Đề tài “Nội dung cơ bản của đầu tư
phát triển. Phân tích tình hình đầu
tư phát triển trong hệ thống doanh
nghiệp nhà nước”
3
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
4
Đầu tư phát triển là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu và
không thể thiếu được để hưng thịnh quốc gia. Đầu tư phát triển là vấn đề được
toàn xã hội, đặc biệt là các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách phát
triển của đất nước thường xuyên quan tâm và coi trọng. Từ Quốc hội – cơ
quan quyền lực cao nhất của nhân dân, đến mỗi người dân, nhất là những
người trực tiếp tham gia hoạt động đầu tư đều rất quan tâm đến vấn đề này.
Từ cổ tới kim, đề cập đến phát triển nói chung và phát triển kinh tế, tăng
trưởng kinh tế nói riêng, người ta đều không quên nói đến đầu tư phát triển.
Với tầm quan trọng như vậy của đầu tư phát triển thì việc nghiên cứu, tìm
hiểu nội dung cơ bản của nó là vô cùng cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn. Ở
Việt Nam và các nước trên thế giới thì doanh nghiệp nói chung cũng như
doanh nghiệp Nhà nước nói riêng được coi là tế bào của nền kinh tế, nó cụ thể
hóa đường lối phát triển doanh nghiệp của Đảng, quyết định tăng trưởng kinh
tế và phát triển kinh tế của đất nước.
Trên cơ sở nhận thức được tầm quan trọng ấy, nhóm 13 đã tìm hiểu và
trình bày đề tài “Nội dung cơ bản của đầu tư phát triển. Phân tích tình
hình đầu tư phát triển trong hệ thống doanh nghiệp nhà nước”. Chúng tôi
tìm hiểu đề tài này với mong muốn có được sự hiểu biết sâu rộng hơn về đầu tư
phát triển cũng như tình hình đầu tư phát triển trong hệ thống doanh nghiệp nhà
nước đồng thời giúp cho các bạn trong lớp có thêm tài liệu tham khảo khi
muốn tìm hiểu về vấn đề này. Dù thế nào đi nữa cũng phải nhấn mạnh rằng
việc tìm hiểu về đề tài này là vấn đề lớn, có phạm vi rộng, cần phải có công sức
mua hàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh
lệch giá khi mua và khi bán.
- Đầu tư tài sản vật chất và nguồn nhân lực, khoa học công nghệ : là
loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm
trực tiếp tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh
doanh, hoạt động xã hội khác. Đó chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa
6
chữa nhà cửa và các kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị, xây lắp, bồi
dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền
với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các
cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền KTXH. Loại đầu tư này được
gọi chung là đầu tư phát triển.
2. Khái niệm đầu tư phát triển.
Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn
trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra
những tài sản vật chất (nhà xưởng thiết bị…) và tài sản trí tuệ (tri thức, kỹ
năng…), gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát
triển
Đối tượng của đầu tư phát triển: là tập hợp các yếu tố được chủ đầu tư
bỏ vốn thực hiện nhằm đạt những mục tiêu nhất định.
-> Theo quan điểm phân công lao động xã hội thì có hai nhóm đối
tượng chính là đầu tư theo ngành và đầu tư theo lãnh thổ.
-> Theo góc độ tính chất và mục đích đầu tư, đối tượng đầu tư được
chia thành hai nhóm chính la công trình vì mục tiêu lợi nhuận và công trình
phi lợi nhuận
-> Theo góc độ xem xét mức độ quan trọng, đối tượng đầu tư được
chia thành loại khuyến khích đầu tư, loại không khuyến khích đầu tư và loại
bị cấm đầu tư
-> Theo góc độ xem xét mức độ tài sản, đối tượng đầu tư được chia
thành: những tài sản vật chất và tài tài sản vô hình
phát triển, theo đó khái niệm nội dung của đầu tư phát triển bao gồm: đầu tư
phát triển các tài sản vật chất và đầu tư phát triển các tài sản vô hình.
* Đầu tư phát triển các tài sản vật chất gồm: đầu tư phát triển xây dựng
cơ bản và đầu tư vào hàng tồn trữ.
- Đầu tư xây dựng cơ bản : là hoạt động đầu tư nhằm tái tạo tài sản cố
định của doanh nghiệp. Đầu tư xây dựng cơ bản bao gồm các hoạt động như
xây lắp và mua sắm máy móc thiết bị. Hoạt động đầu tư này đòi hỏi vốn lớn
và chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn đầu tư phát triển của đơn vị. Đầu tư xây
dựng cơ bản trong khối nhà nước tuy có nhiều kết quả tốt song việc thất thoát
trong lĩnh vực đầu tư này đang rất lớn. Đây là một trong những vấn đề làm
“đau đầu” của Chính phủ ta.
- Đầu tư bổ sung hàng tồn trữ: Việc xác định quy mô đầu tư hàng tồn
trữ tối ưu cho doanh nghiệp là rất cần thiết. Trong danh mục hàng tồn trữ gồm
nguyên vật liệu, bán thành phẩm và sản phẩm hoàn thành. Tùy theo loại hình
doanh nghiệp, quy mô và cơ cấu các mặt hàng tồn trữ củng khác nhau.
* Đầu tư phát triển tài sản vô hình gồm: đầu tư nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực, đầu tư nghiên cứu triển khai các hoạt động khoa học, kỹ
thuật, đầu tư xây dựng thương hiệu, quảng cáo…
- Đầu tư phát triển nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực có vị trí đặc biệt
quan trọng trong nền kinh tế và doanh nghiệp vì chỉ có nguồn nhân lực chất
lượng cao thì mới tao ra hiệu quả cao nhất. Do đó đầu tư phát triển nguồn
nhân lực phải được quan tâm tối đa, là việc làm hết sức cần thiết. Đầu tư phát
triển nguồn nhân lực bao gồm đầu tư cho hoạt động đào tạo đội ngũ lao động;
đầu tư cho công tác chăm sóc sức khỏe, y tế; đầu tư cải thiện môi trường, điều
kiện làm việc của người lao động.
- Đầu tư nghiên cứu và triển khai các hoạt động khoa học và công nghệ.
Nhằm phát triển sản phẩm mới và các lĩnh vực hoạt động mới. Đầu tư nghiên
9
cứu hoặc mua công nghệ đòi hỏi vốn lớn và độ rủi ro cao. Hiện nay khả năng
đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và triển khai khoa học và công nghệ của
quốc gia.
- Đầu tư có tác động to lớn đến việc tăng cường khả năng khoa học và
công nghệ của đất nước. Có hai con đường cơ bản để có công nghệ là tự
nghiên cứu phát minh và nhập công nghệ từ bên ngoài. Dù là tự nghiên cứu
phát minh hay là nhập công nghệ từ bên ngoài đều phải có đầu tư. Đầu tư là
điều kiện tiên quyết của sự phát triển và tăng cường khả năng công nghệ. Mọi
phương án đổi mới công nghệ không gắn với nguồn vốn đầu tư sẽ là những
phương án không khả thi.
- Đầu tư có mối quan hệ chặt chẽ với chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Kinh
nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy nếu muốn tốc độ phát triển kinh tế
tăng cao ( 9-10%) thì phải tăng cường đầu tư nhằm tạo ra sự phát triển ở khu
vực công nghiệp và dịch vụ. Đối với các ngành nông, lâm, ngư nghiệp do hạn
chế nhiều mặt, để đạt tốc độ tăng trưởng từ 5 - 6% là rất khó khăn. Như vậy
chính đầu tư đã quyết định chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm đạt được tốc độ
tăng trưởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế.
- Ngoài ra đầu tư còn có tác động giải quyết những mất cân đối về phát
triển giữa các vùng lãnh thổ, xoá đói giảm nghèo, phát huy lợi thế so sánh về
tài nguyên, địa thế, kinh tế, chính trị … của những vùng có khả năng phát
triển nhanh để làm đầu tàu cho các vùng khác. Đầu tư tác động đến tốc độ
tăng trưởng và phát triển kinh tế. Kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế cho
thấy, muốn giữ tốc độ tăng trưởng ở mức trung bình thì tỷ lệ đầu tư ít nhất
phải đạt được từ 15-20% so với GDP tuỳ thuộc vào ICOR mỗi nước.
- Đối với các cơ sở kinh doanh dịch vụ thì đầu tư quyết định sự ra đời,
tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở. Đối với các cơ sở hoạt động phi lợi nhuận,
để duy trì sự hoạt động, ngoài tiến hành sửa chữa lớn định kỳ các cơ sở vật
11
chất kỹ thuật còn phải thực hiện các chi phí thường xuyên. Tất cả những hoạt
động và chi phí này đều là những hoạt động đầu tư.
- Đầu tư phát triển có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế bởi
vì nó tạo ra các tài sản cố định. Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động đầu tư
TRONG HỆ THỐNG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1. Khái niệm doanh nghiệp nhà nước.
Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là loại hình doanh nghiệp được thừa
nhận tồn tại ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.Tuy nhiên, do đặc điểm hình
thành, vai trò, phạm vi hoạt động… không giống nhau nên quan niệm về
DNNN cũng không giống nhau.
Thông thường, DNNN là những loại hình doanh nghiệp do Nhà nước
đầu tư, xây dựng và chi phối hoạt động sản xuất và kinh doanh. DNNN có
nhiều hình thức khác nhau như doanh nghiệp quốc hữu hoá, xí nghiệp quốc
doanh, doanh nghiệp công…Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc, DNNN
được hiểu la ”những doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ toàn bộ hoặc một
phần sở hữu và Nhà nước kiểm soát tới một mức độ nhất định quá trình ra
quyết định của doanh nghiệp”.
Ở Việt Nam, nhận thức về DNNN là cả một quá trình gắn liền với các
giai đoạn lịch sử. Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường có sự điều tiết
của Nhà nước hiên nay, nền kinh tế Việt Nam tồn tại nhiều thành phần kinh
tế, nhiều hinh thức sở hữu khác nhau như sở hữu nhà nước, sở hữu tư nhân, sở
hữu hỗn hợp… Tương ứng với mỗi hình thức sở hữu đó có ba loại hình thức
doanh nghiệp là: DNNN, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp hỗn hợp (công
ty cổ phần…), trong đó DNNN la nòng cốt của thành phần nhà nước, giữ vị
trí chu đạo. Chính thực tế này đặt ra vấn đề cần nghiên cứu nghiêm túc khái
niệm DNNN và cần nghiên cứu đầy đủ hơn về khái niệm này theo hướng
ngày càng phù hợp hơn với thực tế.
13
Theo Nghị định 388/HĐBT ngày 20/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng
(nay là Chính phủ), “DNNN là tổ chức kinh doanh do nhà nước thành lập, đầu
tư vốn và quản lý với tư các chủ sở hữu. DNNN là một pháp nhân kinh tế,
hoạt động theo pháp luật và bình đẳng trước pháp luật”. Để phù hợp với tình
hình mới Luật DNNN được ban hành ngày 24/4/1995 đã đưa ra định nghĩa
như sau: “ Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn,
hàng ngày của doanh nghiệp bởi lẽ, nhà nước và DNNN là những chủ thể
pháp lý tách bạch và độc lập với nhau. Nhà nước đóng vai trò là người chủ sở
hữu đối với doanh nghiệp người đầu tư vốn, còn DNNN là chủ thể kinh doanh
độc lập có tư cách pháp lý như mọi chủ thể kinh doanh của các nhà đầu tư
khác trong nền kinh tế.
Thứ ba Doanh nghiệp nhà nước là đối tượng quản lý của nhà nước,
phải thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hộido Nhà nước giao cho.
Tóm lại quan niệm về doanh nghiệp nhà nước có thể được xem xét từ
các góc độ khác nhau, thay đổi theo từng thời kỳ, gắn với thực tiễn đổi mới
kinh tế xã hội 20 năm qua ở nước ta. Trong điều kiện tiến tới hội nhập kinh
tế khu vực và toàn cầu nhưng vẫn đảm bảo đường lối độc lập tự chủ về kinh
tế của nước ta hiện nay, tạo mọi thuận lợi phát huy hiệu quả vốn Nhà nước
và tiềm năng về vốn của mọi thành phần kinh tế khác thì phải nhận thức
đúng phù hợp về khái niệm doanh nghiệp Nhà nước .
2. Phân loại doanh nghiệp Nhà nước.
Có nhiều cách phân loại doanh nghiệp Nhà nước khác nhau. Ở đây bài
viết trình bày một số cách phân loại DNNN mà sẽ được sử dụng trong nghiên
cứu.
Thứ nhất : Dựa vào mục đích hoạt động chia DNNN thành hai loại:
DNNN hoạt động kinh doanh và DNNN hoạt động công ích.
DNNN hoạt động kinh doanh là loại doanh nghiệp có chức năng chủ
yếu là hoạt động kinh doanh trên số vốn và tài sản Nhà nước được giao. Mục
15
tiêu chủ yếu của loại doanh nghiệp này là thu lợi nhuận và doanh nghiệp tự
quyết định loại sản phẩm kinh doanh trên cơ sở tuân thủ pháp luật.
DNNN hoạt động công ích là loại doanh nghiệp thuộc khu vực vô vị
lợi, hoạt động với chức năng chủ yếu là đáp ứng nhu cầu của xã hội bằng
những sản phẩm, dịch vụ cụ thể, không thể thiếu được trong quốc kế dân sinh.
Yếu tố lợi nhuận không đóng vai trò quan trọng
Thứ hai: căn cứ theo mức độ đầu tư vốn Nhà nước tại doanh nghiệp
hội nhập kinh tế quốc tế.
• Vai trò xã hội: Được thể hiện ở một số điểm sau: Thứ nhất,DNNN
đi đầu trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội đối với cộng đồng, đặc biệt đối
với địa phương nơi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh, nơi các vùng kinh tế
khó khăn, vùng sâu, vùng xa. Nếu lợi nhuận là mục tiêu cở bản của doanh
nghiệp tư nhân thì đối với DNNN, ngoài mục tiêu kinh doanh còn nhiều mục
tiêu cở bản khác. Lợi nhuận không phải là mục tiêu duy nhất mà trước hết
phải xem xét đến lợi ích chính trị- xã hội- kinh tế của đất nước. DNNN phải
có mặt và phát triển tại các lĩnh vực mà các doanh nghiệp khác không muốn
hoặc không có khả năng làm, để đảm bảo cung cấp các hàng hoá và dịch vụ
cần thiết cho nhu cầu của các tầng lớp dân cư. Vì vậy, hiệu quả của DNNN có
thể là hiệu quả kinh tế, hoặc hiệu quả xã hội, hoặc cả hiệu quả kinh tế và hiệu
quả xã hội. Do đó trong nhiều trường hợp các DNNN hoạt động trong lĩnh
vực công ích phải đặt mục tiêu lợi nhuận xuống hàng thứ yếu. Thứ hai,
DNNN đóng vai trò quan trọng trong việc khắc phục những khuyết tật của
nền kinh tế thị trường, tạo điều kiện cho việc xây dựng xã hội mới. Từ thực
tiễn phát triển kinh tế thị trường ở các quốc gia trên thế giới, bên cạnh nhiều
mặt tích cực, người ta cũng nhận thấy những khuyết tật vốn có. Những khuyết
tật cơ bản của nền kinh tế thị trường bao gồm: Một là, do theo đuổi mục tiêu
làm cho chi phí biên cá nhân nhỏ hơn chi phí biên xã hội, gây ra ảnh hưởng
17
ngoại ứng, ô nhiễm môi trường. Hai là, việc cung cấp sản phẩm công cộng
thường không hấp dẫn các doanh nghiệp vì lợi nhuận ở khu vực này thường
thấp trong khi đòi hỏi đầu tư lớn. Trong tình hình đó, DNNN đóng vai trò tạo
điều kiện khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường. Để góp phấn hạn
chế khuyết tật thứ hai, các DNNN không những phải xuất hiện ở lĩnh vực
cung cấp sản phẩm công cộng, mà quan trọng là phải cung cấp sản phẩm công
cộng một cách có hiệu quả.
• Vai trò kinh tế: DNNN phải là công cụ kinh tế quan trọng để Nhà
nước trực tiếp tác động đến các quá trình kinh tế xã hội, điều tiết vĩ mô, thúc
hướng nhất định trên cơ sở quyết định quy hoạch, kế hoạch, cấp phát ngân
sách, cho vay vốn hoặc các biện pháp điều tiết khác.Vai trò của nhà nước
trong hoạt động đầu tư phát triển được thể hiện rõ thông qua chính hoạt động
đầu tư phát triển của nhà nước cũng như việc điều tiết, thúc đẩy, hỗ trợ đầu tư
khu vực ngoài nhà nước( tư nhân và đầu tư nước ngoài) và thông qua việc
quyết định kế hoạch, quy hoạch.
Ở một góc độ cụ thể hơn, ta có thể thấy vai trò của nhà nước thể hiện
trên các khía cạnh như chi tiêu, cấp phát ngân sách, cho vay vốn ưu đãi; đầu
tư phát triển để tạo ra hàng hoá công; đầu tư phát triển để thực hiện việc cung
cấp công cộng một số hàng hoá tư nhân; chính sách bao tiêu một số sản phẩm
và dịch vụ từ đầu tư phát triển được lựa chọn để giữ vững cầu, ổn định giá cả
và thúc đẩy tăng trưởng; đầu tư cho nghiên cứu và phát triển; thi hành chính
sách thuế khoá liên quan đến hoạt động đầu tư phát triển; quản lý nhà nước về
đầu tư phát triển (quản lý cá nhân và tổ chức tham gia đầu tư phát triển , quản
lý sản phẩm của đầu tư phát triển ); xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật
nhằm điều chỉnh hoạt động đầu tư phát triển; thanh tra, kiểm tra hoạt động
đầu tư phát triển ,
Công tác xử lý các vướng mắc, các phát sinh trong quá trình thực hiện và vận
hành dự án đầu tư phát triển
19
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
TRONG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THỜI KỲ 2000 – 2006
I. TỔNG QUAN CHUNG VỀ TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ PHÁT
TRIỂN TRONG HỆ THỐNG DNNN THỜI KỲ 2000 - 2006
DNNN tiếp tục là lực lượng nòng cốt của thành phần kinh tế nhà nước,
đảm bảo vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế quốc dân.
Trong những năm qua, tỷ trọng đầu tư của khu vực này trong tổng mức đầu tư
toàn xã hội vẫn được duy trì theo các năm, đóng góp rất lớn về đầu tư trong
tổng đầu tư của xã hội. Đây là nguồn vốn các doanh nghịêp chủ động trong
được tính cạnh tranh, phát huy được vai trò tích cực và chủ động trong các
hoạt động kinh tế, xã hội. Từ 2001 - 2004 cổ phần hoá được 1.654 DNNN và
bộ phận DNNN (sau đây gọi chung là DNNN) chiếm 73% tổng số DNNN cổ
phần hoá từ năm 1992 đến nay (2.242 DNNN cổ phần hoá). Trong đó, năm
2001: 205 doanh nghiệp: năm 2002: 164 doanh nghiệp: năm 2003: 532 doanh
nghiệp; năm 2004: 753 doanh nghiệp. Nhiều đơn vị thực hiện tốt lộ trình cổ
phần hoá theo đế án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, điển hình là:
Bộ Xây dựng (đạt 125%), Bộ Công nghiệp (đạt 106%), Tổng công ty Bưu
chính Viễn thông Việt Nam (đạt 182%), Tổng công ty Dệt May Việt Nam
(đạt 133%), tỉnh An Giang (đạt 130%), tỉnh Hải Dương (đạt 116%), tỉnh Vĩnh
Phúc (đạt 115%), thành phố Hồ Chí Minh (đạt 109%), thành phố Cần Thơ
(đạt 109%), tỉnh Nam Định (đạt 109%), tỉnh Hà Tây (đạt 103%). Theo kế
hoạch, năm 2005 sẽ thực hiện cổ phần hoá 724 DNNN, hoàn thành cơ bản
104 Đề án sắp xếp DNNN đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án cổ phần hoá toàn Tổng công
ty Thương mại và Xây dựng (Bộ Giao thông - Vận tải) và Tổng công ty Điện
21
tử và Tin học (Bộ Xây dựng). Ngoài ra, một số đề án cổ phần hoá các Tổng
công ty lớn đang được trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định như
Tổng công ty Xuất nhập khẩu xây dựng VINACONEX (Bộ Xây dựng); Ngân
hàng Ngoại thương Việt Nam. Đây sẽ là bước quan trọng để triển khai đẩy
mạnh quá trình cổ phần hoá DNNN.
Nhìn chung, kết quả hoạt động kinh doanh của các DNNN sau khi cổ
phần hóa đều tốt hơn theo hướng tăng vốn sản xuất kinh doanh, tăng doanh
thu, tăng lợi nhuận và tăng thu nhập cho người lao động
Bên cạnh hình thức cổ phần hoá là giải pháp mang tính đột phá trong
quá trình sắp xếp, đổi mới DNNN, các hình thức khác như giao, bán, chuyển
DNNN thành công ty TNHH 1 thành viên cũng được triển khai mạnh, làm đa
dạng hoá các hình thức sắp xếp, đổi mới cơ chế quản lý, góp phần nâng cao
hiệu quả hoạt động của DNNN. Ngoài ra, còn thực hiện các hình thức tổ chức
lập thuộc tổng công ty nhà nước, đây là cơ sở để các Bộ, ngành, địa phương tập
trung đầu tư cho những doanh nghiệp hoạt động trong những ngành, lĩnh vực
then chốt, mang tính chất ổn định kinh tế - xã hội mà Nhà nước cần nắm giữ
100% vốn. Ngày 09 tháng 8 năm 2004, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
153/2004/NĐ-CP về tổ chức, quản lý tổng công ty nhà nước và chuyển đổi tổng
công ty nhà nước, công ty nhà nước độc lập theo mô hình công ty mẹ - công ty
con, làm nền tảng hình thành các Tổng công ty mạnh, thay đổi cơ chế quản lý từ
quan hệ hành chính sang quan hệ dựa vào tỷ lệ góp vốn.
Hiện nay, đã có 47 tổng công ty nhà nước, công ty nhà nước độc lập
xây dựng đề án chuyển đổi hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con,
trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Trong đó, một số doanh nghiệp đã
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và đi vào hoạt động. Ngoài ra, Thủ
tướng Chính phủ đã cho phép xây dựng thí điểm đề án các Tập đoàn kinh tế
hoạt động trong một số lĩnh vực mang tính then chốt, mũi nhọn của nền kinh
tế như Bưu chính - Viễn Thông; Dầu khí; Điện lực; Xi măng
23
Tóm lại, với tình hình phát triển doanh nghiệp trong nước trong 5 năm
qua đã tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu các thành phần kinh tế theo hướng sắp
xếp lại và đổi mới khu vực kinh tế Nhà nước, phát huy mạnh mẽ tiềm năng
của khu vực kinh tế dân doanh, kinh tế hợp tác xã, kinh tế trang trại
Đóng góp của từng thành phần kinh tế vào quá trình tăng trưởng chung
của toàn nền kinh tế cũng có nhiều thay đổi, theo hướng giảm tỷ trọng của
khu vực kinh tế nhà nước, tăng tỷ trọng của khu vực kinh tế dân doanh.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì những yếu kém, tồn tại vẫn còn
là vấn đề bức xúc, chưa được giải quyết triệt để ở nhiều lĩnh vực. Điển hình là
tình trạng thất thoát, lãnh phí vốn đầu tư phát triển diễn ra khá là phổ biến nhất là
trong xây dựng cơ bản, diễn ra trong nhiều dự án đâu tư, thuộc các nguồn vốn, ở
các ngành, các địa phương và trong tất cả các giai đoạn của quá trình đầu tư.
Năm 2002, Thanh tra Nhà nước thanh tra 17 dự án có tổng mức đầu tư
là 9.385 tỷ đồng, tổng giá trị vốn đầu tư được thanh tra, kiểm tra là 6.407 tỷ
Thiết bị, dây chuyền lạc hậu so với thế giới từ 10-20 năm, trong đó có 38%
đang chờ thanh lý. Chi phí sản xuất công nghiệp còn rất cao, hạn chế mức
tăng giá trị gia tăng. Cụ thể là giá trị sản xuất mấy năm gần đây tăng
15%/năm, nhưng giá trị gia tăng chỉ tăng 10%. Tốc độ đổi mới công nghệ
chậm, chỉ khoảng 10% trong thời gian qua. Các ngành công nghiệp có trình
độ công nghệ cao, hiện đại như: điện tử, tin học mới chỉ chiếm vài phần
trăm giá trị sản xuất công nghiệp; dịch vụ có hàm lượng trí tuệ cao không
nhiều. Một số DNNN có nhiều máy móc, thiết bị tuy được đầu tư hiện đại
nhưng không huy động hết công suất (nhiều doanh nghiệp có hiệu suất sử
dụng tài sản cố định chỉ đạt 50-60%) hoặc tổng vốn đầu tư lớn dẫn đến chi phí
khấu hao, chi phí lãi vay trong giá thành sản phẩm cao. Nguyên nhân sâu xa
là trình độ công nghệ lạc hậu hiện nay, điều mà nhiều đại biểu Quốc hội đã
lên tiếng khi bàn thảo về Dự án Luật Chuyển giao Công nghệ. Khi cả nền
25
kinh tế Việt Nam chỉ có chưa đầy 2% số doanh nghiệp sử dụng công nghệ
cao, mà rất hiếm có DNNN lọt vào số 2% này, thì thực trạng hiện nay là hậu
quả tất yếu không thể tránh khỏi. Trong khi đó, tỷ lệ này ở Thái Lan là 30%,
Malaysia là 51%, Singapore là 73%. Theo cuốn “Nâng cao năng lực cạnh
tranh xuất khẩu trên cơ sở cắt giảm chi phí” do Viện Quản lý kinh tế Trung
ương (CIEM) chủ biên, (Nhà xuất bản Tài chính tháng 7 năm 2006), tình
trạng công nghệ ở nước ta hiện nay đang ở vào hoàn cảnh Singapore những
năm 60 của thế kỷ trước.
Thực trạng đầu tư phát triển xây dựng cở bản trong DNNN.
Trong những năm gần đây, việc phát triển cơ sở hạ tầng ở Việt Nam đã
có những tiến bộ vượt bậc. Đầu tư vào các hoạt động sản xuất kinh doanh,
xây dựng cơ sở hạ tầng và bảo vệ môi trường có tác động trực tiếp đến tăng
trưởng kinh tế và hiệu quả của đầu tư cho thấy nhanh hơn, rõ ràng hơn. Chính
vì vậy vốn đầu tư vào lĩnh vực này được xem là quan trọng nhất, đặc biệt với
các nước đang phát triển.Việt Nam hiện đầu tư hơn một phần ba giá trị GDP;
khoảng 9% được đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng. Kết quả là Việt Nam
Nhà nước và
nguồn vốn khác
Giá thực tế (tỷ đồng)
2000 89417 39006 27774 22637
2001 101973 45594 28723 27656
2002 114738 50210 34937 29591
2003 126558 56992 38988 30578
2004 139831 69207 35634 34990
2005 161635 87932 35975 37728
Sơ bộ 2006 185100 100200 41200 43700
Cơ cấu (%)
2000 100.0 43.6 31.1 25.3
2001 100.0 44.7 28.2 27.1
2002 100.0 43.8 30.4 25.8
2003 100.0 45.0 30.8 24.2
2004 100.0 49.5 25.5 25.0
2005 100.0 54.4 22.3 23.3
Sơ bộ 2006 100.0 54.1 22.3 23.6
Nguồn: Niên giám thống kê 2006, tổng cục thống kê
27