã, sau một thời gian,
họ đã ra trước cơ quan bảo vệ pháp luật khai nhận về hành vi phạm tội của
mình. Nhưng vô hình chung chúng ta đã gộp họ là một, khi họ phạm tội với
mức độ nguy hiểm, hoàn cảnh, nhân thân… khác nhau. Điều này chưa thực sự
hợp lí.
b. Về thẩm quyền ra lệnh tạm giữ:
Lực lượng Cảnh sát biển đã được thành lập, đảm bảo kịp thời đấu tranh
chống tội phạm trên các vùng biển của đất nước, nhưng cũng chưa có quy
định cụ thể về việc Chỉ huy trưởng vùng cảnh sát biển có thẩm quyền quyết
định tạm giữ trong những trường hợp nào? Với những đối tượng nào?
Mặt khác, theo quy định của pháp luật TTHS hiện hành thì các cơ quan
Hải quan, cơ quan Kiểm lâm được tham gia vào một số hoạt động TTHS như
khởi tố vụ án, tiến hành những hoạt động điều tra ban đầu như: “…ra quyết
định khởi tố vụ án, lấy lời khai…Xét cần ngăn chặn ngay người có hành vi
phạm tội chạy trốn thì tạm giữ ngay người đó và xin lệnh tạm giữ của cơ
quan có thẩm quyền”. Tuy nhiên, cũng chưa có quy định chính thức nào trong
BLTTHS cho phép cơ quan Hải quan, Kiểm lâm có quyền bắt khẩn cấp hoặc
tạm giữ và như vậy thì người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội vẫn
được tự do, tẩu tán tang tài vật, trốn tránh pháp luật…
Khoản 2 Điều 87 BLTTHS quy định: “Trong trường hợp cần thiết,
người ra quyết định tạm giữ có thể ra hạn tạm giữ nhưng không được quá ba
ngày. Trong trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn
tạm giữ lần thứ hai nhưng cũng không được quá ba ngày” nhưng chưa giải
thích rõ được khi nào là “cần thiết”, khi nào là “đặc biệt”. Theo cách hiểu
hiện nay, những trường hợp cần thiết là những trường hợp sự việc xảy ra có
nhiều tình tiết phức tạp, việc xác minh phải thực hiện ở nhiều địa phương
khác nhau hoặc cần phải có thêm thời gian để làm rõ về hành vi, làm rõ căn
cước, lý lịch của người bị tạm giữ; những trường hợp đặc biệt là trường hợp
đối với vụ án xâm phạm an ninh quốc gia và một số vụ án hình sự khác có
nhiều người tham gia, sự việc cần xác minh rất phức tạp mặc dù đã gia hạn
tạm giữ lần thứ nhất vẫn chưa làm rõ được sự việc. Tuy vậy cách hiểu này
vẫn quá chung chung, chưa cụ thể rõ ràng.
e. Việc trả tự do cho người bị tạm giữ
Khoản 3 Điều 87 BLTTHS 2003 quy định: “Trong khi tạm giữ, nếu
không đủ căn cứ khởi tố bị can thì phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.”
Việc luật quy định trả tự do ngay cho người bị tạm giữ nếu không có đủ căn
cứ khởi tố bị can là hoàn toàn hợp lý. Tuy nhiên luật lại không quy định về
thẩm quyền trả tự do và thủ tục trả tự do cho người bị tạm giữ. Do đó đặt ra
câu hỏi là: trong trường hợp người phải trả tự do cho người bị tạm giam thì ai
có thẩm quyền trả tự do cho họ? Phải chăng là những người có thẩm quyền ra
lệnh bắt tạm giữ theo khoản 2 Điều 86 thì cũng là người có thẩm quyền ra
lệnh trả tự do cho người tạm giữ hay là một chủ thể khác? Và thủ tục trả tự
do luật cần có quy định rõ.
f. Vấn đề bảo đảm quyền con người trong tạm giữ
Theo quy định của pháp luật, việc tạm giữ người bị tạm giữ được thực
hiện trong nhà tạm giữ của Công an cấp huyện, hoặc một số phòng tạm giữ
của các trại tạm giam cấp tỉnh. BLTTHS cũng quy định rõ quyền và nghĩa vụ
bỏ quyết định tạm giữ để trả tự do cho người bị tạm giữ nên do Viện kiểm sát
quyết định.
- Kiến nghị về việc ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện các quy
định của BLTTHS về các biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tập trung vào những
vấn đề sau: về thẩm quyền áp dụng tạm giữ của những người có thẩm quyền
trong Cơ quan điều tra về chế độ tạm giữ,…
b. Giải pháp về việc nâng cao năng lực cũng như phẩm chất đạo đức
của chủ thể áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ
- Tăng cường kiểm tra, giám sát việc chấp hành nghiêm túc các tiêu
chuẩn đối của các chức danh: Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, đồng
thời sửa đổi, bổ sung những quy định chưa phù hợp.
- Thường xuyên kiện toàn đội ngũ và tập huấn luyện nghiệp vụ cũng
như nâng cao ý thức pháp luật cho các cơ quan và những người có thẩm
quyền trong hoạt động bắt, tạm giữ nói riêng và trong hoạt động tiến hành tố
tụng nói chung, cần phải thường xuyên học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ
chuyên môn, ý thức chính trị, đề cao ý thức tổ chức kỷ luật. nắm chắc các quy
định của pháp luật về tạm giữ; hiểu rõ tính chất, mục đích của các biện pháp
tạm giữ; đảm bảo khi thực hiện bắt giữ người phải có lệnh và có sự phê chuẩn
của Viện kiểm sát, hạn chế tình trạng “tiền trảm hậu tấu” khi bắt giữ người;
tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ; phối
hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư tham gia quá trình tạm giữ khi giải
quyết vụ án.
- đối với Viện kiểm sát chỉ phê chuẩn lệnh bắt khi đã xác định rõ căn
cứ chứng tỏ bị can bị cáo sẽ gây khó khăn cho hoạt động tố tụng. Viện kiểm
sát phải phối hợp chặt chẽ với cơ quan điều tra, nghiên cứu kỹ tài liệu vụ án,
gặp trực tiếp hỏi kỹ càng điều tra viên, những người có liên quan đến vụ án,
và cả người bị bắt về các tình tiết của vụ án để quyết định phê chuẩn hay
không phê chuẩn lệnh bắt. Trong trường hợp bắt người không có căn cứ thì
thực tế chưa được cao. Cần sớm hoàn thiện các quy định để biện pháp ngăn
chặn tạm giữ và các biện pháp khác phát huy tích cực vai trò của nó trong
thực tiễn.