Tài liệu Đề tài: Tạm giam trong tố tụng hình sự doc - Pdf 10

MỤC LỤC
A: ĐẶT VẤN ĐỀ………………………………………………………………… 1
B: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ……………………………………………………… 1
I. Nhận thức chung về biện pháp ngăn chặn tạm giam…………………………1
1. khái niệm biện pháp ngăn chặn tạm giam………………………………… 1
2. mục đích, ý nghĩa của biện pháp ngăn chặn tạm giam…………………………
II: biện pháp ngăn chặn tạm giam theo quy định của……………………………
pháp luật TTHS VN hiện hành…………………………………………………….
1; đối tượng bị tạm giam……………………………………………………………
2; căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam……………………………………………
3; thẩm quyền ra lệnh tạm
giam……………………………………………………
4; thủ thục tạm giam………………………………………………………………
5; thời hạn tạm giam………………………………………………………………
6; một số quy định khác liên quan đến việc tạm giam……………………………
III: thực trạng tình hình tạm giam, giải
pháp………………………………………
C: KẾT THÚC VẤN ĐỀ…………………………………………………………….
D: DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………
1
A: ĐẶT VẤN ĐỀ:
Tạm giam là một trong những biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự,
đụng chạm trực tiếp đến quyền lợi chính trị, quyền tự do của con người. Vì vậy,
quá trình áp dụng biện pháp ngăn chặn nói chung, biện pháp tạm giam nói riêng
cũng phải vì con người. Điều đó thể hiện ở chỗ việc áp dụng các biện pháp ngăn
chặn phải có mục đích và căn cứ chứ không thể tùy tiện, không được coi biện pháp
ngăn chặn là biện pháp của điều tra. Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa đòi hỏi
phải lựa chọn biện pháp ngăn chặn áp dụng cho phù hợp, có lợi cho đối tượng bị áp
dụng và đạt được mục đích ngăn chặn, không nhất thiết trường hợp nào cũng áp
dụng biện pháp tạm giam. Nghiên cứu về vấn đề:” tạm giam trong tố tụng hình
sự”, em xin đưa ra một số ý kiến tìm hiểu sau:

phạm và người thực hiện hành vi phạm tội là một nhiệm vụ quan trọng của
cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án.
• Việc quy định, áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam thể hiện sự cưỡng
chế của nhà nước trong việc đấu tranh chống tội phạm, góp phần nâng cao
hiệu lực quản lí nhà nước, củng cố, tăng cường pháp chế XHCN.
• Việc quy định, áp dụng đúng biện pháp ngăn chặn tạm giam tạo cơ sở pháp
lí vững chắc, góp phần đam bảo và tôn trọng các quyền cơ bản của công
dân dược ghi nhận trong hiến pháp.
• Tạm giam thể hiện tính ưu việt của nhà nước. vì phục vụ quyền lợi của
nhân dân lao động
II: biện pháp ngăn chặn tạm giam theo quy định của pháp luật TTHS VN hiện
hành
1. Đối tượng bị tạm giam
Đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giam chỉ có thể là bị can, bị cáo.
Những người không phải là bị can, bị cáo thì không bị áp dụng biện pháp tạm
giam. Bị can là những người đã bị khởi tố về hình sự( khoản 1 điều 49 BLTTHS
3
năm 2003). Còn bị cáo là những người đã bị tòa án đưa ra xét xử( khoản 1 điều 50
BLTTHS năm 2003). Theo khoản 1 điều 88 BLTTHS năm 2003 quy định những
trường hợp áp dụng biện pháp tạm giam:
Trường hợp 1: bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt
nghiêm trọng. khoản 3 điều 8 BLHS năm 1999 quy định:”tội phạm ít nghiêm
trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung
hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây
nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là
đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho
xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm
tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã
hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù,
tù chung thân hoặc tử hình”. Nếu bị can, bị cáo thuộc những trường hợp này,

Những căn cứ cần xem xét để nhận định bị can, bị cáo cản trở việc tiến hành tố
tụng thường là:
- Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà họ đã thực
hiện. Những bị can, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng
thì thường tiến hành nhiều hoạt động đối phó hoạt động tố tụng.
- Nhân thân người phạm tội, như loại đối tượng lưu manh, côn đồ thường có hành
động đe dọa, khống chế người làm chứng, người bị hại hoặc thông đồng với đồng
bọn về những lời khai gian dối.
- Sự ràng buộc với gia đình, cơ quan, tổ chức nghề nghiệp.
- Tình trạng chứng minh là mức độ làm rõ về hành vi phạm tội của bị can, bị cáo,
đối với những đối tượng mà hành vi của họ cơ bản đã được làm rõ thì hành vi đối
phó hoạt động tố tụng sẽ hạn chế và ngược lại.
- Những biểu hiện cụ thể của bị can, bị cáo như tiêu hủy chứng cứ, tiêu thụ tài sản
do phạm tội mà có…
Để nhận định bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội phải dựa vào nhiều tình tiết và xem
xét đánh giá một cách tổng hợp. Những tình tiết đó thường là: Tính chất của tội
5
phạm mà bị can, bị cáo đã thực hiện; Nhân thân của bị can, bị cáo; Những biểu
hiện cụ thể của bị can, bị cáo như đe dọa, khống chế, mua chuộc người làm
chứng, người bị hại, sử dụng thời gian bất minh, đi lại gặp gỡ bọn tội phạm.
Việc tạm giam đối với người chưa thành niên được quy định tại điều 303
BLTTHS năm 2003: người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị tạm giam nếu
có đủ căn cứ quy định tại các điều 81, 82, 86, 88 và 120 của BLTTHS nhưng chỉ
trong trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt
nghiêm trọng. người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị tạm giam nếu có đủ
các căn cứ quy định tại các điều 80, 81, 82, 86, 88 và 120 BLTTHS năm 2003,
nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, rất nghiêm
trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
Khoản 2 điều 88 BLTTHS năm 2003 quy định những trường hợp không
áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam gồm:

bảo cho việc chấp hành án của người bị kết án.
3. Thẩm quyền ra lệnh tạm giam
Khoản 3 điều 8 BLTTHS 2003 quy định những người có thẩm quyền ra lệnh bắt
bị can, bị cáo để tạm giam thì có quyền ra lệnh tạm giam. Bao gồm:
• Viện trưởng, phó viện trưởng viện kiểm sát nhân dân và viện kiểm sát quân
sự các cấp
• Chánh án, phó tránh án tòa án nhân dân và tòa án quân sực các cấp.
• Thẩm phán giữ chức vụ chánh tòa phó chánh tòa phúc thẩm tòa án nhân
dân tối cao, hội đồng xét xử.
• Thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp.
Lênh tạm giam của thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp phải
được viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Thời hạn mà viện kiểm
sát phải xem xét để ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn lệnh tạm giam
của cơ quan điều tra là ba ngày kể từ ngày nhận được lệnh tạm giam, ddeeff nghị
xét phê chuẩn và hồ sơ tài liệu liên quan đến việc tạm giam. Viện kiểm sát phải
hoàn trả lại hồ sơ cho cơ quan điều tra ngay sau khi kết thúc việc xét phê chuẩn dù
có phê chuẩn hay không.
4. Thủ tục tạm giam
7
Theo quy định của BLTTHS 2003 thì việc tạm giam của bị can, bị cáo
phải có lệnh tạm giam; lệnh phải do những người có thẩm quyền kí. Lệnh tạm
giam ghi rõ ngày tháng năm; họ tên, chức vụ người ra lệnh; họ tên, địa chỉ người
bị tạm giam; lý do, thời hạn tạm giam; giao cho người bị tạm giam 1 bản. Theo
quy định tại khoản 3 điều 88BLTTHS 2003, lệnh tạm giam của cơ quan điều tra
phải được viện trường viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.
Sau khi ra lệnh tạm giam, cơ quan đã ra lệnh tạm giam cần thông báo ngay
cho gia đình người bị tạm giam, chính quyền xã phường hoặc cơ quan, tổ chức nơi
người bị tạm giam cư trú
5. Thời hạn tạm giam
• Thời hạn tạm giam để điều tra

viện kiểm sát có thể gia hạn them, nhưng không được vượt quá 10 ngày đối với tội
phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng; không quá 15 ngày đối với tội phạm
rất nghiêm trọng,không quá 30 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
• Tạm giam để xét xử sơ thẩm:
Điều 177 BLTTHS 2003 quy đinh:” thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử
không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại điều 176 của bộ luật này”.
Theo quy định tại điều 176, thời hạn chuẩn bị xét xử là 30 ngày đối với tội phạm ít
nghiêm trọng, 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, hai tháng đối với tội phạm
rất nghiêm trọng, 3 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày nhận
được hồ sơ vụ án. Đối với những vụ án phức tạp, chánh án tòa án có thể quyết định
ra hạn nhưng không quá 15 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm
nghiêm trọng; không quá 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt
nghiêm trọng.
Vậy, thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử tối đa( kể cả gia hạn) là 75 ngày
đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 90 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng,120 ngày
đối với tội phạm rất nghiêm trọng và 150 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm
trọng.
• Thời hạn tạm giam để xét xử phúc thẩm
Điều 243 BLTTHS 2003 quy định: sau khi nhận hồ sơ vụ án, tòa án cấp phúc
thẩm có quyền quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn.
9
( do chánh án, phó chánh án TAND cấp tỉnh,tòa án quân sự cấp khu, chánh án, phó
chánh án tòa phúc thẩm TANDTC quyết định.). thời hạn tạm giam không được quá
thời hạn xét xử phúc thẩm quy định tại điều 242 của bộ luật này.
Theo quy định tại điều 242 BLTTHS 2003, TAND cấp tỉnh và tòa án quân
sự cấp khu phải mở phiên tòa phúc thẩm trong thời hạn 16 ngày, tòa phúc thẩm
TANDTC, tòa án quân sự trung ương phải mở phiên tòa phúc thẩm trong thời hạn
90 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án.
• Thời hạn tạm giam để bảo đảm thi hành án:
Ngay sau khi xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm, hội đồng xét xử có thể quyết

tòa thời hạn tạm giam đã hết thì hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam bị
cáo để bảo đảm việc thi hành án, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 và 5
điều 227 bộ luật này
Đối với bị cáo không bị tạm giam, nhưng bị xử phạt tù thì hội đồng xét xử có
thể ra quyết đinh bắt tạm giam bị cáo ngay sau khi tuyên án, trừ các trường
hợp quy định tại điều 261 bộ luật này
Thời hạn tạm giam là 45 ngày, kể từ ngày tuyên án.
6: một số quy định khác liên quan đến việc tạm giam
Về chế độ thăm nom người thân và bảo quản tài sản của người bị tạm giam
được quy định tại điều 90 BLTTHS 2003.
Điều 90: việc chawmnom người thân thích và bảo quản tài sản của người bị tạm
giữ, tạm giam:
1. Khi người bị tạm giữ, tạm giam có con chưa thành niên dưới 14 tuổi hoặc
có người thân thích là người tàn tật, già yếu mà không có người chăm sóc
thì cơ quan ra quyết định tạm giữ,lênh tạm giam giao những người đó cho
người thân thích chăm nom. Trong trường hợp người bị tạm giữ, tạm giam
không có người thân thích thì cơ quan ra quyết định tạm giữ, lệnh tạm giam
giao những người đó cho chính quyền cơ sở tại chăm sóc
2. Trong trường hợp người bị tạm giữ, tạm giam có nhà hoặc tài sản khác mà
không có người chăm nom, bảo quản thì cơ quan ra quyết định tạm giữ,
lệnh tạm giam phải áp dụng những biện pháp chăm nom, bảo quản thích
đáng.
3. Cơ quan quyết định tạm giữ, lệnh tạm giam thông báo cho người bị tạm giữ,
tạm giam biết những biện pháp đã được áp dụng
Về quyền của người bị tạm giam: khi bị tạm giam, bị can, bị cáo có đầy đủ
các quyền của bị can, bị cáo được quy định tại điều 49, 50 BLTTHS và khi họ là
11
người bị kết án đang chờ thi hành hình phạt tù, họ có các quyền được quy định tại
điều 260 BLTTHS 2003.
III: thực trạng tình hình tạm giam, giải pháp

5. Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003
6. Giáo trình luật tố tụng hình sự, NXB tư pháp
13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status