Biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam - Pdf 33

A. PHẦN MỞ BÀI:
Tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất trong hệ thống các biện pháp ngăn chặn
được quy định trong bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam. Trong quá trình tiến hành tố tụng, để đảm
bảo cho việc phát hiện, tìm ra kẻ phạm tội. Xác định tội phạm không để lọt kẻ phạm tội và phục vụ
công tác xét xử người phạm tội được chính xác, nghiêm minh, các cơ quan và những người có
thẩm quyền theo pháp luật quy định áp dụng biện pháp tạm giam theo quy định trong bộ luật tố
tụng hình sự.
Tạm giam là việc thể hiện sự bắt buộc của nhà nước đối với bị cán bị cáo, sự bắt buộc đó thể
hiện ở chỗ biện pháp tạm giam được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước,
do các cơ quan có chức năng thẩm quyền thực hiện.
Trong phạm vi bài viết này, em xin trình bày về biện pháp tạm giam trong luật tố tụng hình sự
Việt Nam và đề xuất hoàn thiện.
B. PHẦN THÂN BÀI:
I. Khái niệm biện pháp ngăn chặn tạm giam:
Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam 2003, hệ thống các biện pháp ngăn chặn
trong tố tụng hình sự bao gồm 6 biện pháp: bắt, tạm giam, tạm giam , cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo
lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để đảm bảo. Trong số các biện pháp nêu trên tạm giam là biện
pháp mang tính nghiêm khắc nhất. Xung quanh khái niệm về biện pháp tạm giam hiện nay có
nhiều quan điểm khác nhau, mỗi quan điểm nhìn nhận tạm giam dưới một góc độ khác nhau nhất
định, nhưng căn cứ vào Điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 đưa ra khái niệm về biện pháp tạm
giam: “ Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do Cơ quan điều tra, Viện kiểm
sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt
nghiêm trọng hay bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình

1


sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ để cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở
việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội” .
Thực tế việc tạm giam làm hạn chế đi một số quyền công dân của người bị tạm giam, nhưng
không phải là bị Luật pháp tước bỏ hết các quyền công dân của người bị tạm giam mà người bị

cáo. Bị can là những người đã bị khởi tố về hình sự ( khoản 1 Điều 49 BLTTHS), tức là những
người đã có quyết định khởi tố bị can về một tội phạm cụ thể trong Bộ luật hình sự. Còn bị cáo là
những người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử ( khoản 1 Điều 50 BLTTHS ). Tuy nhiên,
không phải tất cả bị can, bị cáo đều bị áp dụng biện pháp tạm giam, mà chỉ áp dụng với họ trong
hai trường hợp sau:
Trường hợp 1:
Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm trọng. Tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng là tội gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối
với tội ấy là trên 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình, tội phạm rất nghiêm trọng là tội gây hại
rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến 15 năm tù ( khoản 3
Điều 8 BLHS). Nếu bị can, bị cáo thuộc những trường hợp này, những người có thẩm quyền ra
lệnh tạm giam ngay mà không cần có thêm các căn cứ khác.
Trường hợp 2:
Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định
hình phạt tù trên 2 năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy
tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội gây nguy hại không lớn
cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tộ ấy là đến 3 năm tù. Theo quy định của
Bộ luật tố tụng hình sự, tạm giam chỉ áp dụng đối với những bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm
trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 2 năm. Đối với bị can, bị cáo phạm tội ít
nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hinihf phạt tù từ hai năm tù trở xuống hoặc hình phạt
khác không phải là hình phạt tù thì không bị áp dụng biện pháp tạm giam. Nếu cần thiết, cơ quan
tiến hành tố tụng có thể áp dụng biện pháp khác như cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc
tài sản có giá trị để bảo đảm. Tội phạm nghiêm trọng là tội gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức
cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến 7 năm tù ( khoản 3 Điều 8 BLHS). Trong
trường hợp bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng, mà Bộ luật hình sự
quy định, hình phạt tù trên 2 năm để tạm giam họ cần phải có thêm điều kiện thứ hai, đó là có căn
3


cứ cho rằng bị can, bị cáo có thể bỏ trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục



Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà họ đã thực hiện. Những bị
can, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì thường tiến hành nhiều
hoạt động đối phó hoạt động tố tụng.



Nhân thân người phạm tội, như loại đối tượng lưu manh, côn đồ thường có hành động đe
dọa, khống chế người làm chứng, người bị hại hoặc thông đồng với đồng bọn về những lời
khai gian dối.



Sự ràng buộc với gia đình, cơ quan, tổ chức nghề nghiệp.



Tình trạng chứng minh là mức độ làm rõ về hành vi phạm tội của bị can, bị cáo, đối với
những đối tượng mà hành vi của họ cơ bản đã được làm rõ thì hành vi đối phó hoạt động tố
tụng sẽ hạn chế và ngược lại.



Những biểu hiện cụ thể của bị can, bị cáo như tiêu hủy chứng cứ, tiêu thụ tài sản do phạm
tội mà có…

+ Căn cứ cho rằng bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội:
Phải dựa vào nhiều tình tiết và xem xét đánh giá một cách tổng hợp. Những tình tiết đó
thường là: Tính chất của tội phạm mà bị can, bị cáo đã thực hiện; Nhân thân của bị can, bị cáo;

- Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, xét xử
- Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội.
- Để đảm bảo thi hành án.
Trong số các căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn kể trên, “ căn cứ để ngăn chặn tội phạm” chỉ
áp dụng cho các trường hợp bắt người phạm tội qủa tang theo khoản 1 Điều 82 hoặc bắt người
trong trường hợp khẩn cấp theo điểm a khoản 1 Điều 81 Bộ luật tố tụng hình sự nhằm kịp thời
ngăn chặn hành vi phạm tội không để tội phạm xảy ra hoặc hoàn thành, hay không để người phạm
tội gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam gồm:
Căn cứ thứ nhất: Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho hoạt động điều
tra, truy tố, xét xử
Hành vi gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử thể hiện việc sau khi thực hiện
hành vi phạm tội, người thực hiện tội phạm có thể hủy, làm giả hoặc thay đổi chứng cứ, xóa các
dấu vết của vụ án, mua chuộc dụ dỗ, lừa phỉnh, cưỡng ép, khống chế người làm chứng, người bị
6


hại... dẫn đến việc gây khó khăn phức tạp cho việc xác định, làm rõ sự thật khách quan vụ án.
Trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, có thể áp dụng căn cứ này để tạm giam.
Căn cứ thứ hai: khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội.
Những căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội có thể được thể hiện qua các yếu tố
phản ánh về nhân thân của các bị can, bị cáo:bị can, bị cáo là những phần tử xấu, tái phạm, tái
phạm nguy hiểm, là những tên tội phạm có tính chất chuyên nghiệp, những tên côn đồ hung hãn
coi thường pháp luật. Căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội còn thể hiện qua hành vi
của bị can, bị cáo như đe dọa trả thù người làm chứng, người bị hại và sự đe dọa có khả năng trở
thành hiện thực.
Căn cứ thứ ba: Để đảm bảo thi hành án.
Công tác thi hành án hình sự là vấn đề vô cùng quan trọng. Các bản án, quyết định của Tòa án
khi đã có hiệu lực pháp luật cần phải được đưa ra thi hành. Có như vậy mới nâng cao được tính
hiệu quả của pháp luật trong đời sống thực tế. Chính vì vậy, việc tạo điều kiện để thi hành án là
vấn đề rất quan trọng và cần thiết.

trong một khoảng thời gian nhất định, vì vậy, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam cần phải
tuân theo một trình tự, thủ tục rất chặt chẽ.
Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 thì việc tạm giam bị can, bị cáo phải có lệnh
tạm giam. Lệnh này phải do những người có thẩm quyền ký. Lệnh tạm giam phải ghi rõ ngày,
tháng, năm; họ tên, chức vụ của người ra lệnh; họ tên địa chỉ người bị tạm giam; lý do tạm giam,
thời hạn tạm giam và giao cho người bị tạm giam một bản. Theo quy định tại khoản 3 Điều 88 Bộ
luật tố tụng hình sự, lệnh tạm giam của Cơ quan điều tra phải được Viện trưởng VKS cùng cấp
phê chuẩn trước khi thi hành. Tạm giam không chỉ hạn chế quyền bất khả xâm phạm về thâm thể,
quyền lợi ích và danh dự của công dân mà còn ảnh hưởng đến cả nhân thân của họ. Vì vậy, sau khi
ra lệnh tạm giam cơ quan đã ra lệnh tạm giam cần phải báo ngay cho gia đình người bị tạm giam
và cho chính quyền xã phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị tạm giam cư trú, làm
việc biết . Bên cạnh đó, khi tiến hành tạm giam một người cần phải đảm bảo cácthủ tục liên quan
khác như: thực hiện viện chăm nom người thân thích, bảo quản tài sản người bị tạm giam (Điều 90
Bộ luật tố tụng hình sự 2003)
8


5. Thời hạn tạm giam:
Trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003 thời hạn tạm giam không được quy định tập trung tại một
điều luật mà được quy định theo từng giai đoạn của quá trình tố tụng. Thời hạn tạm giam trong tố
tụng được chia thành: thời hạn tạm giam để điều tra; thời hạn tạm giam để truy tố; thời hạn tạm
giam để xét xử sơ thẩm; thời hạn tạm giam để xét xử phúc thẩm và thời hạn tạm giam để thi hành
án.
a) Thời hạn tạm giam để điều tra:
Điều 120 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định thời hạn tạm giam để điều tra không quá hai
tháng đối với tội ít nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với tội nghiêm trọng, không quá bốn
tháng với tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng. Trong trường hợp vụ án có nhiều tình
tiết phức tạp, xét cần phải có thêm thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay
đổi, hủy bỏ Biện pháp tạm giam thì chậm nhất là mười ngày trước khi hết hạn tạm giam. Cơ quan
phải có văn bản đề nghị VKs gia hạn tạm giam. Việc gia hạn tạm giam quy định như sau: đối với

hoặc tạm đình chỉ vụ án. Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn
tạm giam nhưng không quá mười ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm
trọng; không quá mười lăm ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng; không quá ba mươi ngày đối
với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Như vậy thời hạn tạm giam để truy tố đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm
trọng tối đa có thể lên đến ba mươi ngày, đối với tội phạm rất nghiêm trọng tối đa có thể lên đến
ba mươi ngày, đối với tội phạm rất nghiêm trọng tối đa có thể lên đến bốn mươi lăm ngày, còn đối
với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thời hạn tạm giam để truy tố tối đa có thể lên đến sáu mươi
ngày.
c) Thời hạn tạm giam để xét xử sơ thẩm:

10


Điều 177 BLTTHS 2003 quy định: “ thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử không được quá
thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại điều 176 của Bộ luật này” . Theo quy định tại Điều 176, thời
hạn chuẩn bị xét xử là ba mươi ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, bốn mươi lăm ngày đối với
tội phạm rất nghiêm trọng, ba tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ này nhận hồ sơ
vụ án.... Đối với những vụ án phải thi hành án tòa án có thể quyết định gia hạn nhưng không quá
mười lăm ngày đối với tội phạm ít nghiem trọng, tội phạm nghiêm trọng; không quá ba mươi
mươi ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng. Sau khi quyết định đưa
vụ án ra xét xử thì thời hạn tạm giam để mở phiên tòa là từ năm ngày đến ba mươi ngày. Ngoài ra,
đối với bị cáo đang bị tạm giam mà mở phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần thiết
thì tòa án ra lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa.
Như vậy, thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử tối đa ( kể cả gia hạn mười lăm ngày đối với tội
ít phạm nghiêm trọng, chín mươi ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, một trăm hai mươi ngày đối
với tội phạm rất nghiêm trọng, đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì thời hạn này có thể lên
đến một trăm năm mươi ngày.
d) Thời hạn tạm giam để xét xử phúc thẩm:
Điều 243 BLTTHS 2003 quy định:

phải chấp hành cải tạo và sinh sống trong trại cải tạo ( trại giam ) một thời gian bằng thời hạn tù
mà tòa án đã tuyên ( được khấu trừ thời hạn đã bị tạm giam ). Do tạm giam không phải là hình
phạt nên chế độ tạm giam khác với chế độ người đang chấp hành hình phạt tù ( Điều 89 BLTTHS)
Ngày 07/11/1998 Chính Phủ đã ban hành Nghị định 89/NĐ-CP về Quy chế tạm giữ, tạm giam.
Nghị định này thay thế Nghị định 149 – HĐBT ngày 5/5/1992 của Hội Đồng Bộ Trưởng ( nay là
Chính phủ ) về chế độ tạm giữ, tạm giam. Sự ra đời của Nghị định số 89 có ý nghĩa quan trọng, thể
hiện sự tiến bộ trong công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật.
b) Về chế độ chăm nom người thân và bảo quản tài sản của người bị tạm giam:
12


Chế độ chăm nom người thân và bảo quản tài sản của người bị tạm giam được quy định tại
Điều 90 BLTTHS như sau:
Khi người bị tạm giữ, tạm giam có con chưa thành niên dưới 14 tuổi hoặc có người thân thích
là người tàn tật, già yếu không có người chăm sóc, cơ quan ra quyết định tạm giữ, lệnh tạm giam
giao những người đó cho người thân thích chăm nom. Trong trường hợp người bị tạm giữ, tạm
giam không có người thân thích thì cơ quan ra quyết định tạm giữ, lệnh tạm giam giao cho chính
quyền sở tại chăm nom.
Trong trường hợp người bị tạm giữ, tạm giam có nhà hoặc tài sản riêng cho người trông nom,
bảo quản thì cơ quan ra quyết định tạm giữ, lệnh tạm giữ chỉ áp dụng biện pháp trông nom, bảo
quản thích đáng.
Cơ quan ra quyết định tạm giữ, lệnh tạm giam thông báo cho người tạm giam biết biện pháp
được áp dụng.
Việc pháp luật quy định về chế độ chăm nom người thân và bảo quản người bị tạm giam thể
hiện tính nhân đạo của Nhà nước ta, người bị tạm giam người có trách nhiệm đối với người thân
nhất là những người này để tự mình chăm sóc được cho mình chính vì vậy mà khi đã tạm giam
phải có những chính sách để đảm bảo cuộc sống cho người bị tạm giam cũng như tài sản của
người bị tạm giam.
c) Việc khấu trừ thời hạn tạm giam vào thời hạn chấp hành hình phạt:
Theo quy định của Điều 33 BLHS 1999, thời hạn tạm giam được tính chấp hành hình phạt tù,

biện pháp ngăn chặn tạm giam còn thể hiện ở chỗ: đây là những biện pháp cưỡng chế của nhà
nước áp dụng đối với những đối tượng nhất định và trong những trường hợp do pháp luật quy định
nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội, ngăn chặn họ tiếp tục phạm tội hoặc gây
cản trở cho các hoạt động tố tụng.
III. Đề xuất hoàn thiện các quy định về tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam:
Xuất phát từ thực trạng quy định và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong thời gian qua
ta thấy rằng biện pháp ngăn chặn tạm giam đã mang lại những kết quả rất khả quan, góp phần to
lớn trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, song cũng đã bộc lộ những yếu kém, vướng
14


mắc, bất cập cần được giải quyết, thảo luận. Qua việc phân tích các quy định của pháp luật hiện
hành về biện pháp ngăn chặn tạm giam, thực trạng việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, từ
những tồn tại, bất cập và các nguyên nhân dẫn đến những tồn tại bất cập đó.
Thứ nhất:
Trong BLTTHS hiện hành chưa có quy định về khái niệm biện pháp ngăn chặn tạm giam. Tại
điều 88 BLTTHS 2003 mới chỉ nêu ra được đối tượng áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam,
khoản 1 Điều 88 BLTTHS 2003 như sau:
“1. Tạm giam là biện pháp ngăn chặn do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án áp dụng
đối với bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc bị can bị cáo
phạm tội nghiêm trọng phạm tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù trên hai năm và
có căn cứ cho rằng người đó có thể hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục
phạm tội; với phạm tội quả tang hoặc bị bắt trong trường hợp khẩn cấp và người bị kết án phạt tù
có thời hạn, tù trung thân đang trong thời gian chờ thi hành án nhằm mục đích ngăn chặn người đó
bỏ trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc có thể tiếp tục phạm tội.”
Thứ hai:
Là việc bắt tạm giam bị cáo ngay tại phiên tòa cần có quy định là phải có lệnh tạm giam vì nếu
chỉ tuyên trong phần quyết định của bản án thì không thể tiếp tục tạm giam bị cáo, do bản án sơ
thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, chưa được đem ra thi hành, trừ trường hợp bản án được đem ra
thi hành ngay theo quy định tại khoản 2 Điều 255 BLTTHS.

nên sửa đổi những điều luật liên quan đến vấn đề này cho phù hợp với thực tiễn áp dụng, theo đó
nên bỏ quy định Cơ quan điều tra có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam ở giai
đoạn điều tra, mà chỉ quy định Viện trưởng, Phó viện trưởng VKS các cấp có thẩm quyền ra lệnh
tạm giam ở giai đoạn này, có thể trên cơ sở đề nghị của Cơ quan điều tra hoặc do VKS tự quyết
định khi có căn cứ.
C. PHẦN KẾT LUẬN
Các quy định vệ biện pháp ngăn chặn tạm giam là cơ sở pháp lý cần thiết, quan trọng cho các
Cơ quan tiến hành tố tụng và công dân trong cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Muốn
áp dụng đúng đắn các quy định đó trước hết các quy định đó phải chặt chẽ, đồng bộ và thống nhất,
bài viết đã dựa trên những tìm hiểu về biện pháp tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam để đưa
ra những đề xuất hoàn thiện những quy định này.
16


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO:

- Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, nxb Tư pháp.
- Các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam. Thực
trạng, nguyên nhân và giải pháp: Luận án tiến sĩ Luật học/ Nguyễn Văn Điệp; Người hướng
dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Hiện, PGS.TS Võ Khánh Vinh.
- Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam, nxb Công an nhân dân.
- Thời hạn tạm giam trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Tạp chí Luật học. Trường đại
học Luật học Hà Nội
- Hoàn thiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về tạm giam nhằm đáp ứng yêu cầu
cải cách tư pháp, Lê Minh Tuấn, Tạp chí Kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Số
9/2008, tr 34-40

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status