A – LỜI NÓI ĐẦU
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự các cơ quan THTT (tiến hành tố tụng)
được áp dụng nhiều biện pháp cưỡng chế trong đó có biện pháp ngăn chặn. Biện
pháp ngăn chặn là chế định pháp lý quan trọng được quy định tại Chương VI Bộ
luật tố tụng hình sự năm 2003. Nhằm tránh việc lợi dụng của các cơ quan THTT và
người THTT khi áp dụng áp dụng những biện pháp này xâm hại đến quyền con
người Luật TTHS quy định chặt chẽ mục đích, căn cứ, thẩm quyền, thủ tục áp dụng.
Những biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất
trong hệ thống biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự. Các quy định về những biện
pháp là cơ sở pháp lý để cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền có thế
tác động một cách hợp pháp đến một số quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp
và pháp luật quy định và bảo hộ nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa tội phạm trốn
tránh pháp luật hoặc có hành vi gây khó khăn trong tố tụng hình sự cũng còn là một
phương tiện góp phần đảm bảo thực hiện các quyền tự do dân chủ của công dân, hạn
chế và ngăn ngừa sự xâm phạm một cách tùy tiện trái pháp luật đến quyền và lợi ích
hợp pháp của họ. Trong số những biện pháp ngăn chặn mà BLTTHS quy định thì
“bắt người” có một vị trí rất quan trọng, bởi lẽ đây là một biện pháp ngăn chặn có
tính chất cưỡng chế rất nghiêm khắc, trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến quyền cơ
bản của công dân được Hiến pháp và pháp luật quy định.
1
1
B – NỘI DUNG
I – LÝ LUẬN CHUNG VỀ BIỆN PHÁP BẮT NGƯỜI TRONG TỐ TỤNG
HÌNH SỰ
1.Bắt người trong tố tụng hình sự
1.1. Định nghĩa:
lần đầu, tính chất ít nghiêm trọng hoặc phạm tội do vô ý, không có hành động cản
trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử thì không cần bắt để tạm giam.
1.3. Bắt người trong mối quan hệ với các biện pháp ngăn chặn khác trong tố
tụng hình sự.
Bắt người và những biện pháp ngăn chặn khác luôn tồn tại mối quan hệ tác
động lẫn nhau, chúng cùng có chung một bản chất – đều là những biện pháp cưỡng
chế tố tụng hình sự được thực hiện bằng sức mạnh của quyền lực Nhà nước, đều
luôn gắn liền với sự tác động và hạn chế các quyền tự do cá nhân của đối tượng áp
dụng. Sở dĩ biện pháp bắt người và một số biện pháp ngăn chặn là vì các biện pháp
này khi áp dụng đều có chung mục đích ngăn chặn, phòng ngừa.
2. Mục đích, ý nghĩa của biện pháp bắt người trong tố tụng hình sự.
2.1. Mục đích:
- Nhằm kịp thời ngăn chặn tội pham.
- Ngăn chặn việc bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho công tác điều tra.
- Ngăn chặn không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội.
- Ngăn chặn hành vi gây khó khăn, cản trở việc thi hành án.
2.2. Ý nghĩa:
- Thể hiện đường lối, chính sách của Nhà nước ta trong việc xử lý những hành
vi phạm tội.
- Nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước bằng pháp luật.
3
3
- Là cơ sở pháp lý để co quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tác động
đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân trong những trường hợp cần
thiết, nhằm đạt được mục đích của tố tụng hình sự.
– Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã.
1.1.Bắt bị can, bị cáo để tạm giam (điều 80 BLTTHS năm 2003)
Đối tượng áp dụng và điều kiện áp dụng đối tượng áp dụng để tạm giam chỉ có
thể là bị can hoặc bị cáo. Những người chưa bị khởi tố về hình sự hoặc người chưa
bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử không phải là đối tượng bắt để tạm giam. Mục
đích của bắt người trong trường hợp này là để tạm giam, cho nên trước khi quyết
định bắt, cơ quan có thẩm quyền cần xác định có cần thiết bắt bị can, bị cáo đó để
tạm giam hay không. Thông thường, các cơ quan tiến hành tố tụng thường căn cứ
vào tính chất của tội phạm bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, các đặc điểm về nhân
thân cũng như thái độ chấp hành pháp luật của bị can, bị cáo trong quá trình giải
quyết vụ án.
– Thẩm quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam (k1 điều 80 BLTTHS năm
2003)
Trong giai đoạn điều tra, việc bắt bị can, do thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan
điều tra các cấp quyết định. Trường hợp cơ quan điều tra ra lệnh bắt bị can để tạm
giam phải được viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Những lệnh
bắt người không có sự phê chuẩn của viện kiểm sát cùng cấp sẽ không có giá trị thi
hành. Thời hạn xem xét để ra quyết định phê chuẩn hay không phê chuẩn lệnh bắt bị
can để tạm giam là ba ngày kể từ khi viện kiểm sát nhận được công văn đề nghị xét
phê chuẩn cùng các tài liệu có liên quan đến việc bắt.
Trong giai đoạn truy tố, việc bắt bị can để tạm giam do viện trưởng, phó viện
trưởng viện kiểm sát nhân dân và viện kiểm sát quân sự các cấp quyết định.
Trong giai đoạn xét xử, việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam do chánh án, phó
chánh án tòa án nhân dân và tòa án quân sự các cấp, thẩm phán giữ chức vụ chánh
tòa, phó chánh tòa phúc thẩm tòa án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử quyết định.
– Thủ tục bắt bị can, bị cáo để tạm giam (k2 và k3 điều 80 BLTTHS năm
2003).
5
5
6
thực hiện không đóng vai trò quyết định trong việc xác định lý do bắt khẩn cấp. Lý
do phải bắt đối với người phạm tội ở đây chính là việc có đủ cơ sở để khẳng định
người đó đã thực hiện tội phạm và nếu không bắt ngay họ sẽ trốn. Việc bắt người
trong trường hợp này cần phải đảm bảo hai điều kiện sau:
+Phải có người có mặt nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và trực tiếp
xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm.
Người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm có thể là người bị hại hoặc người khác đã
chính mắt trông thấy người phạm tội và hành vi phạm tội được thực hiện và trực tiếp
xác nhận với cơ quan có thẩm quyền đúng là người đã thực hiện tội phạm.
+Xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn.
Những căn cứ cho rằng người phạm tội bỏ trốn thường là:
Đang có hành động bỏ trốn, đang chuẩn bị trốn;
Không có nơi cư trú rõ ràng;
Có nơi cư trú nhưng ở quá xa;
Là đối tượng lưu manh, côn đồ, hung hãn
Chưa xác định được nhân thân của người đó (căn cước lý lịch không rõ ràng).
Đối với trường hợp khác thì vẫn tiến hành việc giải quyết vụ án mà không cần
bắt khẩn cấp.
– Trường hợp khẩn cấp thứ ba: Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc
tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc
người đó trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ.
Đây là trường hợp cơ quan có thẩm quyền chưa có đủ tài liệu, chứng cứ để xác
định người đó thực hiện tội phạm, nhưng qua việc phát hiện thấy có dấu vết của tội
phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người mà người đó bị nghi thực hiện tội phạm và
xét thấy cần ngăn chặn việc người này bỏ trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ thì bắt khẩn
cấp.
8
Thứ ba: Trong trường hợp khẩn cấp được bắt người vào bất kỳ lúc nào, không
kể ban ngày hay ban đêm.
1.3.Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã (Điều 82 BLTTHS năm
2003)
– Bắt người phạm tội quả tang
Bắt người phạm tội quả tang là bắt người khi người đó đang thực hiện tội
phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt.
Những trường hợp phạm tội quả tang bao gồm:
+ Người đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện.
+ Ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện.
+ Đang bị đuổi bắt.
– Việc bắt người đang bị truy nã
+ Thẩm quyền bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã:
Để huy động và phát huy tính tích cực của quần chúng trong cuộc đấu tranh và
phòng ngừa tội phạm, nhằm kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội và trốn tránh pháp
luật của người phạm tội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân, BLTTHS
năm 2003 quy định bất kỳ người nào có quyền bắt người phạm tội quả tang hoặc
người bị truy nã.
+ Thủ tục bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã.
Việc bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã không cần lệnh của cá
nhân hoặc cơ quan, tổ chức nào. Sau khi bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị
truy nã, người bắt phải giải ngay người bị bắt đến cơ quan công an, VKS hoặc Uỷ
ban nhân dân gần nhất.
9
10
phạm nguy hiểm cần phải bắt giữ và xử lý, làm cho quần chúng nhân dân thiếu tin
tưởng vào cơ quan bảo vệ pháp luật.
Việc bắt người đang bị truy nã còn có nhiều lỗ hổng. Theo quy định của
BLTTHS thì đối tượng bị truy nã chỉ có thể là bị can, bị cáo. Quy định này chưa bao
hàm các đối tượng khác như: Người trốn khỏi nơi tạm giữ, trốn thi hành án….
Bộ Luật tố tụng Hình sự đã qua 3 lần sửa đổi, bổ sung tuy nhiên qua các lần bổ
sung, điều mà mọi người quan tâm là trách nhiệm của những cán bộ thực thi trong
các cơ quan tiến hành tố tụng gây ra oan sai cho người dân sẽ bị xử lý như thế nào
thì còn chưa được quy định một cách thuyết phục.
Những năm gần đây bắt, giam, giữ là vấn đề thu hút sự chú ý của nhiều cơ
quan nhà nước, các tổ chức xã hội, và đông đảo quần chúng nhân dân. Việc bắt
người tuỳ tiện, bắt oan người không có tội, tạm giữ, tạm giam người không có Lệnh
đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân. Có trường hợp cơ quan cấp dưới giữ người nhưng không báo cáo cơ
quan có thẩm quyền, xử lý vụ việc tùy tiện, xâm hại nghiêm trọng đến quyền tự do,
quyền được bảo hộ về danh dự, nhân phẩm của con người. Trường hợp của hai chị
em cô Hắc Thị Bạch Tuyết và cô Hắc Thị Bạch Thủy tại tỉnh Bình Thuận mà báo
chí đã phản ánh là một trong những ví dụ vi phạm pháp luật không đáng xảy ra nếu
người thi hành công vụ có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng. Thật khó tin khi chỉ
mới nghi ngờ cô Hắc Thị Bạch Tuyết và em gái là Hắc Thị Bạch Thủy tráo vàng giả
mà chủ tiệm vàng Mỹ Kim đã dẫn giải hai cô tới công an thị trấn Chợ Lầu; và tại
đây, được công an thị trấn cho phép, chủ tiệm vàng đã tự tiện “giữ” chị em cô
Tuyết từ 16 giờ ngày 21/1 đến 2 giờ ngày 22/1/2006, thậm chí còn cởi hết quần áo
của các cô để khám xét [1].
11
12
12
thống nhất “Lệnh bắt người bị kết án để thi hành án” theo thẩm quyền của Tòa
án, giao cho lực lượng Cảnh sát hỗ trợ tư pháp thực thi theo thủ tục chung.
- Trường hợp bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định
hình phạt tù dưới 2 năm thì không bị bắt để tạm giam; nhưng đối với các trường
hợp bị can, bị cáo không có nơi cư trú rõ ràng hoặc có nơi cư trú nhưng ở cách
xa Cơ quan điều tra hoặc có tiền án tiền sự hoặc là lưu manh chuyên nghiệp có
biểu hiện trốn, cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử thì có thể bắt tạm giam.
- Khoản 3 Điều 80 BLTTHS quy định “Không được bắt người vào ban
đêm, trừ trường hợp bắt khẩn cấp, phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy
nã quy định tại các Điều 81 và Điều 82 của Bộ luật này” thuật ngữ này chưa
chính xác, không thống nhất mà phải quy định rõ “không được bắt tạm giam bị
can, bị cáo vào ban đêm”.
+ Về khoản 4 Điều 81 BLTTHS có quy định về thẩm quyền xét phê chuẩn lệnh
bắt khẩn cấp thuộc về Viện Kiểm sát cùng cấp. Tuy nhiên, đối với trường hợp người có
thẩm quyền ra lệnh bắt khẩn cấp là “Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung
đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới” và “Người
chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng” quy định
tại điểm b, c khoản 2 Điều 81 của Bộ luật này” thì rất khó xác định được Viện Kiểm sát
cùng cấp như khi tàu bay đang bay trên bầu trời, tàu biển đang ở ngoài biển... Do đó,
cần quy định bổ sung trong khoản 4 Điều 81 với nội dung “đối với trường hợp quy
định tại điểm b, c khoản 2 Điều luật này, thẩm quyền để xét phê chuẩn lệnh bắt khẩn
cấp là Viện Kiểm sát nơi có sân bay hoặc bến cảng trở về đầu tiên hoặc nơi tàu bay, tàu
biển đó được đăng ký” .
+ BLTTHS 2003 quy định việc bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã
tiến hành tố tụng. HĐND cần thực hiện tốt chức năng giám sát và hoạt động chất
vấn đối với các cơ quan tiến hành tố tụng tại địa phương để đảm bảo cho các cơ
quan này hoạt động có hiệu quả, đúng pháp luật.
Thứ ba, đối với cơ quan công an nói chung và các điều tra viên nói riêng, cần
phải thường xuyên học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, ý thức chính
14
14
trị, đề cao ý thức tổ chức kỷ luật. nắm chắc các quy định của pháp luật về bắt, tạm
giữ, tạm giam; hiểu rõ tính chất, mục đích của các biện pháp tạm giữ tạm giam; đảm
bảo khi thực hiện bắt người phải có lệnh và có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát, hạn
chế tình trạng “tiền trảm hậu tấu” khi bắt người; tôn trọng và bảo vệ các quyền và
lợi ích hợp pháp của người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam; phối hợp và
tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư tham gia quá trình bắt, tạm giữ, tạm giam khi giải
quyết vụ án.
Thứ tư, đối với Viện kiểm sát chỉ phê chuẩn lệnh bắt khi đã xác định rõ căn cứ
chứng tỏ bị can bị cáo sẽ gây khó khăn cho hoạt động tố tụng. Viện kiểm sát phải
phối hợp chặt chẽ với cơ quan điều tra, nghiên cứu kỹ tài liệu vụ án, gặp trực tiếp
hỏi kỹ càng điều tra viên, những người có liên quan đến vụ án, và cả người bị bắt về
các tình tiết của vụ án để quyết định phê chuẩn hay không phê chuẩn lệnh bắt.
Trong trường hợp bắt người không có căn cứ thì Viện kiểm sát kiên quyết không
phê chuẩn lệnh bắt. Mỗi kiểm sát viên cần phải luôn đề cao trách nhiệm, ý thức
pháp luật, ý thức chính trị trong quá trình thực thi công vụ của mình.
15
15
học. Hà Nội năm 2000
Tạp chí nhà nước và pháp luật số 06/134 năm 1999.
Bảo đảm quyền con người trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam – Nguyễn Tiến
Đạt – Đại học An ninh nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
[1] Theo http//www2.thanhnien.com.vn/phapluat/2006/3/15/142136.tno
17
17
MỤC LỤC
Trang
18
18