Đề bài: Phân tích nội dung cơ bản của mỗi quyền, nghĩa vụ của từng chủ thể
và ý nghĩa của việc quy định các quyền, nghĩa vụ bảo lãnh ngân hàng.
Bài làm:
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Trong điều kiện ngày nay, bảo lãnh ngân hàng đã trở thành một hoạt động phổ
biến của các tổ chức tín dụng, là một trong các hình thức cấp tín dụng đem lại giá trị
kinh tế. Với vai trò như vậy, bảo lãnh đã trở thành loại dịch vụ kinh doanh có nhiều tác
động tích cực trong việc thúc đẩy các giao dịch về vốn, các giao dịch kinh doanh không
chỉ ở trong lĩnh vực tín dụng mà cả trong dự thầu, thực hiện hợp đồng, bảo đảm chất
lượng sản phẩm... Xét về bản chất, bảo lãnh ngân hàng là hình thức bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ (giao dịch bảo đảm) mang tính phái sinh. Vấn đề được đặt ra là quan hệ bảo
lãnh có phải là quan hệ hợp đồng hay chỉ là cam kết đơn phương? Hợp đồng bảo lãnh
ngân hàng được ký kết giữa những chủ thể nào? Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể
trong quan hệ bảo lãnh ngân hàng là gì? Tại sao pháp luật lại quy định các quyền và
nghĩa vụ như vậy?
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1. Khái quát về hoạt động bảo lãnh ngân hàng:
Khái niệm :
Bảo lãnh ngân hàng theo từ điển Tiếng Việt được hiểu là hành vi của một chủ
thể tự nguyện cam kết bảo đảm bằng uy tín hoặc tài sản của mình cho hành động, tư
cách hoặc nghĩa vụ của người khác.
Pháp luật ngân hàng định nghĩa: Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng,
theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực
hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực
hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ
chức tín dụng theo thỏa thuận (Khoản 18 điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010).
Quy định trong khoản 1 điều 2 quy chế bảo lãnh ngân hàng kèm theo Quyết định số
26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/6/2006 cũng quy định về bảo lãnh ngân hàng là cam kết
bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhân bảo lãnh)
về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách
hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo
bên mà là giao dịch “ kép ”.
Thứ 6, theo thông lệ quốc tế, bảo lãnh ngân hàng là giao dịch không thể hủy
ngang bởi những người đại diện có thẩm quyền của tổ chức tín dụng bảo lãnh.
Thứ 7, bảo lãnh ngân hàng là giao dịch được xác lập và thực hiện dựa trên chứng
từ.
Thứ 8, bảo lãnh ngân hàng là loại hình bảo lãnh vô điều kiện.
Các loại chủ thể trong bảo lãnh ngân hàng.
Trước khi đi tìm hiểu quyền và nghĩa vụ của từng chủ thể trong quan hệ bảo lãnh
ngân hàng thì phải hiểu các bên trong quan hệ này gồm những “ai” ? Cụ thể:
Như chúng ta đã nêu ở trên, nghiệp vụ bảo lãnh của tổ chức tín dụng vốn mang
bản chất là hoạt động thương mại nên có cấu trúc pháp lý khá đặc thù, bao gồm sự gắn
kết giữa hai loại hợp đồng- hợp đồng bảo lãnh được ký kết giữa bên bảo lãnh với bên
nhận bảo lãnh và hợp đồng dịch vụ bảo lãnh được ký kết giữa bên bảo lãnh và bên được
bảo lãnh. Nếu tách riêng hai hợp đồng trên thì có thể nhận thấy hợp đồng bảo lãnh được
ký kết giữa bên nhận bảo lãnh và bên bảo lãnh không phải bao giời cũng mang đầy đủ
giấu hiệu của quan hệ thương mại. Còn hợp đồng dịch vụ bảo lãnh được ký kết giữa bên
bảo lãnh với bên được bảo lãnh lại mang bản chất của giao dịch thương mại. Như vậy,
giao dịch trong bảo lãnh ngân hàng không thể được coi là giao dịch hai hay ba bên mà
là giao dịch “kép”. Trên cơ sở phân tích trên có thể khẳng định rằng các chủ thể tham
gia bảo lãnh ngân hàng bao gồm ba chủ thể: Thứ nhất là bên bảo lãnh, thứ hai là bên
được bảo lãnh và thứ ba là bên nhận bảo lãnh
2. Phân tích nội dung cơ bản của mỗi quyền, nghĩa vụ của từng chủ thể trong
bảo lãnh ngân hàng:
Bên bảo lãnh:
Theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn thi hành,
bên bảo lãnh trong nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng là các tổ chức tín dụng có đủ những
điều kiện theo luật định. Các tổ chức tín dụng này bao gồm: ngân hàng thương mại nhà
nước, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước
ngoài tại Việt Nam, ngân hàng chính sách, ngân hàng phát triển, ngân hàng hợp tác và
một số tổ chức tín dụng khác được Ngân hàng nhà nước cho phép thực hiện nghiệp vụ
bảo đảm an toàn về phương diện quyền lợi cho tổ chức tín dụng, đồng thời nhằm mục
đích đảm bảo sự an toàn cho hoạt động kinh doanh ngân hàng trong nền kinh tế và nâng
cao ý thức trách nhiệm hợp đồng cho bên khách hàng đề nghị bảo lãnh.
+ Yêu cầu khách hàng có các biện pháp bảo đảm cho nghĩa vụ hoàn trả lại của
họ đối với mình: Việc quy định quyền năng này cũng không ngoài mục đích chính yếu
là bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng cho tổ chức tín dụng thực hiện bảo lãnh.
+ Thu phí bảo lãnh theo thoả thuận: Quy định này có nghĩa là tổ chức tín dụng
khi thực hiện bảo lãnh được quyền yêu cầu khách hàng được bảo lãnh phải thanh toán
tiền phí dịch vụ bảo lãnh cho mình theo thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ bảo lãnh sau
khi đã phát hành thư bảo lãnh và gửi cho bên nhận bảo lãnh. Sở dĩ pháp luật quy định
như vậy là vì theo thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ bảo lãnh thì tổ chức tín dụng phải
phát hành thư bảo lãnh để gửi cho bên nhận bảo lãnh vì quyền lợi của khách hàng được