I. GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ
Trong hệ thống pháp luật tố tụng hình sự biện pháp ngăn chặn tạm giam là biện pháp
ngăn chặn có tính chất hà khắc nhất. Việc sử dụng biện pháp tạm giam đã tạo điều kiện thuận
lợi nhất cho các cơ quan tiến hành tố tụng làm việc một cách có hiệu quả đồng thời biện pháp
ngăn chặn tạm giam này để xét xử, điều tra cũng như truy tố một cách có hiệu quả, đảm bảo
sự công bằng cho mọi công dân Việt Nam.
Vì vậy, để hiểu thêm về việc sử dụng các biện pháp ngăn chặn tạm giam em đã chọn đề tài
” tạm giam trong tố tụng hình sự và việc hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả áp
dụng biện pháp ngăn chặn này”. Qua tìm hiểu em mong sẽ hiểu rõ như thế nào là tạm giam?
được áp dụng ra sao trong thực tiễn và quy định của pháp luật ra sao về vấn để này
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Một số vấn đề về lý luận
a, Khái niệm về biện pháp ngăn chặn tạm giam
Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do cơ quan điều tra, viện kiểm sát,
tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm
trọng hay bị can bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà bộ luật hình sự
quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở
việc điều tra truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội. Tạm giam là một trong những biện
pháp ngăn chặn có tính chất nghiêm khắc nhất trong các biện pháp ngăn chặn của tố tụng hình
sự . Người bị áp dụng biện pháp tạm giam bị cách li với xã hội trong một thời gian nhất định,
bị hạn chế một số quyền công dân.1
b, mục đích của biện pháp tạm giam trong tố tụng hình sự
• Tạm giam được áp dụng cho các bị can, bị cáo trong các giai đoạn khác nhau của tố tụng
hình sự vì thế mục đích chung thống nhất là ngăn chặn không để bị can, bị cáo có điều kiện
tiếp tục phạm tội hoặc có hành vi gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án.
• việc áp dụng biện pháp tạm giam còn có mục đích riêng nhằm đảm bảo thực hiện tốt
chức năng tố tụng của cơ quan áp dụng.
c, Căn cứ của biện pháp ngăn chặn tạm giam.
Căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam bao gồm:
1
d, đối tượng bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam
Theo quy định tại khoản 1 điều 88 BLTTHS năm 2003 đối tượng có thể bị áp dụng BPNC
tạm giam chỉ có thể là bị can, bị cáo. Tuy nhiên không phải tất cả bị can, bị cáo đều bị áp dụng
biện pháp ngăn chặn tạm giam mà chỉ áp dụng đối với trường hợp sau:
• Trường hợp thứ nhất: bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng
mà BLHS quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc
cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội ( 3, điểm b, khoản 1, điều
2
88). Trong trường hợp cần thiết, CQTHTT có thể áp dụng BPNC khác như cấm đi khỏi nơi cư
trú, bảo lĩnh
• Trường hợp thứ hai: bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội rất
nghiêm trọng.
Nếu bị can, bị cáo thuộc những trường hợp này thì những người có thẩm quyền ra lệnh tạm
giam có thể ra lệnh tam giam ngay mà không cần có thêm các căn cứ khác. Tuy nhiên, trong
trường hợp này phải thấy rằng tội phạm mà bị can, bị cáo đã thực hiện đó theo quy định của
BLHS năm 1999 có khung hình phạt cao nhất chứ không phải mức hình phạt mà tòa án tuyên
đối với họ. Do đó, khi áp dụng biện pháp tạm giam trong trường hợp này một cách có căn cứ,
những người có thẩm quyền của cơ quan điều tra, viện kiểm sát, khi ra quyết định khởi tố vụ
án hình sự hoặc khi tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phải xem xét cụ thể tội phạm mà
bị can, bị cáo thực hiện, mức độ thiệt hại đến đâu? Về tội phạm nào? Khung hình phạt nào?
Từ đó làm cơ sở để áp dụng BPNC tạm giam một cách có căn cứ và đúng pháp luật.2
e, Những trường hợp không áp dụng biện pháp tạm giam
Thể hiện tính nhân đạo XHCN, BLTTHS năm 2003 quy định đối tượng không bị áp dụng
biện pháp ngăn chặn tạm giam bào gồm:
Bị can, phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi và có nơi cư
trú rõ ràng.
Bị can, bị cáo là những người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú rõ ràng
Ở nước ta hiện nay, điều kiện sinh hoạt trong các trại giam không thể đảm bảo đầy đủ nhu
Viện trưởng, phó viện trưởng VKSND và VKSQS các cấp
Chánh án, phó chánh án tòa án nhân nhân và tòa án quân sự các cấp
Thẩm phán giữ chức vụ chánh tòa, phó chánh tòa phúc thẩm tòa án nhân dân tối cao,
hội đồng xét xử.
Thủ trưởng phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp. Trong trường hợp này, lệnh tạm
giam phải được viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.
Tuy nhiên, trong mỗi gia đoạn tố tụng khác nhau thì chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện
pháp ngăn chặn tạm giam cũng khác nhau:
Trong giai đoạn điều tra: việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPNC tạm giam sẽ do chủ thể
được quy định tại điểm d khoản 1, điều 80 BLTTHS năm 2003 quyết định. Lệnh tạm giam của
những người này phải được viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành, nếu không
có sự phê chuẩn đó thì trong mọi trường hợp lệnh tạm giam đó không có hiệu lực pháp luật.
Trong giai đoạn truy tố: thẩm quyền quyết định việc áp dụng thay đổi, hủy bỏ biện pháp
tạm giam sẽ do các chủ thể quy định tại điểm a, khoản 1 điều 80 BLTTHS quyết định. Bởi “
sau khi nhận hồ sơ vụ án viện kiểm sát có quyền áp dụng thay đổi hủy bỏ biện pháp ngăn
chặn. Thời hạn tam giam không được quá thời hạn quy định tại khoản 1 điều này ( 3, khoản 2,
điều 166).
Trong giai đoạn xét xử: thẩm quyền quyết định việc áp dụng, thay đổi hủy bỏ BPNC tạm
giam sẽ do chủ thể quy định tại điểm b, c, khoản 1 phân công chủ tọa phiên tòa có quyền
4
quyết định áp dụng thay đổi hủy bỏ biện pháp ngăn chặn. Trừ việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ
biện pháp ngăn chặn do chánh án hoặc phó chánh an tòa án quyết định ( khoản 3 điều 177).
Ngoài ra, theo quy định tại điều 228 BLTTHS thì hội đồng xét xử có quyền quyết định
việc tạm giam đối với bị cáo theo thủ tục luật định.
Như vậy, thẩm quyền áp dụng BPNC tạm giam được quy định cho nhiều cơ quan với nhiều
chủ thể khác nhau ở từng giai đoạn tố tụng khác nhau. Viện kiểm sát với chức năng là cơ quan
kiểm sát các hoạt động tư pháp sẽ kiểm tra, giám sát hoạt động này, đặc biệt đối với lệnh tạm
giam của thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp phải được viện kiểm sát cùng
định thời hạn tạm giam để điều tra không quá hai tháng đối với tội ít nghiêm trọng, không quá
ba tháng đối với tội nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội rất nghiêm trọng và tội đặc
biệt nghiêm trọng. Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét thấy cần phải có
thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi, hủy bỏ BPNC tạm giam thì
chậm nhất là mười ngày trước khi hết hạn tạm giam. Theo quy định của BLTTHS thì việc gia
hạn tạm giam được quy định như sau:
đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá một
tháng
đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất
không quá hai tháng, lần thứ hai không quá một tháng.
Đối với phạm tội rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tam giam hai lần lần thứ nhất
không quá ba tháng, lần thứ hai không quá hai tháng.
Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn giam ba lần, mỗi lần
không quá bốn tháng ( điểm 3 khoản 2 điều 120).
Thời hạn tạm giam để truy tố: trong giai đoạn truy tố “ thời hạn tạm giam để truy tố
không được quá thời hạn “ (quy định tại khoản 1 điều 166). Trong thời hạn hai mươi ngày đối
với tội phạm nghiêm trọng, ba mươi ngày với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng, kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án và kết luận điều tra, viện kiểm sát phải ra một
quyết định sau: quyết định truy tố bị can trước tòa án bằng bản cáo trạng, quyết định trả hồ sơ
để điều tra bổ sung, quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án. Trường hợp cần thiết, viện
trưởng viện kiểm sat có thể gia hạn tạm giam nhưng không quá mười ngày đối với tội phạm ít
nghiêm trọng, không quá mười lăm ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng không quá ba
mươi ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Thời han tạm giam để xét xử sơ thẩm: điều 177 BLTTHS quy định : “ thời hạn tạm giam
để chuẩn bị xét xử sơ thẩm không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại điều 176
của bộ luật này”. Căn cứ tại điều 176 BLTTHS thì thời hạn chuẩn bị xét xử là ba mươi ngày
đối với tội ít nghiêm trọng, bốn mươi lăm ngày đối với tội nghiêm trọng, hai tháng đối với tội
rất nghiêm trọng, ba tháng đối với tội đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án. Đối
với những vụ án phức tạp chánh tòa án có thể quyết định gia hạn nhưng không quá mười lăm
6
phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết, hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam bị cáo để đảm bảo
việc thi hành án, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 và khoản 5 điều 127 của bộ luật này.
Thời hạn tạm giam là bốn mươi lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
i, một số quy định khác của tạm giam.
7
Thứ nhất, về chế độ tạm giam: chưa có bản án kết tội của tòa án thì người bị tạm giam vẫn
được coi là người chưa có tội. Vì vậy thời gian bị tạm giam họ không bị đối xử như một người
có tội. Nhà tạm giam chỉ tiếp nhận những người đã có lệnh tạm giam hoặc lệnh truy nã. Người
bị tạm giam không được giam chung một buồng. Nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm đến tính
mạng tài sản danh dự nhân phẩm của người bị tạm giam. Giám thị trạm giam thông báo bằng
văn bản cho cơ quan thụ lý vụ án có người bị tạm giam biết việc hết hạn tạm giam lần thứ nhất
trước năm ngày, việc tạm giam lần thứ hai trước mười ngày và yêu cầu cơ quan thụ lý đến
nhận hoặc giải quyết các trường hợp hết thời hạn tạm giam.
Việc tạm giam được bố trí theo khu vực phân loại: phụ nữ, người chưa thành niên, người
nước ngoài, người có bệnh truyền nhiễm… không được giam chung buồng những người cùng
một vụ án điều tra, truy tố, xét xử. Bình quân diện tích tối thiểu nơi giam đối với người bị
giam là 2m2/ người.
Thứ hai, bộ luật tố tụng hình sự quy định quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giam tại
điều 260.
Thứ ba, về chế độ chăm nom người thân và bảo quản tài sản của người bị tạm giam quy
định cụ thể tại điều 90
Thứ tư, pháp luật cũng quy định việc khấu trừ thời hạn tạm giam vào thời hạn chấp hành
hình phạt tù. Một ngày tạm giam bằng một ngày tù ( điều 33)
2. Thực tiễn thi hành biện pháp tạm giam
a, Những điểm tích cực trong việc thi hành biện pháp tạm giam
Trong những năm qua, tạm giam đã được cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng một cách có
hiệu quả.
Đa số việc tạm giam có căn cứ, đúng pháp luật, tình trạng tạm giam không có lệnh, quá
định bỏ trốn hay không nhưng không thể suy diễn rằng mọi bị can, bị cáo đều lựa chọn biện
pháp bỏ trốn khi biết rằng mình có thể gánh chịu mức hình phạt cao. Không ít nhữn bị can, bị
cáo khi phát hiện mình phạm tội khai báo thành khẩn mong được hưởng chính sách khoan
hồng…nhiều vụ án ban đầu bị can, bị cáo bị truy tố, xét xử với tội rất nghiêm trọng, đặc biệt
nghiêm trọng nhưng sau đó lại được thay đổi nhẹ hơn. Trong trường hợp này, việc áp dụng
BPNC tạm giam với họ không có đầy đủ căn cứ? tình chất và mức độ nguy hiểm của hành vi
cao hay thấp, mức hình phạt mà bị can, bị cáo ó thể phải chịu là vấn đề mà các CQTHTT phải
làm rõ trong các giai đoạn tố tụng. Vì vậy, nó không thể là căn cứ để áp dụng BPNC tạm
giam. Như thế, có thể hiểu căn cuwsaps dụng BPNC tamjg iam là văn cứ có thật dự báo khả
năng thực tế có thể xảy ra việc bỏ trốn chức không thể là căn cứ mang tính suy diễn từ tính
chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Việc quy định suy diễn như thế trọng lập
pháp tạo ra cơ sở cho việc xâm phạm quyền công dân. Mặt khác cách dùng từ cũng chưa
chuẩn xác, bởi khi chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực của tòa án có thẩm quyền thì chưa thể
khẳng định bị can, bị cáo phạm vào loại tội nào.
9
Ngoài ra, trông điểm b, khoản 1 và khoản 2 điều 88 BLTTHS có sự mây thuẫn. Theo chính
sách hình sự của đảng và nhà nước thì các đối tượng này được hưởng chính sách nhân đạo nên
căn cứ áp dụng BPNC tạm giam với họ phỉ được quy định ở mức độ hạn chế hơn hoặc trong
trường hợp không thể áp dụng BPNC khác. Thế nhưng, thì căn cứ áp dụng BPNC tạm giam
đối với các đối tượng khác nhau không có gì khác nhau. Bởi căn cứ “ có thể bỏ trốn hoặc cản
trở điều tra, truy tố, xét xử. hoặc có thể tiếp tục phạm tội” được quy định tại điểm b, khoản 1
cùng một loại với căn cứ khác nhau như: “ bị can, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã”
hay “ bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng tiếp tục phạm tội hoặc cố
ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử”, có khác là một căn cứ khi chỉ
khả năng có thể hiện thực hóa với một căn cứ là sự hiện thực hóa khả năng đó. Thế nhưng,
nếu ở điểm b, khoản 1 còn phải thỏa mãn căn cứ khác là “ bị can, bị cáo phạm tội nghiêm
trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm” thì ở
điểm a, biểm b khoản 2 nị can, bị cáo phạm bất cứ tội phạm nào cũng có thể bị tạm giam.
thực tế còn tồn tại nhiều trường hợp khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng trong việc áp
dụng biện pháp tạm giam như:
+ Có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo tự sát. Trường hợp bị can, bị cáo phạm tội ít
nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng, không có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo tiếp tục
phạm tội trốn tránh pháp luật nhưng lại có căn cứ cho rằng bị can, bị cáo tự sát, cần phải ngăn
chặn việc người đó tự sát. Việc coi bị can, bị cáo tự sát là trường hợp gây khó khăn cho việc
điều tra, truy tố, xét xử hoặc là hành động trốn tránh pháp luật để áp dụng biện pháp tạm giam,
theo chúng tôi là không hợp lý vì không phù hợp với mục đích của biện pháp tạm giam.
+ Trường hợp bị can, bị cáo phạm tội gây căm phẫn đối với người bị hại, gia đình,
người thân của người bị hại hoặc gây căm phẫn trong nhân dân có thể dẫn đến việc quần
chúng tự phát xử lý người phạm tội. Ví dụ như vụ Nguyễn Văn Hải, phường Tân Hưng, quận
7, TP. HCM bị tạm giam về tội cố ý làm trái, nhận hối lộ, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bị bắt để
tạm giam, sau đó được Viện Kiểm sát nhân dân TP. HCM cho tại ngoại bị quần chúng phản
đối, 1 ngày sau khi cho tại ngoại lại bắt để tạm giam.
+ Trường hợp bị can có thái độ khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình và
của đồng bọn có thể bị đồng bọn đe dọa gây thiệt hại về sức khỏe, tính mạng để bịt đầu mối,
để răn đe bị can, bị cáo trong việc khai báo sự thật cần bảo vệ bị can, bị cáo..5
Về cơ sở vật chất : Trại tạm giam và Nhà tạm giữ đều đang trong tình trạng quá tải nghiêm
trọng hầu hết các Trại tạm giam và Nhà tạm giữ trên các địa bàn đều đang trong tình trạng
xuống cấp hoặc quá tải nghiêm trọng
c. nguyên nhân :
Thứ
nhất, do người tiến hành tố tụng chưa hiểu rõ về biện pháp tạm giam dẫn đến sử dụng biện
pháp này thiếu căn cứ trái pháp luật. Năng lực của một số người tiến hành tố tụng còn yếu
kém, một số người nặng về trấn áp, không phân biệt rõ được trường hợp cần tạm giam.
định” nhưng luật lại không có hướng dẫn giải thích lứa tuổi nào được coi là già yếu, tình trạng
như thế nào được coi là bênh nặng, quy định cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết vấn đề nà.
Do vậy, pháp luật cần hoàn thiện bổ sung chi tiết hơn về điều này.
Vấn đề phê chuẩn lệnh bắt bị can bị cáo để tạm giam thì BLTTHS nên quy định các mức
thời hạn phê chuẩn lện của VKS theo từng loại vụ án đơn giản phức tạp, kể từ khi nhận được
công văn đề nghị phê chuẩn và tài liệu vụ án. Tại khoản 3 điều 88 BLTTHS quy định về thời
hạn viện kiểm sát xem xét là ba ngày kể từ ngày nhận được lện tam giam, đề nghị xét phê
chuẩn hồ sơ , tài liệu liên quan đến việc tạm giam, viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn
hoặc quyết định không phê chuẩn. Tuy nhiên, có nhiều vị việc, tài liệu phức tạp thì viện kiểm
sát không thể xem xét hết và phê chuẩn. Vì thế mà viện kiểm sát chậm phê chuẩn dẫn tới bị
can có thể bỏ trốn, hoặc tiêu hủy chứng cứ gây khó khăn cho điều tra.
Từ phân tích trên có thể bổ sung điều 88 BLTTHS hiện hành như sau:
Điều…: tạm giam
1. tạm giam là biện pháp ngăn chặn do những người có thẩm quyền của cơ quan điều
tra, Viện Kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị kết án theo đúng trình
tự, thủ tục, căn cứ và trong các trường hợp luật định nhằm ngăn chặn việc họ bỏ trốn hoặc
cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc có thể tiếp tục phạm tội.
2. …
12
3. trong thời hạn… kể từ ngày nhận được lệnh tạm giam, đề nghị xét phê chuẩn và hồ
sơ tài liệu liên quan đến việc tạm giam, Viện kiểm sát ra quyết định…6
Bổ sung điều 80 bộ luật tố tụng hình sự
Khoản 1 điều 80 quy định về việc bắt bị can, bị cáo tạm giam nhưng mới chỉ quy định về
thẩm quyền ra lệnh, nội dung lệnh bắt, chưa có quy định về căn cứ bắt bị can, bị cáo để tạm
giam tức chưa quy định về những trường hợp cụ thể nào là bị can, bị cáo có thể bị bắt để tạm
giam. Khi áp dụng BPNC này, CQTHTT lại phải căn cứ quy định tại khoản 1, 2 điều 88
BLTTHS về căn cứ áp dụng BPNC tạm giam trong khi điều 80 không viện dẫn căn cứ bắt bị
cấp phúc thẩm còn nội dung và phạm vi khác với cấp sơ thẩm. cụ thể , nếu ở cấp sơ thẩm việc
bắt bị cáo tại phiên tòa chỉ được tiến hành khi có căn cứ cho thấy bị cap có thể trốn hoặc tiếp
tục phạm tội thì ở cấp phúc thẩm chỉ cần bị cáo tuyên phạt tù thì hội đồng xét xử phải bắt
giam ngay, trừ trường hợp quy định tại điều 261 BLTTHS. Trong nhiều trường hợp việc bắt
giam bị cáo ngay tại phiên tòa thuận lời vì nhiều trường hợp bị cáo tại ngoại thì hầu hết khi họ
đến phiên tòa đều có người thân đi cùng, nếu bắt ngay bị cáo tại phiên tòa thì không tránh khỏi
việc nhân thân họ có những hành vi xử sự gây mất trật tự tòa án, ảnh hưởng đến quá trình làm
việc hội đồng xét xử.
Ngoài ra đối với người bị bắt trong trường hợp đang bị truy nã, theo Điều 83, khoản 2
BLTTHS hiện hành quy định việc cơ quan điều tra nhận người bị bắt trong trường hợp đang bị
truy nã, trước khi giao người bị bắt cho cơ quan đã ra lệnh truy nã nếu xét thấy không thể giao
ngay người bị bắt cho cơ quan đã ra quyết định truy nã thì áp dụng biện pháp tạm giữ. Cơ
quan đã ra quyết định truy nã, sau khi nhận được thông báo về việc đối tượng mà mình truy nã
đã bị bắt thì phải ra lệnh tạm giam và gửi cho cơ quan điều tra đã nhận người bị bắt. Theo quy
định này thì người bị bắt theo quyết định truy nã có thể bị áp dụng đồng thời hai biện pháp
ngăn chặn, đó là biện pháp tạm giữ (do cơ quan điều tra nhận người bị bắt áp dụng) và biện
pháp tạm giam (do cơ quan đã ra quyết định truy nã áp dụng). Đối với người bị bắt trong
trường hợp đang bị truy nã, không nên tạm giữ đối với họ, vì thời hạn tạm giữ quá ngắn,
trường hợp nơi họ bị bắt quá xa nơi ra lệnh truy nã họ, có thể không đủ thời gian để cơ quan
điều tra nhận người bị bắt thông báo cho cơ quan ra lệnh truy nã về việc bắt và cơ quan đã ra
lệnh truy nã tiếp nhận người bị bắt. Vì vậy, cần phải áp dụng biện pháp tạm giam đối với họ,
đồng thời quy định rõ thời hạn tạm giam đối với người bị bắt trong trường hợp này. Vì họ là
người đang bị truy nã nên họ phải là bị can, bị cáo hoặc người đang thi hành hình phạt theo
bản án đã có hiệu lực pháp luật và việc họ bị truy nã chứng tỏ có căn cứ cho rằng cần phải
cách ly họ ra khỏi xã hội trong một thời gian nhất định. Việc họ trốn, dẫn đến phải truy nã đã
thể hiện căn cứ tạm giam đối với họ.
Đồng thời, pháp luật nước ta cần có những quy định về nâng cao năng lực chuyên
môn và phẩm chất đạo đức của các chủ thể có thẩm quyền trong việc áp dụng biện pháp ngăn
chặn tạm giam và các biện pháp để tăng cười xây dựng hoàn thiện cơ sở vật chất, đời sống cho
định của pháp luật về vấn đề này. Từ đó đưa ra những biện pháp hoàn thiện pháp luật để áp
dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam một cách có hiệu quả nhất trong thực tiễn.
Với trình độ kiến thức còn hạn chế cộng với thời gian nghiên cứu ít ỏi, vì vậy trong quá
trình em làm bài không tránh được những thiếu sót. Vì vậy, em rất mong nhận được những ý
kiến đóng góp quý báu của các thầy giáo, cô giáo để giúp cho bài viết của em được hoàn thiện
hơn. Em xin chân thành cảm ơn!
15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
1. Giáo trình luật tố tụng hình sự trường đại học luật Hà Nội
2. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố
tụng hình sự Việt Nam – Đàm Thị Trang
3. http://sinhvienluat.vn
4. http://www.tracuuphapluat.info
5. http://hdnd.dongnai.gov.vn
16