Tạm giữ trong tố tụng hình sự - Pdf 34

MỞ ĐẦU
Tạm giữ là một trong những biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc trong số
các biện pháp ngăn chặn khác được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Tạm
giữ nhằm ngăn chặn hành vi phạm tội hoặc hành vi cản trở việc điều tra khám
phá tội phạm của người bị nghi là thực hiện hành vi phạm tội, tạo điều kiện cho
cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện tốt các nhiệm vụ của mình. Do đó, việc hiểu
và sử dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ trong quá trình tố tụng hình sự như thế
nào cho hợp lý và đúng thủ tục pháp luật quy định là điều rất cần thiết. Để làm rõ
hơn vấn đề này, trong bài làm này em tìm hiểu đề tài “Tạm giữ trong tố tụng
hình sự”.

NỘI DUNG
I. NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BIỆN PHÁP NGĂN
CHẶN TẠM GIỮ
1. Khái niệm chung về biện pháp ngăn chặn tạm giữ
Tội phạm là hành vi nguy hiểm không chỉ cho riêng một cá nhân nào mà
hành vi nguy hiểm cho xã hội, nguy hiểm cho lợi ích chung của cộng đồng, do
vậy khi nhà nước tham gia giải quyết, xử lí tội phạm các cơ quan có thẩm quyền
có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế để tác động tới đối tượng thực hiện
hành vi phạm tội. Các biện pháp cưỡng chế là sự tác động một chiều không phụ
thuộc vào ý trí của bên bị tác động mà xuất phát từ những căn cứ điều kiện do
pháp luật quy định. Và tùy thuộc vào mục đích áp dụng, đối tượng áp dụng hoặc
những tiêu chuẩn khác mà các nhà làm luật phân chia các biện pháp cưỡng chế
trong tố tụng hình sự thành những nhóm và trong mỗi nhóm lại có những biện
pháp, những trình tự thủ tục khác nhau, bao gồm hai nhóm chính là nhóm các
biện pháp ngăn chặn và nhóm các biện pháp điều tra. Theo Điều 79 BLTTHS
2003 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì nhóm các biện pháp
ngăn chặn bao gồm các biện pháp sau: Bắt (bao gồm bắt người trong trường hợp
khẩn cấp, bắt người trong trường hợp phạm tội quả tang, bắt người bị truy nã và
1




Thứ nhất, người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang: Bắt
người trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang trong các trường hợp sau
đây: (1), Khi có căn cứ cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất
nghiêm trong hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Việc bắt người trong trường hợp này
phải bảo đảm hai điều kiện: có căn cứ cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện
tội phạm, tội phạm đang được chuẩn bị thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng
hoặc đặc biệt nghiêm trọng. (2), Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy
ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội
phạm và xét thấy cần ngăn chặn người đó bỏ trốn. (3), Khi thấy có dấu vết của tội
phạm ở người hoặc chỗ của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần
ngăn chặn việc người đó bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.
Thứ hai, người phạm tội tự thú, đầu thú: Người phạm tội “tự thú” là
trường hợp người phạm tội tự mình nhận tội và khai ra hành vi phạm tội của
mình, trong khi chưa ai phát hiện được mình phạm tội. Người nào bị bắt, bị phát
hiện về một hành vi phạm tội cụ thể, nhưng trong quá trình điều tra tự mình nhận
tội và khai ra những hành vi phạm tội khác của mình mà chưa bị phát hiện, thì
cũng được coi là tự thú đối với việc tự mình nhận tội và khai ra những hành vi
phạm tội của mình mà chưa bị phát hiện. “Đầu thú” là có người đã biết hành vi
phạm tội của người phạm tội, nhưng biết không thể trốn tránh được nên người
phạm tội đến cơ quan có thẩm quyền trình diện.
Thứ ba, người bị bắt theo quyết định truy nã là trường hợp người bị bắt đã
có quyết định truy nã của cơ quan có thẩm quyền.
Tuy nhiên, sau khi bị bắt trong các trường hợp nêu trên, người bị bắt có
thể không bị tạm giữ ví dụ như trong trường hợp người bị bắt phạm tội quả tang
nhưng sự việc phạm tội nhỏ, tính chất ít nghiêm trọng, người bị bắt có nơi cư trú
rõ ràng và không có hành động, biểu hiện sẽ cản trở việc điều tra thì không cần
phải tạm giữ. Còn đối với bắt người trong trường hợp khẩn cấp thường phải tạm
giữ vì trong hầu hết các trường hợp khi quyết định bắt khẩn cấp, Cơ quan điều tra


4


Như vậy, những người có quyền ra quyết định tạm giữ không hoàn toàn là
những người đại diện của các cơ quan tiến hành tố tụng mà bao gồm cả những
người của các cơ quan Nhà nước khác hoặc trong lực lượng vũ trang.
5. Thủ tục tạm giữ
Tạm giữ người theo thủ tục tố tụng hình sự là biện pháp ngăn chặn được
quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự, do người có thẩm quyền áp dụng đối với
người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự
thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã nhằm ngăn chặn tội
phạm, ngăn chặn người bị bắt trốn tránh việc điều tra; để xác minh tội phạm và
để quyết định việc truy cứu trách nhiệm hình sự (khởi tố bị can) đối với họ. Thẩm
quyền ra lệnh tạm giữ quy định tại khoản 2 Điều 86 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm
2003.
Thủ tục tạm giữ bao gồm: Quyết định tạm giữ; các công việc mà người thi
hành quyết định tạm giữ phải thực hiện trước hoặc sau khi tạm giữ người. Quyết
định tạm giữ không đòi hỏi phải có sự phê chuẩn của Viện Kiểm Sát trước khi thi
hành.
Quyết định của người có thẩm quyền phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người
bị tạm giữ, lý do tạm giữ, ngày hết hạn tạm giữ và phải được giao cho người bị
tạm giữ một bản. Người thi hành quyết định tạm giữ phải giải thích cho người bị
tạm giữ các quyền và nghĩa vụ của họ. Quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ
được quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng Hình sự gồm các quyền: Được biết lý
do mình bị tạm giữ; được giải thích về quyền và nghĩa vụ; trình bày lời khai; tự
bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa; đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu; khiếu
nại về việc tạm giữ, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng. Người bị tạm giữ có nghĩa vụ thực hiện các quy định về
tạm giữ theo quy định của pháp luật. Quy định về tạm giữ được quy định tại Quy

điều tra nhận được người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp tính từ khi người bị
bắt bị giải tới trụ sở Cơ quan điều tra. Trong trường hợp người bị bắt phạm tội

6


quả tang hoặc người bị truy nã thời điểm tính từ khi công dân nhận hoặc tổ chức
giao người bị bắt cho Cơ quan điều tra.
Tuy nhiên, Khoản 2 Điều 87 Bộ luật tố tụng hình sự quy định thêm những
trường hợp sau đây: Thứ nhất, “Trong trường hợp cần thiết, người ra quyết định
tạm giữ có thể ra hạn tạm giữ nhưng không được quá ba ngày”. Những trường
hợp cần thiết là những trường hợp sự việc xảy ra có nhiều tình tiết phức tạp, việc
xác minh phải thực hiện ở nhiều địa phương khác nhau hoặc cần phải có thêm
thời gian để làm rõ về hành vi, làm rõ căn cước, lý lịch của người bị tạm giữ. Thứ
hai, “Trong trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm
giữ lần thứ hai nhưng cũng không được quá ba ngày” Đây thông thường là
trường hợp đối với vụ án xâm phạm an ninh quốc gia và một số vụ án hình sự
khác có nhiều người tham gia, sự việc cần xác minh rất phức tạp mặc dù đã gia
hạn tạm giữ lần thứ nhất vẫn chưa làm rõ được sự việc. “Mọi trường hợp gia hạn
tạm giữ phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn” (Khoản 2, Điều 87 Bộ
luật tố tụng hình sự). Việc gia hạn tạm giữ chỉ có giá trị khi được Viện kiểm sát
cùng cấp phê chuẩn. Nếu Viện kiểm sát không phê chuẩn thì cơ quan đã ra lệnh
tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ sau khi hết hạn tạm giữ trước
đó. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được đề nghị gia hạn và tài liệu liên
quan đến việc gia hạn tạm giữ, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc
không phê chuẩn. Việc BLTTHS quy định hai lần có thể gia hạn tạm giữ nhằm
bảo đảm tính có căn cứ và cần thiết của việc tạm giữ, hạn chế hiện tượng tạm giữ
tràn làn, góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, do
vậy đòi hỏi người áp dụng pháp luật phải nhận thức rõ vấn đề này để bảo đảm áp
dụng pháp luật được tốt

nhân dân các cấp đã được thực hiện tốt hơn trước. Hầu hết các Viện kiểm sát cấp
tỉnh đã thực hiện nghiêm túc việc phê chuẩn việc bắt khẩn cấp, chất lượng phê
chuẩn được nâng lên hầu hết việc phê chuẩn đều đúng pháp luật. Về chất lượng
việc bắt, tạm giữ được khởi tố hình sự đạt tỷ lệ cao hơn so với những năm trước
đây. Những tiến bộ nói trên là do từ sau khi có Chỉ thị 53 của Thường vụ Bộ
8


Chính trị về đường lối bắt, giữ và trách nhiệm của của các cơ quan tiến hành tố
tụng nên ý thức trách nhiệm của người tiến hành tố tụng được nâng cao hơn. Các
cơ quan Công an, Viện kiểm sát có sự chỉ đạo phooid hợp với nhau nên kịp thời
khắc phục ngay những vi phạm pháp luật trong hoạt động bắt và tạm giữ.
Tuy nhiên, quá trình áp dụng các quy định của pháp luật về tạm giữ vẫn
còn có những vi mặt hạn chế nhất định. Việc tạm giữ không đúng quy định của
pháp luật vẫn xảy ra; việc tạm giữ hình sự nhưng sau đó phải trả tự do vì không
có căn cứ chứng minh tội phạm hoặc phải chuyển xử lý hành chính còn chiếm tỷ
lệ cao ở một số nơi. Có nơi vì muốn có tỷ lệ khởi tố trong tạm giữ hình sự cao
hơn nên đã lạm dụng việc bắt và tạm giữ hành chính. Các đối tượng phạm tội lẽ
ra phải bắt và tạm giữ theo thủ tục tố tụng hình sự nhưng cơ quan điều tra đã ra
lệnh tạm giữ hành chính 24 giờ rồi sau đó phân loại xử lý hành chính để lọt tội
phạm, hoặc tiếp tục ra lệnh tạm giữ theo thủ tục tố tụng hình sự. Cách xử lý như
vậy là trái với quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Ngoài ra, còn nhiều trường
hợp cơ quan điều tra bắt khẩn cấp nhưng sau đó không kịp gửi văn bản thông báo
cho Viện kiểm sát để Viện kiểm sát phê chuẩn mà vẫn ra lệnh tạm giữ, hoặc sau
khi ra lệnh tạm giữ nhưng không gửi hoặc gửi lệnh tạm giữ cho Viện kiểm sát
chậm so với quy định của pháp luật. Có trường hợp cơ quan điều tra bắt khẩn cấp
và ra lệnh tạm giữ, sau đó cần ra hạn tạm giữ mới chuyển lệnh bắt khẩn cấp và
lệnh tạm giữ cho VKS để đồng thời xin phê chuẩn lệnh gia hạn tạm giữ. Một số
nơi tạm giữ đối tượng có địa chỉ ở địa phương khác đã không quyết định khởi tố
hình sự lại chuyển cho địa phương nơi cư trú của người bị tạm giữ để khởi tố là

người bị bắt để xem ai là người sẽ bị xử lý hình sự, ai là người chỉ bị xử lý hành
chính. Như vậy, vấn đề đặt ra là: cần nhận thức đúng về các trường hợp đã tạm
giữ nhưng không xử lý về hình sự, nhất là trong trường hợp tạm giữ người bị bắt
quả tang.
* Thứ ba, những vướng mắc về thời hạn tạm giữ: Một là theo quy định tại
Khoản 1 Điều 87 BLTTHS năm 2003 thì thời điểm bắt đầu của thời hạn tạm giữ
là thời điểm Cơ quan điều tra nhận người bị bắt là chưa dự tính hết các trường
10


hợp có thể xảy ra trong thực tiễn. Ví dụ như những người bị bắt trên tàu bay, tàu
biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng Việt Nam hoặc những
người bị bắt ở biên giới, hải đảo. Những người bị bắt trong trường hợp này có thể
một thời gian khá lâu sau khi bị bắt mới giải đến cho Cơ quan điều tra, vậy
khoảng thời gian đó họ sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn nào? Bắt hay tạm giữ?
Bắt thì không phải vì biện pháp bắt kết thúc ngay sau khi họ thực hiện hành vi
phạm tội bị bắt, mà tạm giữ cũng không đúng vì sau khi bị bắt Cơ quan điều tra
chưa nhận được người này.
Một vấn đề nữa là thời gian từ khi gửi thông báo cho Viện kiểm sát đã yêu
cầu truy nã đến khi nhận được lệnh tạm giam hoặc bàn giao người bị bắt cho cơ
quan ra lệnh truy nã phải kéo dài nhiều ngày, nếu quá cả thời hạn tạm giữ thì phải
giải quyết như thế nào? Hai là ta thấy trong thực tế khi áp dụng các quy định về
thời hạn tố tụng nói chung và tạm giữ nói riêng thì đã nảy sinh một vấn đề cách
tính thời hạn tạm giữ như thế nào khi mà ngày kết thúc thời hạn lại là ngày nghỉ
lao động hoặc ngày lễ? Theo quy định tại Điều 96 BLTTHS năm 2003 thì: “Thời
hạn mà Bộ luật này quy định tính theo giờ, ngày và tháng”; “Khi tính thời hạn
theo ngày thì thời hạn sẽ hết vào 24 giờ ngày cuối cùng của thời hạn”; nếu thời
hạn hết vào ngày nghỉ thì ngày làm việc đầu tiên tiếp theo được tính là ngày cuối
cùng của thời hạn”. Bởi như chúng ta đã biết, thời hạn tạm giữ được tính theo
ngày. Mặc dù cơ quan tiến hành tố tụng đã có quy định phân công lãnh đạo trực

báo với cơ quan có thẩm quyền. Điều này cần được xem xét giải quyết một cách
hợp lý.
* Thứ năm, vướng mắc về chế độ tạm giữ. Theo quy định của pháp luật,
việc tạm giữ người bị tạm giữ được thực hiện trong nhà tạm giữ của Công an cấp
huyện, hoặc một số phòng tạm giữ của các trại tạm giam cấp tỉnh. BLTTHS cũng
quy định rõ quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, chế độ đối với người bị tạm
giữ. Tuy nhiên, trên thực tế cho thấy, các cơ quan có liên quan chưa thực sự tôn
trọng và bảo đảm thực hiện các quyền của người bị tạm giữ. Nhiều trường hợp
người bị tạm giữ bị đối xử không đúng, bị bỏ đói, bỏ rét hoặc bị buộc làm những
12


công việc nặng nhọc bẩn thỉu, nhiều người bị tạm giữ không được biết lý do tạm
giữ, công tác phân loại những người bị tạm giữ để xử lý chưa đúng bản chất của
sự việc,…
* Thứ sáu, vướng mắc trong việc trả tự do cho người bị tạm giữ. Theo
Khoản 3 Điều 87 BLTTHS 2003 quy định: “Trong khi tạm giữ, nếu không đủ
căn cứ khởi tố bị can thì phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ”. Việc luật
quy định trả tự do ngay cho người bị tạm giữ nếu không có đủ căn cứ khởi tố bị
can là hoàn toàn hợp lý. Tuy nhiên luật lại không quy định về thẩm quyền trả tự
do và thủ tục trả tự do cho người bị tạm giữ. Do đó đặt ra câu hỏi là: Trong
trường hợp người phải trả tự do cho người bị tạm giam thì ai có thẩm quyền trả tự
do cho họ? Phải chăng là những người có thẩm quyền ra lệnh bắt tạm giữ theo
Khoản 2 Điều 86 BLTTHS năm 2003 thì cũng là người có thẩm quyền ra lệnh trả
tự do cho người tạm giữ hay là một chủ thể khác? Thủ tục trả tự do luật cần có
quy định rõ.
III. GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC ÁP DỤNG
CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TẠM GIỮ
Từ những thực trạng và những vướng mắc trên đây có thể đưa ra những
giải pháp sau để bảo đảm thực hiện đúng đắn và đầy đủ quy định biện pháp ngăn

cũng như nâng cao ý thức pháp luật cho các cơ quan và những người có thẩm
quyền trong hoạt động bắt, tạm giữ nói riêng và trong hoạt động tiến hành tố tụng
nói chung.
* Thứ ba, có hình thức tuyên dương, khen thưởng kịp thời đối với những
cá nhân có thành tích trong công việc đồng thời cũng xử lý thích đáng những cán
bộ làm công tác tạm giữ vi phạm pháp luật…
3. Tăng cường sự lãnh đạo của thủ trưởng các cơ quan tiến hành tố tụng,
sự phối hợp kiểm tra giám sát giữa các cơ quan
4. Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho việc
bắt, tạm giữ.
5. Giải pháp về việc xử lý các trường hợp vi phạm
14


Cần nâng cao trách nhiệm của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng bằng
các hình thức quán triệt, rõ ràng, đầy đủ các trách nhiệm của họ như các chế tài
mà họ có thể bị áp dụng, nếu họ có những hành vi vi phạm trong quá trình thực
thi nhiệm vụ của mình. Ví dụ: Về trách nhiệm dân sự: thì trong khi thi hành
nhiệm vụ những người có thẩm quyền ở các cơ quan tiến hành tố tụng gây thiệt
hại do việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án oan sai gây ra thì phải bồi thường
thiệt hại. Còn đối với trách nhiệm hành chính thì tùy theo mức độ vi phạm mà họ
phải chịu một trong những hình thức kỷ luật sau: khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc
lương, hạ ngạch, cách chức, buộc thôi việc. Và nếu là trách nhiệm hình sự thì cán
bộ, công chức vi phạm pháp luật mà có dấu hiệu của tội phạm thì bị truy cứu
trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
6. Tổ chức tuyên truyền giáo dục thức pháp luật nhằm nâng cao trình độ
dân trí, hiểu biết và tuân thủ pháp luật của người dân, tránh tình trạng các cơ quan
có thẩm quyền áp dụng sai các quy định của pháp luật về tạm giữ đối với họ

KẾT LUẬN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status