NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN TSCĐ VÀ PHÂN TÍCH TÌNH
HÌNH TRANG BỊ VÀ SỬ DỤNG TSCĐ TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 ý nghĩa,vai trò và nhiệm vụ của kế toán TSCĐ
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của TSCĐ
TSCĐ là bộ phận quan trọng nhất, là một trong 3 yếu tố cơ bản của quá trình
SXKD của doanh nghiệp. TSCĐ là cơ sơ vật chất kỹ thuật của nền kinh tế quốc
dân và không thể thiếu đối với mọi quốc gia, mọi doanh nghiệp sản xuất cũng như
doanh nghiệp thương mại.
- Theo chuẩn mực kế toán quốc tế số 16 (IAS16) tài sản được sử dụng trong
quá trình sản xuất, cung cấp hàng hoá dịch vụ hoặc cho các mục đính hành chínhvà
có thời gian sử dụng nhiều hơn một kỳ kế toán gọi là TSCĐ.
TSCĐ bao gồm toàn bộ các tư liệu lao động và các tài sản có giá trị lớn và thời
gian sử dụng lâu dài mà người ta dùng nó để tác động vào làm thay đổi đối tượng
lao động. Theo nghĩa rộng hơn thì tư liệu lao động còn bao gồm cả những điều
kiện vật chất không trực tiếp tham gia vào quá tình sản xuất nhưng không thể thiếu
được, hay nếu thiếu thì quá tình sản xuất kinh doanh sẽ bị hạn chế như đất đai, cầu
cống, đường xá….
Theo quy định số 166/1999/QD.BTC ngày 30/12/1999 của Bộ tài chính; mọi tư
liệu lao động được coi là TSCĐ khi nó thoả mãn đồng thời cả hai yếu tố: có giá trị
từ 5.000.000 đ trở lên và có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên. Những tư liệu lao
động không có đủ tiêu chuẩn trên được coi la công cụ lao động nhỏ, được hạch
toán trực tiếp hoặc được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.2 Vai trò và yêu cầu quản lý TSCĐ trong doanh nghiệp
1.1.2.1 Vai trò:
Trong lịch sử phát triển nhân loại, các cuộc cách mạng công nghiệp đều tập trung
vào giải quyết các vấn đề cơ khí hoá, điện khí hoá tự động hoá của quá trình sản
xuất gắn liền với đổi mới cải thiện TSCĐ, tự động hoá của quá trình sản xuất gắn
liền với đổi mới cải thiện TSCĐ. TSCĐ là cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh
nghiệp, nó phản ánh năng lực sản xuất hiện có, trình độ tiến bộ khoa học kỹ thuật
của doanh nghiệp. TSCĐ đặc biệt là máy móc thiết bị sản xuất là điều kiện quan
trọng và cần thiết để tăng sản lượng, năng xuất lao động, giảm chi phí sản xuất, hạ
Trong doanh nghiệp TSCĐ rất đa dạng cả về số lượng cũng như hình thái
biểu hiện tính chất công dụng và tình hình sử dụng khác nhau... Để thuận tiện cho
công tác quản lý và hạch toán TSCĐ thì cần phân loại TSCĐ theo những đặc trưng
nhất định.
Phân loại TSCĐ là việc phân chia toàn bộ TSCĐ hiện có theo những tiêu
thức nhất định nhằm phục vụ cho nhu cầu quản lý, có nhiều cách phân loại TSCĐ
khách nhau. Nhưng trong phạm vi cho phép của bài tôi chỉ xin nêu một số biện
pháp tiêu biểu, cụ thể như sau:
a.) Phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện:
Theo cách phân loại này TSCĐ được chia làm hai loại: TSCĐ hữu hình và
TSCĐ vô hình.
TSCĐ hữu hình : Là những tư liệu lao động có đủ tiêu chuẩn giá trị và thời gian
sử dụng theo chế độ quy định, có hình thức vật chất cụ thể : nhà cửa máy móc
thiết bị, phương tiện vận tải truyền dẫn, thiết bị dụng cụ dùng cho quản lý vườn
cây lâu năm, xúc vật làm việc...
TSCĐ vô hình : Là những tài sản không có hình thái cụ thể nhưng lại đại diện
trong một quyền hợp pháp nào đó và người chủ được hưởng quyền lợi kinh tế.
TSCĐ vô hình gồm : Quyền sử dụng đất, chi phí phù hợp doanh nghiệp, bằng
phát minh sáng chế, chi phí nghiên cứu phát triển, lợi thế thương mại và các
TSCĐ vô hình khác.
b.) Phân loại TSCĐ theo quyền sở hữu :
Căn cứ vào quyền sở hữu, TSCĐ của doanh nghiệp được chia làm 2 loại :
TSCĐ tự có và TSCĐ đi thuê.
TSCĐ tự có : Là những doanh nghiệp được xây dựng, mua sắm hoặc chế tạo
bằng nguồn vốn của doanh nghiệp do ngân sách nhà nước cấp, do đi vay của
Ngân hàng, bằng nguồn vốn tự bổ sung, nguồn vốn liên doanh, nguồn vốn cổ
phần... Đây là những TSCĐ của doanh nghiệp và được phản ánh trên Bảng cân
đối kế toán của doanh nghiệp.
TSCĐ thuê ngoài : Là TSCĐ đi thuê để sử dụng trong một thời gian nhất định
theo hợp đồng thuê tài sản. Theo khoản hợp đồng thuê mà TSCĐ đi thuê được
trực tiếp cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp. Nó bao gồm
nhà xưởng,vật kiến trúc, thiết bị động lực, truyền dẫn...
TSCĐ dùng ngoài sản xuất kinh doanh cơ bản: Đó là những TSCĐ dùng cho
các hoạt động sản xuất kinh doanh phụ và phụ trợ, các TSCĐ không có tính
chất sản xuất kinh doanh và tài sản cố định cho thuê.
TSCĐ chưa dùng hoặc không cần dùng : Là những TSCĐ dùng để dự trữ,
không phù hợp với cơ cấu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
TSCĐ chờ thanh toán và chờ giải quyết : Là những TSCĐ đã hư hỏng hoặc quá
lạc hậu chờ quyết định thanh lý.
Ngoài các cách phân loại TSCĐ trên, TSCĐ còn có thể phân loại theo một số
cách khác như theo đặc trưng kỹ thuật...
1.2.2 Đánh giá TSCĐ .
Đánh giá TSCĐ là việc xác định giá trị ghi sổ của TSCĐ tại từng thới điểm nhất
định, TSCĐ được đánh giá lần đầu và có thể được đánh giá lại trong quá trình sử
dụng. Xuất phát từ đặc điểm, yêu cầu quản lý TSCĐ trong quá trình sử dụng.
TSCĐ được đánh giá theo nguyên giá, giá trị hao mòn và giá trị còn lại.
a) Đánh giá TSCĐ theo nguyên giá :
- Theo thông lệ quốc tế thì : "Nguyên giá TSCĐ bao gồm : Giá mua, thuê, chi phí
hoa hồng và tất cả các chi phí trực tiếp khác liên quan tới việc nhận TSCĐ như chi
phí vận chuyển, chạy thử để cho tài sản vào vị trí sẵn sàng hoạt động".
- Theo kế toán Việt Nam : "Nguyên giá TSCĐ là giá trị thực tế của TSCĐ ở thời
điểm đưa TSCĐ vào sử dụng ở đơn vị" bao gồm các chi phí liên quan đén việc xây
dựng, mua sắm TSCĐ , các chi phí vận chuyển, lắp đặt chạy thử và các chi phí cần
thiết khác.
- Nguyên giá TSCĐ được xác định dựa trên các nguyên tắc khách quan,
nguyên tắc giá phí và nguyên tắc thời điểm.
Đối với cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc đối tượng nộp VAT theo phương
pháp trực tiếp trên thuế VAT vầ sơ sở kinh doanh không thuộc đối tượng chịu thuế
GTGT, giá trị TSCĐ mua vào tổng giá thanh toán (bao gồm cả thuế GTGT đầu
vào) . (Thông tư số 100 về thuế GTGT).
Nguyên giá và giá trị đã hao mòn (số đã trích khấu hao) được lấy theo số liệu kế
toán hoặc được tính bằng giá trị thực tế còn lại theo nguyên giá.
Trường hợp nguyên giá TSCĐ được đánh giá lại thì :
Giá trị còn lại Giá trị còn lại (Nguyên giá mới) của TSCĐ
Của TSCĐ sau khi = của TSCĐ trước khi x
đánh giá lại đánh giá lại ( Nguyên giá cũ) của TSCĐ
Cũng có thể giá trị còn lại sau khi đánh giá lại TSCĐ được xác định bằng giá
trị thực tế còn lại theo thời gian biên bản kiểm kê và đánh giá lại TSCĐ .
1.3 Nội dung kế toán TSCĐ và phân tích tình hình trang bị TSCĐ ở công ty.
1..3.1. Hạch toán chi tiết TSCĐ .
Mọi trường hợp tăng hoặc giảm TSCĐ phải lập đầy đủ thủ tục chứng từ, hồ sơ
của TSCĐ như : Biên bản giao nhận TSCĐ, biên bản thanh lý TSCĐ, nhượng bán
TSCĐ, biên bản đánh giá lại TSCĐ ... theo mẫu quy định của Bộ Tài chính. Khi
tăng TSCĐ , phải lập hồ sơ cho TSCĐ gồm cả hồ sơ kế toán và hồ sơ kỹ thuật. Hồ
sơ kỹ thuật do phòng kỹ thuật lập và quản lý. Hồ sơ kế toán bao gồm :
+)Hợp đồng kinh tế.
+) Hoá dơn GTGT (hoặc hoá đơn bán hàng).
+) Biên bản nghiệm thu kỹ thuật TSCĐ .
+) Biên bản giao nhận TSCĐ .
TSCĐ phải được phân loại theo yêu cầu quản lý của doanh nghiệp và mỗi
TSCĐ hữu hình được ghi một mã số. Sau đó lập thẻ cho TSCĐ hữu hình theo mẫu
quy định. Mỗi TSCĐ được lập một thẻ, lập thẻ xong vào sổ chi tiết TSCĐ. Sổ chi
tiết TSCĐ cung cấp các thông tin sau : Tên TSCĐ, mã số TSCĐ, nơi sản xuất,
công suất TSCĐ, thời gian đưa cào sử dụng, nguyên giá TSCĐ, tỷ lệ khấu hao
TSCĐ,mức khấu hao TSCĐ,TSCĐ giảm (thời điểm, lý do...) sau đó ghi vào sổ tài
khoản theo đơn vị sử dụng để theo dõi tình hình tăng, giảm TSCĐ của từng bộ
phận trong toàn doanh nghiệp.
1.3.2.Kế toán tổng hợp tăng, giảm TSCĐ hữu hình, vô hình.
Để kế toán các nghiệp vụ tăng, giảm TSCĐ hữu hình( vô hình), kế toán sử
dụng tài khoản 211 - TSCĐ hữu hình,TK 213- TSCĐ vô hình
Kết thúc đầu tư vào
Thuế GTGT
TK 241 - XDCB
Tập hợp chi phí XDCB
Kinh doanh
TK 133-VAT khấu trừ
SƠ ĐỒ HẠCH TOÁN TỔNG QUÁT TĂNG TSCĐ HH,VH
Công cụ dụng cụ đang dùng
TK 142 - CF trả trước
Nếu công cụ dụng cụ còn mới
TK 153 - CCDC
Các trường hợp tăng khác
TK 111,112,341
Nhận lại vốn góp liên doanh
TK 128,222
Quỹ phát triển phúc lợi
Đầu tư bằng nguốn XDCB
TK 414,441,431
Nhận cấp phát tặng thưởng, nhận góp vốn kinh doanh
TK 411 - NVKD
Mua sắm mới
TK 211,213 - TSCĐ HH,VH
TK 111,112,331…
NG
UY
ÊN
GÍ
A
TS
CĐ
Những TSCĐ thiếu do phát hiện qua kiểm kê thì kế toán căn cứ vào biên bản
kiểm kê và quyết định xử lý của cấp có thẩm quyền để ghi sổ phù hợp.