1
-
-
-
A. MỞ BÀI
Hiện nay, thuế đã trở thành nguồn thu chính cho ngân sách tất cả các quốc
gia, cũng như pháp luật về thuế luôn được quan tâm xây dựng và hoàn thiện.
Để xây dựng được một hệ thống pháp luật thuế toàn diện, các nhà làm luật
cần chú ý đến các nguyên tắc khi đánh thuế. Chính vì thế, đề tài bài tập nhóm
số 2 chúng em lựa chọn đó là: Phân tích các cơ sở và ý nghĩa của việc đặt ra
các nguyên tắc đánh thuế - Hãy làm rõ mức độ thể chế hóa các nguyên tắc
đánh thuế đó trong pháp luật thuế ở nước ta hiện nay.
B. NỘI DUNG
I. Khái niệm nguyên tắc đánh thuế và các nguyên tắc đánh thuế
1 khái niệm nguyên tắc đánh thuế.
Thuế là một thuật ngữ phổ biến, nhưng chưa có một định nghĩa nào đấy
đủ hoàn toàn về thuế. Theo Các Mác, thuế là cơ sở của bộ máy nhà nước, là
thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu tiền hay tài sản của nhân dân để dùng vào
việc chi tiêu của nhà nước. Như vậy, thuế là sự đóng góp của nhân dân chủ
yếu bằng tiền vào Ngân sách nhà nước nhằm phục vụ cho các nhu cầu chi tiêu
của nhà nước.
Với các cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu có thể đưa ra các
khái niệm về thuế khác nhau. Tuy nhiên, thuế bao giờ cũng mang những đặc
tính nhất định. Đặc biệt khi đánh thuế, Nhà nước cần phải dựa trên những
nguyên tắc đánh thuế để có thể đưa ra những quy định phù hợp nhất cho hệ
thống pháp luật thuế với các đối tượng chịu thuế, thuế suất…
Nguyên tắc đánh thuế
Nội dung của nguyên tắc này là thuế phải đảm bảo cho người nộp thuế
không rơi vào tình trạng khốn cùng, nhưng nhà nước lại có thể đảm bảo được
nguồn thu từ thuế. Nguyên tắc này không được hiểu là phân chia lợi ích giữa
nhà nước và người dân mà giúp cho hệ thống thuế được hài hòa, Nhà nước
không có các biện pháp thu thuế làm người nộp thuế phải chịu một nghĩa vụ
quá lớn khiến họ trở nên khánh kiệt, còn người dân thực hiện nghĩa vụ nộp
thuế để Nhà nước có nguồn tài chính ổn định nhằm thực hiện các hoạt động
và chức năng.
+Nguyên tắc đánh thuế phải đảm bảo dễ hiểu, đạt hiệu quả.
Nội dung của nguyên tắc này là các loại thuế phải đảm bảo rõ rành, dễ hiểu
cho mọi đối tượng và có tính ổn định đồng thời hệ thống thuế phải được tổ
chức sao cho chi phí quản lí thu thuế không được cao hơn mức mà mục tiêu
đề ra cho phép. Nguyên tắc này đặc biệt có ý nghĩa khi ban hành một đạo luật
thuế, văn bản hướng dẫn cho các đối tượng có liên quan. Bởi các đối tượng
nộp thuế cần hiểu rõ quyền và nghĩa vụ nhằm thực hiện đúng pháp luật và
không trốn tránh các nghĩa vụ thuế.
+ Nguyên tắc đánh thuế đảm bảo không xảy ra tình trạng một đối tượng tính
thuế phải chịu một loại thuế nhiều lần.
Nguyên tắc này đặt ra yêu cầu với các hệ thống pháp luật thuế một quốc
gia cần bóc tách những phần thuộc đối tượng tính thuế đã nằm trong diện chịu
thuế đó ở giai đoạn trước. Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật thuế giữa các quốc
gia cũng cần tính tới khả năng các nhà đầu tư, công dân của quốc gia này
nhưng có đối tượng tính thuế ở một quốc gia khác. Việc đánh hai lần cùng
một loại thuế lên một đối tượng chịu thuế không chỉ thể hiện sự yếu kém
3
-
mục đích công, không tương ứng với mức độ sử dụng như phí và lệ phí.
Chính vì thế nguyên tắc đánh thuế công bằng đặt ra giữa các chủ thể nộp thuế
“mọi đối tượng có năng lực chịu thuế đều phải nộp thuế và mọi người có điều
kiện liên quan đến thuế như nhau phải được đối xử về thuế như nhau”( Giáo
trình Luật thuế Việt Nam- trang 18)
Tinh thần chung của các sắc thuế trên thế giới
4
-
-
-
-
Theo tinh thần chung của các sắc thuế trên thế giới thì các sắc thuế cần thỏa
mãn các điều kiện sau đây
Trung lập: sự ra đời của thuế không làm cho hoạt động sản xuất bị bóp méo,
không làm cho phúc lợi xã hội của nền kinh tế giảm đi.
Đơn giản: việc thiết kế sắc thuế và tiến hành thu thuế cần đơn giản về thủ tục
và nội dung để tránh gây những tốn kém không đáng có.
Công bằng: đây là yêu cầu thiết yếu đặt ra, nhằm hướng đến mọi đối tượng
nộp thuế có những điều kiện khác nhau thì mức thuế suất là khác nhau, dựa
vào các điều kiện luật định để xác định.
Ý nghĩa việc đặt ra các nguyên tắc đánh thuế
Trở thành các tư tưởng chủ đạo trong quá trình quản lí nhà nước với
các quan hệ xã hội phát sinh thuộc lĩnh vực thuế. Thuế tác động đến các đối
đường “pháp luật”. Vì vậy, có thể hiểu “thể chế hóa” là việc Đảng và nhà nước
thiết lập lên một hệ thống pháp luật bao gồm những quy tắc xử sự mang tính bắt
buộc chung trong xã hội. Nói cách khác, thể chế hóa là việc đưa những quy
định, luật lệ vào chủ trương, chính sách và hệ thống pháp luật của Đảng và nhà
nước, để từ đó tổ chức thực hiện tại Việt Nam.
Theo đó, thể chế hóa các nguyên tắc đánh thuế được hiểu là việc đưa những
nguyên tắc đánh thuế vào hệ thống pháp luật thuế Việt Nam. Việc thể chế hóa
các nguyên tắc đánh thuế trong pháp luật thuế của nước ta là điều vô cùng cần
thiết, bởi, nguyên tắc đánh thuế là hệ thống các quan điểm chỉ đạo chi phối sâu
sắc việc đề ra hoặc xóa bỏ hệ thống thuế của một quốc gia, có ảnh hưởng trực
tiếp đến quá trình vận hành của hệ thống pháp luật thuế.
Qua tìm hiểu có thể thấy các nguyên tắc này đã được vận dụng cơ bản trong các
đạo luật thuế, tạo thành một hệ thống pháp luật khá toàn diện của quốc gia.
- Nguyên tắc đánh thuế phải đảm bảo công bằng
Đây là nguyên tắc chung của pháp luật và được thể chế hóa rất cụ thể
trong các đạo luật thuế.
Theo các quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân có thể thấy mọi đối
tượng có năng lực chịu thuế đều phải nộp thuế. Những đối tượng ở những
điều kiện khác nhau, làm những công việc khác nhau, có thu nhập từ những
nguồn khác nhau những là thu nhập cá nhân sẽ phải nộp thuế thu nhập cá
nhân và họ được đối xử về thuế tương ứng với các khoản thu nhập đó. Luật
thuế thu nhập cá nhân 2007 đã quy định những thu nhập chịu thuế và thu nhập
tính thuế tại mục 1 Chương 2 Luật này. Đảm bảo công bằng trong thuế không
có nghĩa là cào bằng xã hội, không có nghĩa là mọi cá nhân đều phải nộp mức
thuế khi có một mức thu nhập bằng nhau. Chính vì thế Điều 19 Luật thuế thu
nhập cá nhân nă 2009 quy định về giảm trừ gia cảnh: là số tiền được trừ vào
thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền
lương,tiền công của đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú. Có thể hiểu như
sau: Hai cá nhân A và B cùng có mức thu nhập là 200.000.000 đồng/năm từ
tiền lương, tiền công và họ phải chịu thuế thu nhập cá nhân theo quy định.
biến khoảng sản, đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm). Việc quy định
thuế sử dụng đất nông nghiệp tạo một nguồn thu đáng kể cho nhà nước, lại
đảm bảo chính sách đất đai nhất quán. Nhà nước có thể hạn chế tình trạng đầu
cơ, tích trữ đất đai và làm cho thị trường bất động sản phát triển hơn. Diện
tích đất phi nông nghiệp nằm trong đối tượng chịu thuế là các diện tích đất
kinh doanh, sản xuất nên lợi nhuận chắc chắn cao hơn sản xuất nông
nghiệp.Chính vì thế nhà nước quy định thuế suất 0,03%/1m 2 với các diện tích
trong hạn mức vẫn là hợp lí, đảm bảo thuế sử dụng đất không quá nặng nề, lại
đảm bảo có một nguồn thu bền vững trong quá trình sử dụng đất của người sử
dụng. Sự bảo đảm quyền lợi cho người sử dụng qua các nghĩa vụ tài chính mà
cụ thể là thuế đã nộp cho nhà nước đó là: Nhà nước đảm bảo cho họ sử dụng
lâu dài, ổn định, không chủ thể nào được phép xâm phạm bất hợp pháp, nếu
có dự án quy hoạch thuộc nhà nước sẽ có đền bù thỏa đáng.
Nguyên tắc thuế đảm bảo dễ hiểu và đạt hiệu quả
Nguyên tắc này là yêu cầu về cả nội dung và hình thức của một luật thuế
để tất cả các đối tượng nộp thuế hiểu được vì sao mình phải có nghĩa vụ đó,
các yêu cầu mà nhà nước đặt ra, quyền lợi được hưởng từ việc nộp thuế. Xét
cho cùng, người lao động trong xã hội là người lao động nên cần dễ hiểu để
đảm bảo thuế thu về cho nhà nước, đảm bảo sự tuân thủ pháp luật thuế.
7
Trong Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008 nguyên tắc đánh thuế phải
đảm bảo dễ hiểu, đạt hiệu quả cũng được Luật thuế tiêu thụ đặc biệt thể hiện
qua các quy định rất cụ thể, dễ hiểu, đầy đủ các vấn đề liên quan đến thuế tiêu
thụ đặc biệt đó là; quy định về đối tượng chịu thuế, đối tượng không chịu
thuế, người nộp thuế, căn cứ tính thuế, hoàn thuế, khấu trừ thuế và giảm thuế
tiêu thụ đặc biệt. Đặc biệt, quy định về thuế suất trong biểu thuế tiêu thụ đặc
biệt tại Điều 7 khá chi tiết nhưng vẫn rất dễ hiểu, đó là có sự phân biệt loại
nhất vì nó thể hiện nội lực kinh tế của quốc gia, chúng ta không thể trông chờ
8
vào viện trợ hay vay nợ, còn phí và lệ phí không thể đóng góp nhiều cho ngân
sách. Tuy nhiên, nguồn thu từ thuế vẫn chưa thể hiện được vai trò chủ đạo
trong nguồn thu ngân sách.
Thuế suất ở Việt Nam so với các quốc gia trong khu vực về thuế giá
trị gia tăng hay thuế sử dụng đất phi nông nghiệp vẫn là quá thấp. Thuế giá trị
giá trị gia tăng ở Việt Nam là 10%, trong khi ở Đức lên đến 23% và còn tiếp
tục tăng cao. Thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam đánh vào các đối tượng ở mọi
công đoạn, nhưng tỉ suất không cao và không đóng góp được nhiều cho ngân
sách.
Bên cạnh đó chúng ta cũng thấy: Thuế được nộp cho ngân sách nhà
nước, thì người nộp thuế muốn nhận được quyền lợi tương xứng với số thuế
mà mình đã nộp. Nhưng trên thực tế, những gì mà người nộp thuế nhận lại
được từ nhà nước thông qua phúc lợi xã hội là còn quá ít, gần như là không
có. Người nộp thuế chưa nhận được những quyền lợi trực tiếp mà nhà nước
bảo đảm cho họ qua việc nghĩa vụ thuế được hoàn thành. Ví dụ như ở Mĩ,
một người nếu được xác nhận là hoàn thành tất cả các nghĩa vụ thuế thì khi có
các hoạt động như mua nhà, họ sẽ được ngân hàng cho vay tiền chả trậm,
hoặc mua nhà trả dần…Nhưng ở Việt Nam điều đó gần như là không có. Tiền
thuế được sử dụng cho các mục đích đầu tư phát triển nhưng lại không được
quản lí tốt dẫn đến thất thoát ngân sách. Cho dù năm nào Dự toán ngân sách
cũng đặt mục tiêu là tập trung đầu tư cho phát triển con người nhưng hiệu quả
lại chưa thật sự cao.
- Nguyên tắc thuế dễ hiểu và hiệu quả chưa thật sự được thực hiện đúng.
+ Bởi ngay trong bản thân Luật thuế thu nhập cá nhân, các quy định về
giảm trừ gia cảnh cho người nộp thuế gặp phải nhiều bất cập trong thực tiễn,
chính sách pháp luật.
Bên cạnh đó, Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 đến năm 2012 đã
có dự thảo sửa đổi bổ sung và vẫn chưa được thống nhất khi không đồng nhất
trong mức thu nhập đánh thuế. Bên cạnh đó, hệ thống văn bản hướng dẫn
nhiều Nghị định liên quan khiến cho người nộp thuế khó xác định được các
quy định chi tiết nào cần áp dụng.
+ Luật thuế bảo vệ môi trường năm 2010 có quy định về việc đánh
thuế đối với túi nilong tại khoản 4 Điều 3. Túi nilong thuộc diện chịu thuế có
mức thuế suất cụ thể là 30.000-50.000 đồng/kg. Đồng thời trong Nghị định
67/2011 hướng dẫn chi tiết thi hành Luật thuế bảo vệ môi trường có hướng
dẫn về túi nilong không thuộc diện chịu thuế đó là các bao bì đóng gói sẵn và
theo đúng tiêu chuẩn thân thiện với môi trường của Bộ Tài nguyên và môi
trường. Nhưng vấn đề đặt ra là: Bộ Tài nguyên và môi trường chưa đưa ra
một tiêu chuẩn cụ thể về bao bì thân thiện với môi trường để các doanh
nghiệp có thể chuyển sang sản xuất các loại túi nilong thân thiện với môi
trường. Ngoài ra, các sản phẩm nhựa gia dụng và hàng hóa trên thị trường đều
có đến 90% đóng gói nilong và việc quy định thuế suất cao như vậy sẽ khiến
giá cả hàng hóa tăng lên. Tuy việc sử dụng túi nilong gây hại cho môi trường,
nhưng biện pháp đánh thuế cao để hạn chế sử dụng không phải là cách tốt
nhất.
Nguyên tắc tránh đánh hai lần thuế trên một đối tượng chưa được thực
hiện nghiêm chỉnh. Các tình trạng nói trên chủ yếu tồn tại trong trường hợp có
liên quan đến quốc gia khác về thu nhập cá nhân khi công dân Việt Nam
hưởng thu nhập hợp pháp từ quốc gia đó.
Đề xuất biện pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế Việt Nam
dựa trên các nguyên tắc đánh thuế
10
-
không phù hợp với thông lệ quốc tế, như vậy sẽ không đảm bảo được nguyên
tắc hiệu quả. Thực tế cho thấy phương pháp tính thuế trực tiếp được áp dụng
chủ yếu đối với các cơ sở kinh doanh nhỏ, có chế độ kế toán hóa đơn chứng
từ chưa hoàn thiện. Doanh số hoạt động của các cơ sở này thấp, quản lý thu
tốn kém và không hiệu quả. Kinh nghiệm các nước áp dụng thuế VAT cho
thấy họ thường quy định ngưỡng doanh thu chịu thuế, những đối tượng nào
không đạt mức doanh số này thì chuyển sang áp dụng thuế khoán ấn định trên
doanh thu còn các hộ kinh doanh còn lại buộc phải thực hiện đầy đủ chế độ kế
11
-
-
-
toán, hóa đơn, chứng từ theo phương pháp khấu trừ thuế để đảm bảo được
hiệu quả cao nhất trong việc hành thu. Một điểm nữa, những người xây dựng
luật thuế giá trị gia tăng chưa đảm bảo được tính hiệu quả cũng như tính dễ
hiểu trong một sắc thuế đó là với các mặt hàng không chịu thế giá trị gia tăng
thì với các mặt hàng đó chi phí đầu vào không được khấy trừ như vậy nết
dùng cho sản xuất kinh doanh chịu thế giá trị gia tăng thì tính như thế nào?
Với các doanh nghiệp bán hàng chịu thuế giá trị gia tăng bằng 0 thì chi phí
đầu vào cũng không được khấu trừ thuế giá trị gia tăng như vậy sẽ bất lợi với
các doanh nghiệp trong thời gian đầu chưa có nhiều doanh thu, như vậy liệu
có đảm bảo được nguyên tắc cân bằng lợi ích hay không?
Rà soát hệ thống thuế và đảm bảo không xảy ra tình trạng thuế đánh
trùng lên thuế. Ví dụ về việc đánh thuế túi nilong và thuế bảo vệ môi trường ở
12
2.1 Ý nghĩa việc đặt ra các nguyên tắc đánh thuế
3. Mức độ thể chế hóa các nguyên tắc trong hệ thống pháp luật thuế
4. Hạn chế trong việc thể chế hóa các nguyên tắc đánh thuế
5. Đề xuất biện pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế Việt Nam dựa trên
các nguyên tắc đánh thuế
C. KẾT LUẬN