ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG THỊ HỒNG CHIÊM
NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. ĐỖ THỊ PHƯỢNG
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN
Hoàng Thị Hồng Chiêm
Ngƣời bị tạm giữ trong luật tố tụng hình sự cộng hòa Pháp .............. 20
1.2.3
Ngƣời bị tạm giữ trong Luật tố tụng hình sự Cộng hòa nhân dân
Trung Hoa........................................................................................... 22
1.3.
Quy định của pháp luật TTHS Việt Nam từ năm 1945 đến
trước năm 2003 về người bị tạm giữ .............................................. 24
1.3.1. Giai đoạn 1945 - 1954 ........................................................................ 24
1.3.2. Giai đoạn từ 1954 – 1976 ................................................................... 25
1.3.3. Giai đoạn từ 1976-1989...................................................................... 27
1.3.4. Giai đoạn từ 1989 đến trƣớc năm 2003 .............................................. 27
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1................................................................................ 29
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT
NAM HIỆN HÀNH VỀ NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ VÀ THỰC
TRẠNG ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ... 30
2.1.
Quy định của pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành về người
bị tạm giữ .......................................................................................... 30
2.1.1. Quyền của ngƣời bị tạm giữ ............................................................... 30
2.1.2. Nghĩa vụ của ngƣời bị tạm giữ ........................................................... 43
2.1.3
Bộ luật hình sự
BLTTHS
Bộ luật tố tụng hình sự
ĐTV
Điều tra viên
KSV
Kiểm sát viên
TAND
Tòa án nhân dân
THTT
Tiến hành tố tụng
TTHS
Tố tụng hình sự
TTLT
Thông tƣ liên tịch
lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020. Các Nghị quyết trên đã chỉ rõ nhiều vấn
đề cụ thể của tố tụng hình sự cần phải đƣợc nghiên cứu một cách toàn diện để
thể chế hóa vào quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, tạo cơ sở pháp lý nâng
cao chất lƣợng công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự. Xuất
phát từ quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta là nhà nƣớc của dân, do dân và vì
dân, mọi quyền lực thuộc về nhân dân nên quyền và nghĩa vụ cơ bản của công
dân luôn đƣợc luật pháp trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định rõ
ràng, nhằm bảo vệ quyền lợi của mọi công dân đƣợc công bằng. Để đạt đƣợc
mục đích đó, trƣớc hết trong công tác xử lý tin báo tố giác tội phạm và phân
loại việc bắt, giữ ngƣời vi phạm pháp luật cần phải đƣợc chú trọng và tăng
cƣờng, nhằm đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử bảo đảm tính trung
thực, công minh, đúng ngƣời, đúng tội, không làm oan ngƣời vô tội và không
bỏ lọt kẻ phạm tội. Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua đã xảy ra rất nhiều vụ
việc cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng vi phạm nghiêm trọng
thủ tục bắt giữ ngƣời theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, gây lên
những hậu quả nghiêm trọng đối với ngƣời bị tạm giữ. Hệ lụy kéo theo đó là
tình trạng bắt oan ngƣời vô tội, vi phạm các quyền con ngƣời, xâm phạm
1
quyền tự do thân thể…không đảm bảo đúng quyền của ngƣời bị tạm giữ theo
quy định của pháp luật.
Mặc dù đã bị dƣ luận và xã hội lên án xong vấn đề bảo đảm các quyền
và lợi ích chính đáng cho ngƣời bị tạm giữ trong tố tụng hình sự Việt Nam
cần đƣợc nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện hơn nữa. Có thể thấy
từ trƣớc tới nay chƣa có một nghiên cứu nào, nghiên cứu một cách toàn diện
và sâu sắc về ngƣời bị tạm giữ trong tố tụng hình sự Việt Nam với quy mô là
một đề tài độc lập, chuyên biệt. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu và từng bƣớc
hoàn thiện các quy định của pháp luật đối với ngƣời bị tạm giữ trong TTHS
Chính trị Quốc gia, 2004;
8. Bộ tƣ pháp, Tạp chí dân chủ và pháp luật (1998), số chuyên đề về
Luật hình sự của một số nước trên thế giới;
9. ĐHQG Hà Nội, khoa luật (2001), Giáo trình Luật TTHS Việt Nam,
NXB Đại học Quốc Gia, Hà Nội;
10. Trƣờng đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Luật TTHS Việt
Nam, NXB Công an nhân dân.
Trên cơ sở những nghiên cứu và những bài viết của các nhà khoa học
cùng với hệ thống các sách giáo trình, sách chuyên khảo sẽ là những cơ sở
khoa học để chúng ta tiếp tục nghiên cứu sâu hơn nữa về ngƣời bị tạm giữ
trong TTHS Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Nghiên cứu những lý luận chung
và tình hình thực tiễn về ngƣời bị tạm giữ trong pháp luật TTHS Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Nghiên cứu chuyên sâu về các
quyền và nghĩa vụ của ngƣời bị tạm giữ trong pháp luật tố tụng hình sự Việt
Nam và một số nƣớc khác trên thế giới. Thực trạng về tình hình ngƣời bị tạm
giữ trên địa bàn Thành phố Hà Nội trong năm năm trở lại đây. Đồng thời đƣa
ra những giải pháp nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời bị tạm
3
giữ trong TTHS, khắc phục những hạn chế, vƣớng mắc đối với quy định của
pháp luật Việt Nam về ngƣời bị tạm giữ trong TTHS Việt Nam.
4. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích: Từ việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn về ngƣời bị tạm giữ
trong pháp luật TTHS Việt Nam, luận văn đề xuất những giải pháp khắc phục
những hạn chế, vƣớng mắc và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đối với
ngƣời bị tạm giữ. Đặc biệt là đảm bảo cho việc phân loại đối tƣợng bị tạm giữ
tế để chọn lọc tri thức khoa học, kinh nghiệm thực tiễn liên quan đến ngƣời bị
tạm giữ trong TTHS, từ đó làm sáng tỏ nội dung của luận văn.
6. Đóng góp khoa học của luận văn
Là một công trình nghiên cứu độc lập và chuyên sâu về ngƣời bị tạm giữ
trong pháp luật TTHS Việt Nam, luận văn làm rõ những khái niệm, địa vị pháp
lý, các quyền và nghĩa vụ của ngƣời bị tạm giữ để giúp cho việc áp dụng các
quy định của pháp luật đối với ngƣời bị tạm giữ đƣợc đúng ngƣời, đúng tội,
không bỏ lọt kẻ phạm tội, không làm oan ngƣời vô tội. Từ đó mở đầu cho một
giai đoạn TTHS đƣợc chính xác, kịp thời, nghiêm minh và đúng pháp luật.
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, luận văn đƣa ra một số kiến nghị, giải
pháp khắc phục những vƣớng mắc, bất cập của quy định pháp luật hiện hành
đối với ngƣời bị tạm giữ trong TTHS Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu của luận văn, góp phần giải đáp về mặt lý luận và
thực tiễn những vấn đề liên quan đến ngƣời bị tạm giữ trong TTHS Việt Nam.
Đồng thời, giúp cho ngƣời bị tạm giữ, ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
cho ngƣời bị tạm giữ và các cơ quan THTT hình sự áp dụng các quy định
pháp luật về ngƣời bị tạm giữ một cách đúng đắn, hiệu quả và chính xác.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu cho việc nghiên cứu, tham khảo và
hoàn thiện pháp luật đối với những ai quan tâm đến vấn đề này.
5
7. B cc ca Lun vn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung Luận văn gồm 3 ch-ơng.
Chng 1: Mt s vn chung v ngi b tm gi.
Chng 2: Quy nh ca B lut t tng hỡnh s Vit Nam hin hnh
v ngi b tm gi v thc trng ỏp dng trờn a bn thnh ph H Ni.
Chng 3: Mt s gii phỏp nhm m bo quyn v li ớch hp phỏp
là ngƣời bị tạm giữ là rất khó, bởi vì, đối tƣợng của ngƣời bị tạm giữ trong đó
7
bao gồm cả ngƣời chƣa bị khởi tố hình sự và cả những ngƣời đã bị khởi tố
hình sự. Tƣ cách tố tụng của ngƣời bị tạm giữ bắt đầu từ khi có quyết định
tạm giữ và chấm dứt chuyển sang vai trò của một chủ thể khác khi hết thời
hạn tạm giữ hoặc hết thời hạn gia hạn tạm giữ. Có thể xảy ra một số trƣờng
hợp khi chấm dứt tƣ cách tố tụng của ngƣời bị tạm giữ nhƣ sau:
- Bị khởi tố bị can và có quyết định tạm giam thay thế.
- Bị khởi tố và có quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ, thay thế biện
pháp ngăn chặn khác.
- Có quyết định trả tự do cho ngƣời bị tạm giữ chuyển xử lý hành chính.
- Có quyết định trả tự do cho ngƣời bị tạm giữ, không xử lý hành chính.
- Viện kiểm sát trả tự do theo khoản 1 Điều 28 Luật tổ chức VNSND.
Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam cho đến nay chƣa có một khái niệm
pháp lý nào về địa vị pháp lý của ngƣời bị tạm giữ. Từ những phân tích trên
theo chúng tôi có thể hiểu: Địa vị pháp lý của ngƣời bị tạm giữ là tổng thể các
quyền và nghĩa vụ của một ngƣời khi có quyết định tạm giữ của cơ quan có
thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự.
Trong tố tụng hình sự Việt Nam, ngƣời bị tạm giữ là ngƣời tham gia tố
tụng có quyền lợi và nghĩa vụ pháp lý liên quan đến vụ án. BLTTHS năm
2003 đƣa ra khái niệm về ngƣời bị tạm giữ nhƣ sau: “Người bị tạm giữ là
người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo
quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có
quyết định tạm giữ”. Ngƣời bị tạm giữ có thể là ngƣời chƣa bị khởi tố về hình
sự, đó là những ngƣời bị bắt trong trƣờng hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang,
trƣờng hợp phạm tội tự thú trƣớc khi hành vi phạm tội bị phát hiện và khởi tố,
và đối với họ đã có quyết định tạm giữ. Mặc dù, họ chƣa bị khởi tố về hình sự
thời hạn nhất định. Đối với trƣờng hợp ngƣời bị tạm giữ bị bắt theo lệnh truy
nã, tuy ngƣời bị tạm giữ đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nhƣng việc truy
cứu trách nhiệm hình sự đó không phải do ngƣời có thẩm quyền quyết định
tạm giữ thực hiện. Vì thế cho nên đối với ngƣời đó chỉ đƣợc (và cũng chỉ cần)
9
tạm giữ trong một thời hạn ngắn để chuyển giao cho ngƣời có trách nhiệm
truy cứu trách nhiệm hình sự xử lý vụ án theo quy định của pháp luật.
+ Điều kiện về hình thức: đối với ngƣời đã có quyết định tạm giữ của
ngƣời có thẩm quyền theo quy định của BLTTHS. Theo quy định của Điều
86 và Điều 81 BLTTHS năm 2003 thì Thủ trƣởng, Phó Thủ trƣởng Cơ quan
điều tra các cấp, ngƣời chỉ huy Quân đội độc lập cấp trung đoàn và tƣơng
đƣơng, ngƣời chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới, ngƣời chỉ huy
tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng hoặc Chỉ
huy trƣởng vùng Cảnh sát biển là những ngƣời có thẩm quyền ra quyết định
tạm giữ [13, tr.32-33].
Từ những phân tích ở trên, theo quan điểm của tôi có thể đƣa ra khái
niệm khoa học về ngƣời bị tạm giữ nhƣ sau: Người bị tạm giữ là người bị bắt
trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định
truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định
tạm giữ của người có thẩm quyền tố tụng; có quyền và nghĩa vụ nhất định
theo quy định của pháp luật.
1.1.2 Đặc điểm về người bị tạm giữ
Thứ nhất, là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp:
Là khi ngƣời đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng
hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hay sau khi ngƣời đó thực hiện tội phạm
rồi bỏ trốn, cản trở việc điều tra, khám phá tội phạm. Ngƣời bị tạm giữ trong
trƣờng hợp này là ngƣời chƣa bị khởi tố về hình sự. Việc bắt ngƣời trong
rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
Trƣờng hợp khẩn cấp thứ hai: Khi ngƣời bị hại hoặc ngƣời có mặt tại
nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là ngƣời đã thực
hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc ngƣời đó bỏ trốn. Đây là
trƣờng hợp tội phạm đã xảy ra, nhƣng ngƣời thực hiện tội phạm không bị bắt
ngay. Sau một thời gian, ngƣời bị hại hoặc ngƣời có mặt tại nơi xảy ra tội
11
phạm chính mắt trông thấy đã xác nhận đúng là ngƣời đã thực hiện tội phạm.
Nếu cơ quan điều tra xét thấy cần ngăn chặn ngay việc ngƣời đó bỏ trốn thì ra
lệnh bắt khẩn cấp. Việc bắt ngƣời trong trƣờng hợp này cần phải đảm bảo hai
điều kiện: Một là, phải có ngƣời có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt
trông thấy và trực tiếp xác nhận đúng là ngƣời đã thực hiện tội phạm. Việc
xác nhận phải mang tính chất khẳng định, chứ không thể “hình nhƣ”, hoặc
“nhìn giống nhƣ” ngƣời đã thực hiện tội phạm. Hai là, xét thấy cần ngăn chặn
ngay việc ngƣời đó trốn.
Đối với ngƣời bị bắt trong trƣờng hợp này thì việc ra quyết định tạm
giữ là cấp bách và cần thiết. Khi đối tƣợng đã thực hiện hành vi phạm tội và
cơ quan điều tra xét thấy cần ngăn chặn ngay việc ngƣời đó bỏ trốn. Cho nên
ngay sau khi bắt khẩn cấp cần phải tạm giữ họ nhằm ngăn chặn việc họ bỏ
trốn, gây cản trở cho việc điều tra. Đồng thời cũng tạo điều kiện để cơ quan
điều tra có thời gian thực hiện các hoạt động nghiệp vụ khác, phục vụ cho
việc củng cố hồ sơ để đƣa khởi tố vụ án, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp
ngăn chặn cho phù hợp với hành vi phạm tội.
Trƣờng hợp khẩn cấp thứ ba: Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở ngƣời
hoặc tại chỗ của ngƣời bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn
ngay việc ngƣời đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ. Đây là trƣờng hợp cơ quan
có thẩm quyền chƣa có đủ tài liệu, chứng cứ để xác định ngƣời đó thực hiện
tang bao gồm:
Trƣờng hợp thứ nhất: Ngƣời đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện.
Đây là trƣờng hợp tội phạm đã bắt đầu đƣợc thực hiện, đang diễn ra và chƣa
kết thúc trên thực tế, đang gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội đƣợc luật hình
sự bảo vệ. Việc ngƣời đang thực hiện tội phạm bị phát hiện hay không, tùy
thuộc vào đặc điểm của cấu thành tội phạm, bối cảnh xảy ra tội phạm; khả
năng, kiến thức, vị trí công tác của ngƣời phát giác sự kiện phạm tội.
Trƣờng hợp hợp thứ hai: Ngƣời ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị
13
phát hiện. Đây là trƣờng hợp ngƣời phạm tội vừa thực hiện hành vi phạm tội
xong, chƣa kịp chạy trốn, chƣa kịp cất giấu tang vật hoặc đang cất giấu tang
vật, đang xóa những dấu vết của tội phạm trƣớc khi chạy trốn thì bị ngƣời
khác phát hiện. Vì vậy, khi bắt ngƣời phạm tội vừa thực hiện hành vi phạm tội
xong, chƣa kịp chạy trốn và sự phát hiện, bắt giữ ngƣời phạm tội phải xảy ra
không gián đoạn về mặt thời gian.
Trƣờng hợp thứ ba: Ngƣời ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị đuổi
bắt. Trong trƣờng hợp phạm tội quả tang này, ngƣời phạm tội đang thực hiện
tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện nên đã chạy
trốn và bị đuổi bắt. Trong trƣờng hợp này, việc đuổi bắt phải liền ngay sau khi
chạy trốn thì mới có cơ sở xác định đúng ngƣời phạm tội, tránh bắt nhầm
ngƣời không thực hiện tội phạm. Nếu việc đuổi bắt bị gián đoạn về mặt thời
gian so với hành vi chạy trốn thì không đƣợc xem là bắt quả tang mà có thể
bắt theo trƣờng hợp khẩn cấp.
Với ngƣời bị bắt trong trƣờng hợp phạm tội quả tang nhƣ đã nêu trên
thì có thể bị tạm giữ. Tuy nhiên, khác với trƣờng hợp ngƣời bị bắt khẩn cấp
thƣờng bị tạm giữ, các trƣờng hợp phạm tội quả tang thì không phải mọi
trƣờng hợp bị bắt đều phải tạm giữ. Qua thực tiễn áp dụng và căn cứ vào quy
tang và bắt ngƣời đang bị truy nã đƣợc phân biệt rõ ràng. Bởi vì, ngƣời đang
bị truy nã là ngƣời đã thực hiện hành vi phạm tội, đã bị cơ quan Công an ra
quyết định (hoặc lệnh) truy nã. Theo quy định tại quy chế về công tác truy nã
của Bộ Công an thì những ngƣời thuộc diện cơ quan Công an phải ra lệnh
truy nã gồm: Bị can (ngƣời đã bị khởi tố về hình sự) bỏ trốn hoặc không biết
đang ở đâu; Bị cáo (ngƣời đã bị tòa án quyết định đƣa ra xét xử) bỏ trốn hoặc
không biết đang ở đâu; Phạm nhân (ngƣời đang thi hành án phạt tù trong các
trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ) trốn trại.
Trong thực tế, ngƣời đang bị truy nã là ngƣời đã bị khởi tố về hình sự, đã
có tƣ cách tố tụng là bị can, bị cáo hay ngƣời bị kết án về hình sự chƣa thi hành
15
án hoặc đang thi hành án thì bỏ trốn. Hành vi của ngƣời đang bị truy nã không
phải là hành vi đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện phạm tội
thì bị phát hiện hoặc đuổi bắt nên ngƣời đang bị truy nã không phải là ngƣời
phạm tội quả tang. Tuy vậy, trong thực tế việc ngăn chặn ngay ngƣời đang bị
truy nã trốn tránh pháp luật cũng mang tính chất cấp bách nhƣ đối với ngƣời
phạm tội quả tang nên Bộ luật tố tụng hình sự quy định thẩm quyền, thủ tục bắt
ngƣời đang bị truy nã cũng đƣợc áp dụng nhƣ bắt ngƣời phạm tội quả tang.
Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành, chỉ có cơ quan
điều tra có thẩm quyền ra quyết định truy nã. Viện kiểm sát, Tòa án và các cơ
quan có liên quan khi cần truy nã ngƣời phạm tội, thì có văn bản đề nghị gửi
cơ quan điều tra ra quyết định truy nã. Điều 161 Bộ luật tố tụng hình sự 2003
quy định về truy nã bị can quy định: “Quyết định truy nã phải ghi rõ ngày,
giờ, tháng, năm, địa điểm ra quyết định truy nã; họ tên, chức vụ người ra
quyết định; họ tên, tuổi, nơi cư trú của bị can, đặc điểm để nhận dạng bị can,
dán ảnh kèm theo, nếu có; tội phạm mà bị can đã bị khởi tố”. Đối với ngƣời
bị bắt theo lệnh truy nã, ngay sau khi lấy lời khai, cơ quan điều tra nhận ngƣời
định tạm giữ thì cũng không phải là ngƣời bị tạm giữ. Do đó điều kiện đủ này
điều kiện quan trọng và quyết định một ngƣời có phải là ngƣời bị tạm giữ hay
không trong quá trình tham gia tố tụng hình sự. Khi họ đã có quyết định tạm
giữ và tham gia vào quá trình tố tụng hình sự thì ngƣời bị tạm giữ có quyền và
nghĩa vụ nhất định theo quy định của pháp luật.
Từ những phân tích ở trên có thể thấy, khi bị bắt trong trƣờng hợp khẩn
cấp hoặc phạm tội quả tang, hoặc bị bắt theo quyết định truy nã, hoặc khi
ngƣời phạm tội ra đầu thú, tự thú thì họ không thể bị tạm giữ trong các trƣờng
hợp sau đây:
- Các cơ quan có thẩm quyền xác định đƣợc ngay việc bắt giữ đối với
họ là không có căn cứ, do đó cơ quan bắt giữ ngƣời phải trả tự do ngay cho
ngƣời bị bắt.
17
- Ngay sau khi bắt ngƣời khẩn cấp hoặc bắt ngƣời phạm tội quả tang,
bắt theo quyết định truy nã, hoặc ngay sau khi có ngƣời ra tự thú, đầu thú, các
cơ quan có thẩm quyền đã xác định đƣợc đầy đủ căn cứ để có thể khởi tố đối
với ngƣời bị bắt, ngƣời tự thú, đầu thú nên đã ra các quyết định khởi tố cần
thiết và cũng đã xác định đƣợc ngay căn cứ để có thể tạm giam đối với họ nên
đã ra lệnh tạm giam với bị can mà không cần tạm giữ. Hoặc ngay sau khi bắt
khẩn cấp, bắt quả tang, bắt theo quyết định truy nã, hoặc ngay sau khi có
ngƣời ra tự thú, đầu thú đã xác định đầy đủ căn cứ để khởi tố vụ án và khởi tố
bị can nên cơ quan có thẩm quyền không ra quyết định tạm giữ mà áp dụng
biện pháp ngăn chặn khác nhƣ Lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú... thì cũng không
cần thiết phải ra quyết định tạm giữ.
- Ngoài các trƣờng hợp nêu trên, nếu sau khi bắt khẩn cấp hoặc bắt quả
tang, cơ quan có thẩm quyền đã gửi lệnh bắt cho Viện kiểm sát để Viện kiểm
sát kiểm sát việc bắt và Viện kiểm sát đã không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp
chế tố tụng do Cơ quan điều tra ban đầu, Điều tra viên, Dự thẩm viên hoặc
Kiểm sát viên áp dụng trong thời hạn không quá 48 giờ kể từ thời điểm ngƣời
bị tình nghi thực hiện tội phạm thực tế bị tạm giữ [7, tr.6]. Bên cạnh đó, tại
khoản 15 Điều 5 đƣa ra khái niệm cụ thể về thời điểm thực tế bị tạm giữ: Là
thời điểm thực tế tƣớc tự do ngƣời bị tình nghi thực hiện tội phạm đƣợc tiến
hành theo thủ tục quy định của BLTTHS Liên bang Nga [7, tr.7].
Từ những quy định trên có thể thấy, ngƣời bị tạm giữ trong tố tụng hình
sự Liên bang Nga là ngƣời bị tình nghi bị bắt theo quy định tại Điều 91, 92
BLTTHS Liên bang Nga, bị tạm giữ không quá 48 giờ kể từ thời điểm ngƣời bị
tình nghi thực hiện tội phạm thực tế bị tạm giữ và đối với họ phải có quyết định
của Tòa án. Ngƣời bị tạm giữ trong BLTTHS Liên bang Nga có quyền của
ngƣời bị tình nghi theo quy định tại khoản 4 Điều 46 bao gồm các quyền: 1)
Đƣợc biết họ bị tình nghi về việc gì và nhận bản sao quyết định khởi tố vụ án
chống lại họ hoặc bản sao biên bản bắt giữ hoặc bản sao quyết định áp dụng
19