Đề bài số 6 : Tạm giam trong tố tụng hình sự
Bài làm
Phần mở đầu
Trong hệ thống các biện pháp ngăn chặn được quy định trong BLTTHS Việt Nam,
tạm giam là biện pháp ngăn chặn có tính cưỡng chế nghiêm khắc nhất và có tầm
quan trọng đặc biệt. Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn này đã tạo điều kiện cho các
cơ quan tiến hành tố tụng có thể tiến hành giải quyết được vụ án , ngăn chặn bị cáo
bỏ trốn hoặc tiếp tục hành vi phạm tội. Thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy việc áp
dụng chế định tạm giam vẫn còn nhiều bất cập cần phải hoàn thiện hơn. Trong
khuôn khổ bài tập học kì, em xin trình bày những hiểu biết của mình về chế định Tạm
giam trong tố tụng hình sự.
Phần nội dung
I.
1.
Nhận thức chung về biện pháp ngăn chặn tạm giam
Khái niệm biện pháp ngăn chặn
BLTTHS quy định một loạt các biện pháp cưỡng chế Nhà nước do cơ quan tiến
hành tố tụng áp dụng nhằm thực hiện những mục đích tố tụng nhất định. Căn
cứ vào mục đích của chúng có thể chia các biện pháp cưỡng chế thành các
nhóm:
Nhóm các biện pháp cưỡng chế để đảm bảo thu thập chứng cứ như khám
người, khám chỗ ở..
Nhóm các biện pháp cưỡng chế để đảm bảo cho quá trình tố tụng được tiến
hành bình thường và thuận lợi
Nhóm các biện pháp cướng chế nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa người
có hành vi phạm tội bỏ trốn hoăc có hành vi gây khó khăn cho quá trình giải
quyết vụ án…
được mục đích của việc áp dụng biện pháp tạm giam.
Trong giáo trình Luật tố tụng hình sự, Biện pháp ngăn chặn tạm giam được
hiểu :”Là biện pháp ngăn chặn trong TTHS do cơ quan điều tra, Viện kiểm sát,
Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội
đặc biệt nghiêm trọng hay bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm
trọng mà BLHS quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng
người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố , xét xử hoặc có thể tiếp
tục phạm tội” . Khái niệm này cũng vẫn chưa làm rõ được mục đích của việc áp
dụng biện pháp tạm giam.
2
Như vậy, cần phải có một khái niệm rõ hơn về biện pháp ngăn chăn tạm
giam.
Theo quy định của BLTTHS Việt Nam, hệ thống các biện pháp ngăn chặn có 6
biện pháp : bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền
hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Trong đó, biện pháp ngăn chặn tạm giam là
biện pháp có tính cưỡng chế nghiêm khắc nhất. Các biện pháp như cấm đi khỏi
nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm chỉ ảnh hưởng
đến quyền tự do đi lại hoặc ảnh hưởng đến lợi ích tài sản mà không ảnh hưởng
đến các quyền bất khả xâm phạm khác của công dân. Đối với biện pháp ngăn
chặn tạm giữ, bắt cũng là biện pháp ngăn chặn có tính nghiêm khắc cao, hạn
chế quyền tự do của công dân, nhưng thời gian hạn chế quyền tự do của công
dân trong bắt và tam giữ ngắn hơn nhiều so với thời gian hạn chế quyền tự do
của biện pháp tạm giam. Theo khoản 1 Điều 83 BLTTHs thì trong vòng 24 giờ
sau khi bắt người hoặc nhận người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc
phạm tội quả tang, cơ quan điều tra phải lấy lời khai , ra quyết định tạm giữ
hoặc trả tự do cho người bị bắt. Điều 87 BLTTHS cũng quy định thời hạn tạm
giữ là ba ngày và tối đa là 9 ngày đối với trường hợp có gia hạn tạm giữ. Trong
khi đó, tại khoản 2 Điều 120 BLTTHS thì thời hạn tạm giam để điều tra có thể
Thứ nhất, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam để tạo điều kiện thuận
lợi cho quá trình điều tra xử lí tội phạm. Việc này sẽ đảm bảo sự có mặt của bị
can, bị cáo trong các hoạt động tố tụng khi cần thiết, bảo đảm để bản án tuyên
có điều kiện thi hành khi có hiệu lực pháp luật cũng như đảm bảo tính chính
xác, khách quan của các hoạt động tố tụng.
Thứ hai, việc quy định và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam thể hiện sự
cưỡng chế của nhà nước trong việc đấu tranh chống tội phạm góp phần nâng
cao hiệu quả quản lí Nhà nước, củng cố tăng cường pháp chế xã hội. Biện pháp
này mang tính cưỡng chế sâu sắc, sử dụng quyền uy của Nhà nước để bắt buộc
những người đã thực hiện hành vi phạm tội phải tuân thủ các mệnh lệnh của
cơ quan nhà nước hoặc những người có thẩm quyền theo luật định với mục
đích ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội hoặc gây khó khăn cho việc điều tra, truy
tố, xét xử cũng như thi hành án.
Thứ ba, việc quy định và áp dụng đúng Biện pháp ngăn chặn tạm giam tạo cơ
sở pháp lí vững chắc, góp phần bảo đảm và tôn trọng các quyền cơ bản của
công dân được ghi nhận trong Hiến pháp. Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ
bản của công dân là một nguyên tắc quan trọng trong Tố tụng hình sự nước ta.
4
Do vậy, trong thời hạn tạm giam, cán bộ điều tra , truy tố xét xử cần phải đối xử
với bị can, bị cáo như một công dân bình thường.
Thứ tư, tạm giam thể hiện tính ưu việt của Nhà nước ta. Đây là hoạt động
nhằm phục vụ quyền lợi nhân dân lao động. Pháp luật không cho phép một
hành vi trái pháp luật nào xâm phạm đến các quyền và lợi ích của công dân dù
hành vi đó là của cơ quan nhà nước hay là của người tiến hành tố tụng. Do đó,
cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cần phải nghiêm chỉnh chấp
hành các quy định của pháp luật về tạm giam. Mọi hành vi trái với quy định của
pháp luật sẽ bị xử lí theo pháp luật, có thể bị xử lí theo Điều 119 BLHS về tội bắt
giữ
riêng đòi hỏi các quy phạm của BLTTHS cũng phải thay đổi để phù hợp. Vì vậy,
BLTTHS năm 2003 ra đời, với rất nhiều sửa đổi bổ sung trong quy định về trình
tự, thủ tục của việc khởi tố, truy tố xét xử vụ án hình sự nói chung và Biện pháp
ngăn chặn tạm giam nói riêng.
4.3.
Căn cứ vào các nguyên tắc cơ bản của BLTTHS
Đây là cơ sở cho việc quy định và thực hiện các hoạt động của TTHS. CHính vì
vậy, trong bất kì một chế định nào, kể cả chế định về Biện pháp ngăn chặn tạm
giam, các nhà làm luật phải dựa vào các nguyên tắc cơ bản của BLTTHS như :
Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền cơ bản của công dân, nguyên tắc đảm
bảo quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân, nguyên tắc không ai bị
coi là có tội nếu như chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa
án…
4.4.
Căn cứ vào chủ trương đường lối của Đảng, chính sách nhà nước
trong từng thời kì cách mạng.
Trong bất kể một xã hội nào, nếu còn các hành vi vi phạm pháp luật thì còn
những biện pháp trừng phạt, ngăn ngừa tất yếu được áp dụng. Ở nước ta, việc
áp dụng biện pháp tạm giam trong từng thời kì cách mạng, từng thời điểm
khác nhau của đất nước là khác nhau, căn cứ vào chủ trương, đường lối của
đất nước trong từng thời kì. Nếu như trước đây, trong thời kì đấu tranh cách
mạng, biện pháp tạm giam được coi là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất
được áp dụng đối với mọi đối tượng bị nghi là phạm pháp thì ngày nay, để
tránh tình trạng lạm dụng trong việc tạm giữ người gây nên những bất cập và
những ảnh hưởng không tốt trong dư luận quân chúng và làm cho các quyền
và lợi ích của công dân bị xâm hại, trong chương trình cải cách tư pháp, đặc
can, bị cáo. Tuy nhiên, không phải tất cả bị can, bị cáo đều bị áp dụng biện pháp
tạm giam mà chỉ áp dụng biện pháp này đối với họ trong những trường hợp
sau:
Trường hợp thứ nhất, bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội
rất nghiêm trọng. Nếu họ ở trong trường hợp này, những người có thẩm quyền
có thể ra lệnh tạm giam có thể ra lệnh tạm giam ngay mà không cần có thêm
các căn cứ khác.
Trường hợp thứ hai: bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng
mà BLHS quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có
thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.
Như vậy, trong trường hợp này, để có thể ra quyết định tạm giam thì cần phải
thỏa mãn ba điều kiện:
-
Người thực hiện tội phạm là bị can, bị cáo
Họ phạm tội nghiêm trọng hoặc tội ít nghiêm trọng mà trong BLHS quy
-
định hình phạt trên hai năm
Phải có căn cứ cho rằng họ có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố
xét xử hoặc có thể tiếp tuc phạm tội.
7
Để xác định bị can, bị cáo có thể cản trở việc điều tra, truy tố xét xử hoặc bỏ
trốn thì thường phải căn cứ vào yêu cầu của việc điều tra, xét xử và tính cần
thiết phải ngăn chặn tội phạm, nhân thân của bị can , bị cáo hoặc những vi
phạm nghĩa vụ của bị can , bị cáo khi được áp dụng những biện pháp ngăn
nhằm kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội, không để tội phạm xảy ra hoặc
hoàn thành hoặc không để người phạm tội kết thúc hành vi của mình.
8
Căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam bao gồm:
-
Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra,
truy tố, xét xử
Hành vi gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử thể hiện qua việc
sau khi thực hiện hành vi phạm tội , người thực hiện tội phạm có thể bỏ trốn,
tiêu hủy, làm giả hoặc thay đổi chứng cứ, xóa các dấu vết của vụ án, bàn bạc
nhau trốn tránh pháp luật…dẫn đến việc gây khó khăn phức tạp cho việc xác
định, làm rõ sự thật khách quan của vụ án.
-
Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội.
Những căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội có thể được thể hiện
qua yếu tố phản ảnh về nhân thân của bị can, bị cáo…hoặc hành vi đe dọa
người làm chứng nếu như họ đứng ra làm nhân chứng cho vụ án.
-
Để đảm bảo thi hành án
Các bản án khi đã có hiệu lực cần được đưa ra thi hành. Việc tạo điều kiện để
thi hành án là vấn đề rất quan trọng. Tùy theo tính chất cụ thể của từng vụ án,
tùy theo nhân thân của người bị kết ánTòa án có thể áp dụng Biện pháp ngăn
Theo quy định cuả Bộ luật tố tụng hình sự thì để có thể áp dụng biện pháp ngăn
chặn tạm giam thì phải có lệnh tạm giam. Lệnh này phải do người có thẩm
quyền kí. Lệnh tạm giam phải ghi rõ ngày tháng, năm, họ tên chức vụ của
người ra lệnh, họ tên, địa chỉ của người bị tạm giam, lý do tạm giam , thời hạn
tạm giam và giao cho người bị tạm giam một bản. Sau khi ra lệnh tạm giam, cơ
quan ra lệnh tạm giam phải kiểm tra căn cước của người bị tạm giam nhằm
xác định đúng đối tượng cần tạm giam, tránh trường hợp nhầm lẫn. Đồng thời
cơ quan đã ra lệnh tạm giam phải thông báo ngay cho gia đình người bị tạm
giam và cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan tổ chức nới người
bị tạm gia cư trú hoặc làm việc để gia đình họ cũng như các cơ quan tổ chức
biết được sự việc và không phải tiến hành những thủ tục tìm kiếm thông báo
không cần thiết, gây tốn kém.
5.
Thời hạn tạm giam
Thời hạn tạm giam không được quy định trong một điều luật mà quy định theo
từng giai đoạn của quá trình tố tụng. được chia thành các giai đoạn : Tạm giam
để điều tra, tạm giam trong giai đoạn truy tố, tạm giam để xét xử sơ thẩm, tạm
giam để xét xử phúc thẩm và tạm giam để đảm bảo thi hành án.
5.1.
Tạm giam để điều tra
Vấn đề này được quy định trong BLTTHS tại điều 120. Theo đó:” Thời hạn tạm
giam để điều tra không quá hai tháng đối với tội ít nghiêm trọng , không quá
ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng , không quá bốn tháng đối với tội
phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”. Ngoài ra còn có
10
đối với tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, không quá ba mươi
ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Sau
khi có quyết định đưa ra xét xử thì thời hạn tạm giam để mở phiên tòa là từ
mười lăm ngày đến ba mươi ngày. Ngoài ra, đối với bị cáo đang bị tạm giam
mà đến ngày mở phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần thiết thì
tòa án có thể ra lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa.
5.4.
Thời hạn tạm giam để xét xử phúc thẩm
11
Theo quy định tại Điều 243 BLTTHS năm 2003 thì sau khi nhận hồ sơ vụ án, Tòa
án cấp phúc thẩm có quyền quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ Biện
pháp ngăn chặn. Việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm
giam do chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu,
Chánh tòa, Phó chánh tòa phúc thẩm TANDTC quyết định. Thời hạn tạm giam
không được quá thời hạn xét xử phúc thẩm quy định tại Điều 242 BLTTHS. Tức
là thời hạn tạm giam không được quá sáu mươi ngày đối với TAND cấp tỉnh và
TAQS cấp quân khu,và không được quá chín mươi ngày đối với Tòa án nhân
dân tối cao và Tòa án quân sự trung ương.
5.5.
Thời hạn tạm giam để đảm bảo thi hành án
Ngay sau khi xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm , Hội đồng xét xử có thể quyết định
việc tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm theo
quy định tại điều 228 BLTTHS thì thời hạn tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành
án là bốn mươi lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Tại phiên tòa phúc thẩm, theo quy
định tại Điều 243 BLTTHS thì nếu bị cáo đang bị tạm giam, bị xử phạt tù mà đến
Có thể nói rằng việc áp dụng biện pháp tạm giam trng TTHS đã mang lại những
hiệu quả rất lớn, đã góp phần rất lớn để quá trình tiến hành tố tụng được diễn
ra một cách có hiệu quả hơn, đồng thời có tác dụng lớn đối với quá trình đấu
tranh phòng chống tội phạm ở nước ta hiện nay.
Khi áp dụng biện pháp này, bởi vì nó trực tiếp xâm hại đến quyền lợi ích hợp
pháp của công dân nên các cơ quan có thẩm quyền luôn chú trọng tuân thủ
những quy định của pháp luật nhằm bảo vệ một cách tốt nhất quyền và lợi ích
hợp pháp của bị can bị cáo. Đại đa số các trường hợp tạm giam đều có căn cứ
pháp luật, đúng đối tượng, thẩm quyền và thủ tục pháp luật theo quy định của
pháp luật.
Tuy nhiên, có thể nói rằng vẫn còn khá nhiều bất cập đối với chế định tạm giam.
Thứ nhất, vướng mắc về căn cứ tạm giam đối với người chưa thành niên.
Khoản 2 điều 303 BLTTHS 2003 quy định :”người từ đủ mười sáu tuổi đến dưới
mười tám tuổi chỉ có thể bị tạm giam trong trường hợp phạm tội nghiêm trọng
do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng”. Như
vậy, đối với người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội
nghiêm trọng do vô ý thì không thể bắt họ để tạm giam vì bất cứ lí do gì. Thực
tế cho thấy có nhiều trường hợp bị can bị cáo là người chưa thành niên phạm
tội ít nghiêm trọng được tại ngoại đã bỏ trốn nhiều lần và bị bắt theo lệnh truy
nã, nhưng khi cần thiết phải áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam thì Viện
kiểm sát không biết xử lí như thế nào vì không có một quy định nào của Luật
quy định về vấn đề này. Như vậy, dù có thực sự cần phải bắt thì kẻ phạm tội vẫn
cứ được nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật mà không có cách giải quyết thỏa
đáng. Đây là một bất cập lớn mà Luật nên sửa đổi cho phù hợp với thực tế.
13
Thứ hai,vướng mắc về thời hạn điều tra và thời hạn tạm giam để điều tra
Theo quy định tại điều 120 BLTTHS thì thời hạn tạm giam để điều tra không quá
ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, 9 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng,
thông qua hay không là do sự đồng ý của Viện kiểm sát. Đây là một bất cập
trong quy định của pháp luật
•
-
Thực tế này xuất phát từ nhiều nguyên nhân như:
Xuất phát từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
Các cơ quan tiến hành tố tụng. người tiến hành tố tụng chưa nhận thức đúng
về tính hệ trọng của tạm giam dẫn đến tình trạng tạm giam một cách bừa bãi,
thiếu căn cứ và trái pháp luật .
Công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực giam giữ chưa được
Viện kiểm sát ở nhiều địa phương kiểm tra thường xuyên và đều khắp.
Điều kiện cần thiết để đảm bảo cho công tác tạm giam chưa được chú trọng
đúng mức, cơ sở vật chất thiếu thốn, kinh phí để xây dựng sửa chữa còn hạn
hẹp nên nhiều trại tạm giam bị xuống cấp…
-
Tiếp theo là những nguyên nhân thuộc về công tác xây dựng pháp luật.
Đối tượng và các trường hợp áp dụng biện pháp tạm giam hiện nay Luật chưa dự
liệu hết, về thẩm quyền ra lệnh tạm giam cũng còn nhiều vướng mắc cần phải
được tiếp tục hoàn thiện, thủ tục tạm giam hiện nay cũng chưa được quy định cụ
thể chặt chẽ…
Từ đó có thể khuyến nghị một số giải pháp để hoàn thiện chế định về biện pháp
ngăn chặn tạm giam như sau:
Thứ nhất, cần nâng cao nhận thức về tính hệ trọng của tạm giam đối với các cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Cần tổ chức thường xuyên
những lớp tập huấn ngăn hạn về từng chuyên đề tố tụng hình sự, chú trọng hơn
nữa đến công tác tạm giam nhằm nâng cao trình độ nghiệp vụ, kiến thức pháp
Tạm giữ, tạm giam trong Tố tụng hình sự Việt Nam, luận án tiến sĩ Luật
3.
học, Phan Thanh Bình, 1996
Các biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam trong Tố tụng hình sự Việt
Nam. Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp, Luận án tiến sĩ Luật học,
4.
5.
6.
NGuyễn Văn Điệp, 2005.
Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, nxb.CAND, 2009
Bộ Luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003
Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003
16
Mục lục
Lời mở đầu
Nội dung
I.
1.
2.
3.
4.
Nhận thức chung về biện pháp ngăn chặn tạm giam
18