Mục lục
A. ĐẶT VẤN ĐỀ.
Biện pháp ngăn chặn tạm giam là một trong 6 biện pháp thuộc hệ
thống các biện pháp ngăn chặn được quy định trong BLTTHS ( bắt, tạm giữ,
tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để đảm
bảo). Và trong các biện pháp ngăn chặn trên thì biện pháp ngăn chặn tạm
giam được coi là biện pháp ngăn chặn có tính nghiêm khắc nhất bởi sự ảnh
hưởng của nó tới các quyền cơ bản của công dân. Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu
về biện pháp tạm giam trong tố tụng hình sự đồng thời đề ra một số giải pháp
trong việc hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp này.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
I. Khái quát về biện pháp tạm giam trong Tố tụng Hình sự.
1. Khái niệm về biện pháp tạm giam.
Từ Điều 88 BLTTHS ta có thể hiểu về tạm giam là biện pháp ngăn chặn
trong tố tụng hình sự do cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án áp dụng đối với
bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng
hay bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà BLHS
quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn
hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.
1
Đây là một trong những biện pháp ngăn chặn có tính chất nghiêm khắc
nhất trong các biện pháp ngăn chặn của tố tụng hình sự. Người bị áp dụng biện
pháp tạm giam bị cách li với xã hội trong một thời hạn nhất định, bị hạn chế một
số quyền cơ bản của công dân.
2.Mục đích tạm giam.
- Thứ nhất, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tạo điều kiện
phạm đến các quyền và lợi ích của công dân dù đó là hành vi của cơ quan nhà
nước hay người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
3. Các trường hợp áp dụng biện pháp tạm giam.
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 88 BLTTHS ta có thể chia ra các trường hợp
bị can, bị cáo phạm tội ở các mức khác nhau như:
a. Trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội rất nghiêm
trọng.
Đây là trường hợp bị can, bị cáo phạm tội mà khung hình phạt áp dụng đối
với tội ấy là trên 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình (tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng) hoặc tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt đến 15 năm
tù (tội phạm rất nghiêm trọng). Việc áp dụng biện pháp tạm giam trong trường
hợp này cần hai điều kiện:
+ Người thực hiện tội phạm là người đã bị khởi tố bị can hoặc người đã bị
thẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra xét xử với tư cách là bị cáo;
+ Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội rất nghiêm trọng.
b. Trường hợp phạm tội nghiêm trọng hoặc phạm tội ít nghiêm trọng.
Trường hợp này quy định hình phạt tù trên 2 năm và có căn cứ để cho rằng
người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm
tội.
- Để tạm giam trong trường hợp này cần có 3 điều kiện:
+ Người thực hiện tội phạm là bị can, bị cáo
3
+ Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng hoặc phạm tội ít nghiêm trọng mà
BLHS quy định hình phạt tù trên hai năm. Đây là trường hợp bị can, bị cáo phạm
tội nghiêm trọng hoặc phạm tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định mức cao
nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên 2 năm tù. Trong một điều luật có
nhiều khoản thì phạm tội thuộc khoản có mức hình phạt tù từ hai năm trở xuống
thì không được tạm giam;
thực tế. Chính vì vậy, việc tạo điều kiện để thi hành án là vấn đề rất quan trọng
và cần thiết.
Khi cần đảm bảo thi hành án, tùy theo tính chất cụ thể của từng vụ án, tùy
theo nhân thân của người bị kết án, tòa án có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn
thích hợp trong đó Tòa án có thể sử dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với
bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án
4. Thẩm quyền ra lệnh tạm giam.
Thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam được quy định cho
nhiều chủ thể khác nhau tùy thuộc vào các giai đoạn tố tụng. Khoản 3 Điều 88
BLTTHS quy định những người có thẩm quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm
giam thì có quyền ra lệnh tạm giam (những người có quyền ra lệnh bắt bị can, bị
cáo để tạm giam được quy định tại Khoản 1 Điều 80 BLTTHS năm 2003).
Lệnh tạm giam của thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp phải
được viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Thời hạn mà viện
kiểm sát phải xem xét để ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn lệnh
tạm giam của cơ quan điều tra là ba ngày kể từ ngày nhận được lệnh tạm giam.
Viện kiểm sát phải hoàn trả lại hồ sơ cho cơ quan điều tra ngay sau khi kết thúc
việc xét phê chuẩn hay không
5. Thủ tục thực hiện biện pháp tạm giam.
Với tính chất là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất, hạn chế tự do
của người bị áp dụng trong một khoảng tạm giam nhất định, việc áp dụng biện
5
pháp ngăn chặn tạm giam cần phải tuân theo một trình tự, thủ tục rất chặt chẽ.
Việc tạm giam phải có lệnh viết của người có thẩm quyền. Lệnh tạm giam phải
ghi rõ ngày, tháng, năm, họ tên, chức vụ của người ra lệnh; họ tên, địa chỉ của
người bị tạm giam; lí do tạm giam, thời hạn tạm giam và giao cho người bị tạm
giam một bản.
Sau khi ra lệnh tạm giam, cơ quan ra lệnh tạm giam phải kiểm tra căn
đối với tội phạm ít nghiêm trọng; 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng; 2
tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng; và 3 tháng đối với tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án.
Đối với những vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn
theo quy định của pháp luật.
d. Thời hạn tạm giam để xét xử phúc thẩm.
Thời hạn tạm giam để xét xử phúc thẩm quy định tại Điều 243
BLTTHS, theo đó thì thời hạn tạm giam để xét xử phúc thẩm là không quá 60
ngày đối với phiên tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp
quân khu và không quá 90 ngày đối với phiên tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối
cao, Tòa án quân sự trung ương.
e. Thời hạn tạm giam để đảm bảo thi hành án.
- Đối với giai đoạn xét xử sơ thẩm, theo Điều 228 BLTTHS quy định
nếu bị cáo đang bị tạm giam mà bị phạt tù nhưng đến ngày kết thúc phiên tòa
thời hạn tạm giam đã hết thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam bị cáo để
bảo đảm việc thi hành án. Trường hợp bị cáo không bị tạm giam nhưng bị phạt
tù thì họ chỉ bị bắt tạm giam để chấp hành hình phạt khi bản án đã có hiệu lực
pháp luật. Thời hạn tạm giam là 45 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Đối với giai đoạn xét xử phúc thẩm, Điều 243 BLTTHS quy định nếu bị
cáo đang bị tạm giam, bị xử phạt tù mà đến ngày kết thúc thời hạn tạm giam đã
7
hết thì hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi
hành án, thời hạn tạm giam là 45 ngày kể từ ngày tuyên án.
7. Chế độ tạm giam.
Tạm giam không phải là hình phạt mà là một biện pháp ngăn chặn trong tố
tụng hình sự. Việc áp dụng biện pháp tạm giam không phải là để nhằm trừng trị
giam được trông nom, bảo quản.
II. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả
áp dụng biện pháp ngăn chặn.
Xuất phát từ thực trạng quy định và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm
giam trong tạm giam qua chúng ta thấy rằng biện pháp ngăn chặn tạm giam đã
mang lại những kết quả khả quan , góp phần to lớn trong công cuộc đấu tranh
phòng chống tội phạm song cũng đã bộc lộ những yếu kém vướng mắc bất cập
cần phải được giải quyết, tháo gỡ.
1. Cần phải bổ sung khái niệm biện pháp ngăn chặn tạm giam vào
trong điều luật.
Trong BLTTHS hiện hành chưa có quy định về khái niệm biện pháp ngăn
chặn tạm giam. Tại Điều 88 BLTTHS chỉ nêu ra được đối tượng bị áp dụng biện
pháp ngăn chặn tạm giam vì vậy cần đưa khái niệm biện pháp ngăn chặn tạm
giam vào theo hướng như sau:
“Tạm giam là biện pháp ngăn chặn do cơ quan điều tra, Viện kiểm sát
hoặc Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng,
phạm tội rất nghiêm trọng hoặc bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít
nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt từ trên 2 năm và có căn cứ cho rằng
người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp
tục phạm tội ; người phạm tội quả tang hoặc bị bắt trong trường hợp khẩn cấp
và người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân đang trong thời gian chờ
9
thi hành án nhằm mục đích ngăn chặn người đó bỏ trốn hoặc cản trở việc điều
tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc có thể tiếp tục phạm tội.”
2. Việc bắt giam bị cáo ngay tại phiên tòa cần có quy định theo hướng
là phải có lệnh tạm giam.
này gây khó khăn cho cơ quan điều tra cũng như quá trình xét xử, thi hành án.
6. Nên thu hẹp đối tượng người có thẩm quyền áp dụng biện pháp
tạm giam.
Để phù hợp với nội dung của chiến lược cải cách tư pháp của nước ta đến
năm 2020 theo hướng không giao cho người có thẩm quyền của cơ quan điều tra
(Thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra) được quyền ra lệnh tạm giam mà
những chủ thể này chỉ có quyền đề nghị Viện kiểm sát cùng cấp xem xét, quyết
định việc tạm giam bị can, bị cáo nếu có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật.
Khi đó quyền ra lệnh tạm giam sẽ chỉ giao cho cấp trưởng là Viện trưởng Viện
kiểm sát, Chánh án tòa án. Trong trường hợp cấp trưởng vắng mặt thì cấp phó
được cấp trưởng ủy quyền mới có thẩm quyền này.
Khi đó, điều luật có thể quy định như sau về thẩm quyền ra lệnh tạm
giam:
“Trong giai đoạn tố tụng trước khi xét xử (giai đoạn khởi tố, điều tra,
truy tố) Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Viện trưởng viện kiểm sát quân sự
các cấp tự mình hoặc trên cơ sở đề nghị bằng văn bản của thủ trưởng cơ quan
điều tra cùng cấp có quyền ra lệnh tạm giam. Trong trường hợp Viện trưởng
viện kiểm sát vắng mặt thì phó viện trưởng Viện kiểm sát được viện trưởng ủy
quyền thực hiện thẩm quyền này.
Trong giai đoạn xét xử, Chánh án Tòa án nhân dân , Chánh án tòa án
quân sự các cấp có quyền ra lệnh tạm giam. Trong trường hợp Chánh án Tòa án
vắng mặt thì một phó chánh án tòa án được Chánh án ủy quyền thực hiện thẩm
11
quyền này.. Thẩm quyền ra lệnh tạm giam bị cáo tại phiên tòa do Hội đồng xét
xử xem xét, quyết định ,…”.
7. Hoàn thiện hơn quy định của pháp luật về các trường hợp áp dụng
biện pháp tạm giam.
cũng như một số giải pháp được nêu ra trong việc hoàn thiện pháp luật nhằm
nâng cao hơn nữa hiệu quả áp dụng biện pháp này trong hoạt động tố tụng hình
sự. Chúng ta cũng cần phải hiểu rằng để biện pháp này thực sự hữu hiệu khi áp
dụng thì việc hoàn thiện các quy định của pháp luật không phải là điều cần làm
duy nhất, bên cạnh đó chúng ta còn phải nâng cao năng lực và phẩm chất đạo
đức của các chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn này hay hoàn
thiện cơ sở vật chất kỹ thuật trong hoạt động áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm
giam.
Bài làm trên đây của em không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất
mong nhận được những ý kiến đóng góp từ thầy cô để bài được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
13
Danh mục tài liệu tham khảo:
1. Giáo trình Tố tụng Hình sự Việt Nam, Trường ĐH Luật Hà Nội,
Nxb.CAND, Hà Nội, năm 2009.
2. Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003.
3. www.tailieu.vn
14