Luận văn phân tích nội dung cơ bản của luật cạnh tranh và so sánh hành vi bán phá gía và gièm pha doc - Pdf 17


Lu n v nậ ă
Lu n v n: phân tích n i dung cậ ă ộ ơ
b n c a lu t c nh tranh và so sánhả ủ ậ ạ
hành vi bán phá gía và gièm pha
1
Mục lục
PH N M UẦ Ở ĐẦ 4
L i nói đ uờ ầ 4
PH N N I DUNGẦ Ộ 5
Ch ng 1: T NG QUAN V C NH TRANHươ Ổ Ề Ạ 5
I. Khái ni m v c nh tranhệ ề ạ 5
II. Các hình th c t n t i c a c nh tranhứ ồ ạ ủ ạ 6
2.1 C n c vào m c đ chi ph i c a nhà n c, có c nh tranh t do và c nh tranh có s ă ứ ứ ộ ố ủ ướ ạ ự ạ ự
đi u ti t c a nhà n c.ề ế ủ ướ 6
2.3 C n c tính ch t và các ph ng th c mà nhà kinh doanh s d ng, nên có th là c nh ă ứ ấ ươ ứ ử ụ ể ạ
tranh lành m nh, c nh tranh không lành m nh ho c h n ch c nh tranh.ạ ạ ạ ặ ạ ế ạ 7
Ch ng 2: HÀNH VI TH A THU N H N CH C NH TRANHươ Ỏ Ậ Ạ Ế Ạ 10
I. Hành vi th a thu n h n ch c nh tranhỏ ậ ạ ế ạ 10
1.Khái ni m, đ c đi m c a hành vi th a thu n h n ch c nh tranh ệ ặ ể ủ ỏ ậ ạ ế ạ 10
1.1. Khái ni m hành vi th a thu n h n ch c nh tranh ệ ỏ ậ ạ ế ạ 10
1.2. Nh ng đ c tr ng c a các hành vi th a thu n h n ch c nh tranh ữ ặ ư ủ ỏ ậ ạ ế ạ 12
2.Th a thu n n đ nh giá hàng hoá, d ch v m t cách tr c ti p ho c gián ti p ỏ ậ ấ ị ị ụ ộ ự ế ặ ế 16
2.1. Th a thu n n đ nh giá có th x y ra giao d ch mua ho c bán mà các doanh ỏ ậ ấ ị ể ả ở ị ặ
nghi p tham gia th a thu n s giao k t trong t ng lai v i khách hàng ệ ỏ ậ ẽ ế ươ ớ 17
2.2. N i dung c a th a thu n ộ ủ ỏ ậ 17
3.Th a thu n phân chia th tr ng tiêu th , ngu n cung c p hàng hoá, cung ng d ch ỏ ậ ị ườ ụ ồ ấ ứ ị
v (g i t t là th a thu n phân chia th tr ng) (1)ụ ọ ắ ỏ ậ ị ườ 20
4.Th a thu n h n ch ho c ki m soát s l ng, kh i l ng s n xu t, mua bán hàng ỏ ậ ạ ế ặ ể ố ượ ố ượ ả ấ
hoá, d ch v (2)ị ụ 21
5.Th a thu n h n ch phát tri n k thu t công ngh , h n ch đ u t ỏ ậ ạ ế ể ỹ ậ ệ ạ ế ầ ư 22

của nền kinh tế. Trong bối cảnh hiện tại của nền kinh tế Việt Nam, cạnh tranh lành
mạnh và bình đẳng đóng vai trò trụ cột, đảm bảo sự vận hành hiệu quả của cơ chế
thị trường. Trong nỗ lực tạo lập môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế, ngày
03/12/2004, Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Luật Cạnh tranh số
27/2004/QH11 và Luật này đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2005.
Với 6 chương, 123 Điều, Luật cạnh tranh được ban hành nhằm:
- Kiểm soát các hành vi gây hạn chế cạnh tranh hoặc các hành vi có thể dẫn đến
việc gây hạn chế cạnh tranh, đặc biệt khi mở cửa thị trường, hội nhập kinh tế quốc
tế.
- Bảo vệ quyền kinh doanh chính đáng của các doanh nghiệp, chống lại các hành vi cạnh tranh
không lành mạnh.
- Tạo lập và duy trì một môi trường kinh doanh bình đẳng.
Để đạt được mục tiêu này, Luật Cạnh tranh phân các hành vi chịu sự điều chỉnh thành hai nhóm hành vi là hành vi hạn
chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Đối với nhóm hạn chế cạnh tranh, Luật điều chỉnh 3 dạng hành
vi gồm thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung
kinh tế. Đối với nhóm cạnh tranh không lành mạnh, Luật điều chỉnh 10 hành vi, gồm chỉ dẫn gây nhầm lẫn, xâm phạm
bí mật kinh doanh, ép buộc trong kinh doanh, gièm pha doanh nghiệp khác…và các hành vi khác theo tiêu chí xác định
tại khoản 4 Điều 3 của Luật do Chính phủ quy định.
Về đối tượng điều chỉnh, Luật cạnh tranh áp dụng đối với 2 nhóm đối tượng, gồm tổ chức, cá nhân kinh doanh (doanh
nghiệp), kể cả doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích; doanh nghiệp hoạt động trong các ngành,
lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước; và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ở Việt Nam và hiệp hội ngành nghề hoạt
động ở Việt Nam. Ngoài ra, tại Điều 6, Luật Cạnh tranh cũng quy định các hành vi bị cấm đối với cơ quan quản lý nhà
nước.
Để nhanh chóng đưa Luật Cạnh tranh vào cuộc sống, tính đến tháng 1/2007 các cơ quan chức năng đã ban hành 06 văn
bản hướng dẫn thi hành về một số nội dung
mang tính chất kỹ thuật chưa được quy định chi tiết trong Luật. Các văn bản này baogồm:
>>>Nghị định số 05/2006/NĐ-CP ngày 09/01/2006 về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và
cơ cấu tổ chức của Hội đồng cạnh tranh
>>> Nghị định số 06/2006/NĐ-CP ngày 09/01/2006 về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và
cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh

Cạnh tranh là quá trình nhà kinh doanh “giành” lấy khách hàng cho mình bằng
cách cung cấp những điều kiện tốt hơn so với đối thủ về giá cả, chất lượng hoặc
các dịch vụ hỗ trợ khác. Pháp luật về cạnh tranh xuất hiện từ khá lâu. Công ước
Pa-ri (1883) được ghi nhận là văn bản pháp lý đầu tiên đề cập đến khái niệm cạnh
tranh thông qua việc quy định những hành vi cạnh tranh bất chính và biện pháp xử
lý chúng. Hiện nay, ở hầu khắp các nước có nền kinh tế thị trường đều đã có Luật
Cạnh tranh. Các nước có nền kinh tế chuyển đổi như Cộng hòa Liên bang Nga,
Trung Quốc,… cũng đã lần lượt ban hành Luật Cạnh tranh.
II. Các hình thức tồn tại của cạnh tranh
Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại các hình thức cạnh tranh.
2.1 Căn cứ vào mức độ chi phối của nhà nước, có cạnh tranh tự do và cạnh
tranh có sự điều tiết của nhà nước.
a) Cạnh tranh tự do: là hình thức cạnh tranh trên cơ sở nền kinh tế phát triển tự
do, không có sự can thiệp của Nhà nước. Giá cả chịu sự chi phối hoàn toàn của thị
trường.
b)Cạnh tranh có sự điều tiết của nhà nước: là hình thức cạnh tranh diễn ra trong
một nền kinh tế có sự điều tiết của Nhà nước thông qua một số công cụ quản lý
như pháp luật, chính sách tài chính, thuế…
2.2 Căn cứ vào mức độ chi phối của doanh nghiệp đối với thị trường, có cạnh
tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo và độc quyền.
a) Cạnh tranh hoàn hảo: là hình thức cạnh tranh trong đó giá cả hàng hóa không
bị chi phối bởi yếu tố nào khác ngoài quy luật cung – cầu. Không một nhà kinh
doanh nào đủ lớn để có thể tác động đến giá cả trên thị trường.
b) Cạnh tranh không hoàn hảo: là hình thức cạnh tranh trong đó có một số nhà
kinh doanh đủ lớn có thể chi phối giá cả trên thị trường. Đây là sự manh nha của
hình thức độc quyền sau này.
c) Độc quyền: là một thuật ngữ để chỉ việc một doanh nghiệp nào đó duy nhất tồn
tại trên thị trường mà không có đối thủ cạnh tranh. Doanh nghiệp độc quyền có thể
6
độc quyền nguồn cung (độc quyền bán) hoặc độc quyền cầu (độc quyền mua) trên

khả năng gây thiệt hại cho thị trường hoặc cho chủ thể khác, giữa hành vi hạn chế
cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh có những khác biệt cơ bản,
theo đó, hành vi hạn chế cạnh tranh luôn hướng đến việc hình thành một sức mạnh
thị trường hoặc tận dụng sức mạnh thị trường để làm cho tình trạng cạnh tranh trên
thị trường bị biến dạng. Có hai nội dung cần phải xác định đối với hành vi hạn chế
cạnh tranh là:
Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi có thể là một doanh nghiệp hoặc một nhóm
doanh nghiệp, các doanh nghiệp này hoặc là đã có sức mạnh thị trường, hoặc
hướng đến việc hình thành nên sức mạnh thị trường bằng cách thỏa thuận hoặc tập
trung kinh tế;
Thứ hai, các hành vi được thực hiện nhằm mục tiêu làm biến dạng cạnh tranh, sự
biến dạng của cạnh tranh có thể là làm thay đổi cấu trúc thị trường, thay đổi tương
quan cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, loại bỏ đối thủ, ngăn cản đối thủ tiềm
năng để làm giảm đi sức ép cạnh tranh hiện có hoặc sẽ có, bóc lột khách hàng….
Thông thường, hành vi hạn chế cạnh tranh bao gồm ba dạng hành vi là thỏa thuận
hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền để hạn chế cạnh
tranh và tập trung kinh tế.
Như vậy, so với hành vi cạnh tranh không lành mạnh, thì các hành vi hạn chế cạnh
tranh có khả năng gây thiệt hại cao hơn. Đồng thời do sự xuất hiện của quyền lực
thị trường nên các biện pháp trừng phạt mang tính dân sự như bồi thường thiệt hai
hay cải chính công khai sẽ không thể phát huy hiệu quả một cách tối ưu. Vì lẽ đó,
công quyền thường không thể sử dụng cùng một loại biện pháp trừng phạt giống
nhau để áp dụng cho cả hai loại hành vi trên.
* Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh có tác động tích cực và tiêu cực :
- Tác động tích cực :
. Đáp ứng thị hiếu và nhu cầu người tiêu dùng ở mức cao nhất.
. Đảm bảo cho người tiêu dùng được thỏa mãn yêu cầu cao hơn, với giá cả rẻ nhất.
8
. Khuyến khích nhà kinh doanh tích cực áp dụng công nghệ mới nhằm giảm chi
phí, hạ giá thành, bán sản phẩm rẻ hơn.

Chương 2: HÀNH VI THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH
I. Hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
1.Khái niệm, đặc điểm của hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
1.1. Khái niệm hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Trong kinh tế học, hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh (Cartel) được nhìn nhận
là sự thống nhất hành động của nhiều doanh nghiệp nhằm giảm bớt hoặc loại bỏ
sức ép của cạnh tranh hoặc hạn chế khả năng hành động một cách độc lập giữa các
đối thủ cạnh tranh. Khoản 1 Điều 81 Hiệp ước Rome nghiêm cấm mọi thỏa thuận
giữa các doanh nghiệp, mọi quyết định của hiệp hội doanh nghiệp và mọi hành
động phối hợp có khả năng ảnh hưởng đến trao đổi thương mại giữa các quốc gia
thành viên và có mục đích hoặc hệ quả phản cạnh tranh. Luật Cạnh tranh Việt
Nam không đưa ra khái niệm mà sử dụng phương pháp liệt kê các thỏa thuận bị
coi là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bao gồm:
. Thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp
. Thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng
dịch vụ
. Thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán,
hàng hóa, dịch vụ
. Thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư
. Thỏa thuận áp đặt cho các doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua
bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ
không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng
10
. Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác tham gia thị
trường hoặc phát triển kinh doanh
. Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên
của thỏa thuận
. Thông đồng để một hoặc các bên của thỏa thuận thắng thầu trong việc cung cấp
hàng hóa, cung ứng dịch vụ
(1)

đối thủ cạnh tranh của nhau
Để xác định dấu hiệu này, phải chứng minh được những điểm sau đây:
- Các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận cùng trên thị trường liên quan;
- Các doanh nghiệp phải hoạt động độc lập với nhau, không phải là những người
liên quan của nhau theo pháp luật doanh nghiệp; không cùng trong một tập đoàn
kinh doanh, không cùng là thành viên của tổng công ty. Những hành động thống
nhất của tổng công ty, của một tập đoàn kinh tế hoặc của các công ty mẹ, con,
không được pháp luật cạnh tranh coi là thỏa thuận bởi thực chất các tập đoàn kinh
tế nói trên cho dù bao gồm nhiều thành viên cũng chỉ là một chủ thể thống nhất.
b). Hình thức của thỏa thuận là sự thống nhất cùng hành động giữa các doanh
nghiệp có thể công khai hoặc không công khai
Để xác định các hành động của một nhóm doanh nghiệp độc lập là thỏa thuận, cơ
quan có thẩm quyền phải có đủ bằng chứng kết luận rằng giữa họ đã tồn tại một
hợp đồng, bản ghi nhớ, các cuộc gặp mặt cho thấy đã có một thoả thuận công khai
hoặc ngầm đồng ý về giá, về hạn chế sản lượng, phân chia thị trường. Một khi
12
chưa có sự thống nhất cùng hành động giữa các doanh nghiệp tham gia thì chưa
thể kết luận có sự tồn tại của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.
Một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh phải được hình thành từ sự thống nhất ý chí
của
các doanh nghiệp tham gia về việc thực hiện một hành vi hạn chế cạnh tranh. Hình
thức pháp lý của sự thống nhất ý chí không ảnh hưởng đến việc định danh thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh. Do đó, chỉ cần hội đủ hai điều kiện là có sự thống nhất ý
chí và các doanh nghiệp đã cùng thống nhất thực hiện một hành vi hạn chế cạnh
tranh là có thể kết luận đã có thỏa thuận hạn chế cạnh tranh cho dù thỏa thuận đó
bằng băn bản hay lời nói, thỏa thuận công khai hay thỏa thuận ngầm. Một thỏa
thuận thậm chí không cần phải có hình thức pháp lý, ví dụ trong trường hợp các
doanh nghiệp thỏa thuận ngầm hoặc cùng hành động phối hợp đã không tồn tại
hình thức pháp lý nào. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bao gồm cả các quyết định
tập thể của các doanh nghiệp nên các quyết định của Hiệp hội ngành nghề, của các

doanh nghiệp tham gia vào việc ấn định giá không vi phạm Luật Cạnh tranh; các
doanh nghiệp trong cùng một tập đoàn hoặc có quan hệ kiểm soát lẫn nhau. quan
hệ trong nội bộ tập đoàn hoặc quyền kiểm soát của một doanh
nghiệp đối với các doanh nghiệp khác có thể làm cho các doanh nghiệp thành viên
hoặc các doanh nghiệp bị kiểm soát không thực sự độc lập về ý chí khi thực hiện
hành vi hạn chế cạnh tranh. Vì thế, pháp luật cạnh tranh của các nước đều ghi
nhận nguyên tắc “không thể có thỏa thuận phản cạnh tranh giữa hai doanh nghiệp
trong đó doanh nghiệp này kiểm soát doanh nghiệp kia hoặc giữa những doanh
nghiệp cùng đặt dưới sự kiểm soát chung của một doanh nghiệp thứ ba, hoặc giữa
các doanh nghiệp hợp thành một thực thể kinh tế”
(1)
. Tuy nhiên, nguyên tắc này
không được áp dụng một cách cứng nhắc mà cần có những phân tích và đánh giá
thực tế trong từng vụ việc cụ thể. Theo đó, trong những trường hợp trên, cơ quan
có thẩm quyền cần đánh giá tác động của các yếu tố tác động đến ý chí của các
doanh nghiệp. Nếu các doanh nghiệp tham gia không còn sự lựa chọn nào khác
14
ngoài việc phải thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh thì kết luận là họ không độc
lập về ý chí. Ngược lại, nếu có một văn bản luật hoặc dưới luật hoặc quan hệ kiểm
soát, quan hệ tập đoàn đã buộc các doanh nghiệp phải thực hiện một hành vi gây
ra hậu quả hạn chế cạnh tranh thì hành vi tập thể của các doanh nghiệp đó không
cấu thành nên thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.
Cơ quan có thẩm quyền dễ dàng tìm ra được những bằng chứng về thỏa thuận hạn
chế cạnh tranh đối với các thỏa thuận công khai, song tìm kiếm bằng chứng không
đơn giản đối với các thỏa thuận ngầm. Trong thực tế, để đối phó với pháp luật
cạnh tranh, các doanh nghiệp thường ngầm thiếp lập nên các thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh hoặc tẩu tán bằng chứng về thỏa thuận. Dấu hiệu đầu tiên đặt ra nghi
vấn về các thỏa thuận ngầm là các doanh nghiệp đã có sự phối hợp cùng thực hiện
một hành vi hạn chế cạnh tranh (hành động song song). Tuy nhiên, để kết luận
hành động phối hợp là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh còn cần thêm những bằng

sức mạnh chung trong quan hệ với khách hàng hoặc trong quan hệ cạnh tranh với
những doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận. Thế nên hậu qủa đầu của thỏa
thuận gây ra cho thị trường là xoá bỏ cạnh tranh giữa những doanh nghiệp tham
gia. Khi nội dung thỏa thuận được hình thành, tạo ra những tiêu chuẩn chung về
giá, về kỹ thuật, về công nghệ, về điều kiện giao kết hợp đồng… các doanh nghiệp
đang từ đối thủ cạnh tranh của nhau sẽ không còn cạnh tranh với nhau nữa. Bằng
sức mạnh chung (nếu sự liên kết tạo nên sức mạnh thị trường) và bằng việc thực
hiện hành vi hạn chế cạnh tranh, các doanh nghiệp tham gia có thể gây thiệt hại
cho khách hàng khi đặt ra các điều kiện giao dịch bất lợi cho họ hoặc gây thiệt hại
cho các doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận.
2.Thỏa thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp
Nếu một thị trường mà ở đó, người tiêu dùng có thể hưởng nhờ lợi ích từ cạnh
tranh thì chắc chắn sẽ tồn tại sự tranh đua hạ giá bán hoặc tăng cao giá mua giữa
các doanh nghiệp đối thủ cạnh tranh của nhau. Quyền lựa chọn của khách hàng
16
được tôn trọng sẽ sinh ra một cách tự nhiên cơ chế hình thành giá cạnh tranh của
hàng hoá và dịch vụ, các doanh nghiệp đua nhau mua chuộc khách hàng bằng
những mức giá hấp dẫn. Tính chất tự nhiên của cơ chế giá cạnh tranh đòi hỏi sự
trung thực và thái độ tích cực của các nhà kinh doanh khi đối diện với sức ép của
cạnh tranh trong đời sống thị trường. Sự giục giã của lợi nhuận cũng làm xuất hiện
những toan tính loại bỏ sức ép của cạnh tranh qua giá bằng cách liên kết các đối
thủ cạnh tranh với một chiến lược kinh doanh thống nhất.
Thỏa thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ là việc các doanh nghiệp thống nhất áp
dụng một mức giá hoặc một cách thức tính giá chung khi mua, bán hàng hóa, dịch
vụ với các khách hàng hoặc trao đổi thông tin về giá để tạo nên những phản ứng
thống nhất về giá hàng hóa, dịch vụ khi đàm phán với khách hàng. Khi phân tích
bản chất của thỏa thuận ấn định giá cần làm rõ những nội dung cơ bản sau đây:
2.1. Thỏa thuận ấn định giá có thể xảy ra ở giao dịch mua hoặc bán mà các doanh
nghiệp tham gia thỏa thuận sẽ giao kết trong tương lai với khách hàng
Thông thường, với các thỏa thuận về giá bán hàng hoá, dịch vụ, các doanh nghiệp

(1) Điều 14 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP.
Các thỏa thuận này không trực tiếp tạo nên mặt bằng chung về giá nhưng chúng
lại có tác dụng khuyến khích doanh nghiệp tham gia thực hiện việc định giá theo
những chuẩn mực định sẵn thay vì định giá một cách tự do và độc lập tùy theo
điều kiện riêng. Do đó, cho dù mức giá mua, bán của các doanh nghiệp không như
nhau, song hành vi định giá của từng doanh nghiệp không hoàn toàn diễn ra theo
các quy luật của thị trường cạnh tranh mà đã chịu sự chi phối bởi nội dung của
thỏa thuận.
Việc chứng minh được có sự tồn tại của một trong những thoả thuận nói trên giữa
các doanh nghiệp, cơ quan cạnh tranh sẽ khẳng định đã có thỏa thuận ấn định giá,
mà không cần phải chứng minh tính vô lý của mức giá được các bên ấn định. Cho
dù có nội dung là mức giá thống nhất hay một công thức tính giá chung thì kết quả
18
cuối cùng của thỏa thuận ấn định giá sẽ dẫn đế không còn sự cạnh tranh về giá
giữa các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận với nhau. Nếu thỏa thuận không bị
ngăn chặn, các doanh nghiệp sẽ cùng tăng giá hoặc ép giá đối với khách hàng
trong các giao dịch mua hoặc bán hàng hóa, dịch vụ.
Dưới góc độ lý thuyết, thỏa thuận ấn định giá sẽ gây thiệt hại cho khách hàng do
mức giá được ấn định trực tiếp hoặc gián tiếp đã loại bỏ sự cạnh tranh về giá giữa
các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận. Mặc dù không đòi hỏi mức giá được ấn
định mang bản chất của sự bóc lột, Luật Cạnh tranh chỉ cần xác định rằng, có tồn
tại của một thỏa thuận về giá là đủ để kết luận về sự vi phạm. Do đó, khi phân tích
về hậu quả của hành vi thỏa thuận ấn định giá cần làm rõ:
Một, tước đoạt cơ hội của khách hàng được lựa chọn các mức giá cạnh tranh hợp
lý trên thị trường;
Hai, làm giảm mức độ của cạnh tranh bằng cách xoá bỏ cạnh tranh về giá hàng
hoá, dịch vụ giữa các thành viên của thỏa thuận.
Trong thực tế của thị trường Việt Nam, đã từng tồn tại những ví dụ liên quan đến
những thoả thuận về giá như trường hợp thỏa thuận của các hãng taxi trong Hiệp
hội taxi vào năm 2000, 2001; hoặc vụ việc các doanh nghiệp bảo hiểm thỏa thuận

dịch vụ (gọi tắt là thỏa thuận phân chia thị trường)
(1)
Thứ nhất, thỏa thuận phân chia thị trường theo lãnh thổ là việc các doanh nghiệp
phân chia thị trường địa lý liên quan thành các khu vực và giao cho từng doanh
nghiệp tham gia được quyền mua, bán hàng hóa dịch vụ trong một, một số khu
vực nhất định. Thỏa thuận này được pháp luật của các nước coi là loại thỏa thuận
kinh điển nhất trong những thỏa thuận phân chia thị trường.
Thứ hai, thỏa thuận phân chia thị trường mang tính định lượng là việc các doanh
nghiệp thống nhất phân bổ lượng hàng hóa,mua bán trên thị trường cho từng
doanh nghiệp tham gia. Trong trường hợp này, thị trường được phân chia theo
lượng cung, cầu mà không phải theo khu vực địa lý hoặc theo nhóm khách hàng.
Để thực hiện được thỏa thuận này, các doanh nghiệp phải dự liệu được tổng lượng
20
hàng hóa, dịch vụ được mua, bán trên thị trường liên quan và phân chia thành
những phần khối lượng, số lượng mà từng doanh nghiệp được quyền mua, bán.
Thứ ba, thỏa thuận phân chia thị trường theo nhóm khách hàng là việc các doanh
nghiệp thống nhất cho từng doanh nghiệp tham gia được quyền mua, bán hàng hóa
với một số nhóm khách hàng nhất định. Với thỏa thuận này, các doanh nghiệp
phải phân chia khách hàng thành từng nhóm theo những tiêu chí nhất định. các
tiêu chí phân nhóm khách hàng rất đa dạng, có thể phân chia theo thu nhập, theo
độ tưổi, theo giới tính, theo đặc điểm về nhu cầu tiêu dùng…. Từ đó, mỗi doanh
nghiệp tham gia được phân công phụ trách mua hoặc bán sản phẩm với một nhóm
khách hàng.
4.Thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán
hàng hoá, dịch vụ
(2)
Thứ nhất, thỏa thuận hạn chế số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán hàng hoá,
dịch vụ là việc thống nhất cắt giảm số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán hàng
hoá, cung ứng dịch vụ so với trước đó.
(1) Điều 15 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP

(2) Điều 16 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP
5.Thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật công nghệ, hạn chế đầu tư
Thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ là việc thống nhất mua phát
minh, sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghệ để tiêu hủy hoặc không sử
dụng. Thỏa thuận hạn chế đầu tư là việc thống nhất không đưa thêm vốn để mở
rộng sản xuất, cải tiến chất lượng hàng hoá, dịch vụ hoặc để nghiên cứu phát triển
khác.
6. Thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua,
bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ
không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng
(1)
Thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán
hàng hoá, dịch vụ là việc các doanh nghiệp thống nhất đặt ra một hoặc một số
điều kiện tiên quyết buộc khách hàng phải chấp nhận trước khi ký kết hợp đồng
22
mua bán hàng hóa dịch vụ với họ.Trong cấu thành pháp lý của thỏa thuận này, có
một số vấn đề cần lưu ý như sau:
Thứ nhất, Khoản 5 Điều 8 Luật Cạnh tranh chỉ áp dụng đối với các hợp đồng mua
bán giữa doanh nghiệp tham gia thỏa thuận với khách hàng là các doanh nghiệp
khác. Thế nên, việc các doanh nghiệp đặt ra các điều kiện ký kết hợp đồng mua
bán hàng hóa, dịch vụ với các tổ chức, cá nhân là người tiêu dùng sẽ không thuộc
phạm vi điều chỉnh của quy định này.
Thứ hai, các điều kiện mà thỏa thuận đặt ra phải là những điều kiện có nội dung
phản cạnh tranh. Như vậy, pháp luật cạnh tranh không cấm các doanh nghiệp thỏa
thuận hoặc đơn phương đặt ra các điều kiện buộc khách hàng phải chấp nhận khi
ký kết hợp đồng nếu điều kiện đó không phản cạnh tranh. Trong thực tế, các
doanh nghiệp thường sử dụng các tiêu chuẩn về năng lực tài chính, về kinh
nghiệm, … làm căn cứ để chọn lọc khách hàng, đảm bảo cho các hợp đồng mua
bán được ký kết và thực hiện hiệu quả. Trong trường hợp này, việc áp đặt điều
kiện với khách hàng không nhằm mục đích và không gây ra hậu quả hạn chế cạnh

đồng mua bán kèm. Hợp đồng mua bán kèm luôn là những hợp đồng gây bất lợi
cho khách hàng. Các doanh nghiệp cũng chỉ có thể buộc khách hàng ký kết hợp
đồng mua, bán kèm khi có được quyền lực thị trường. Những bất lợi mà khách
hàng phải gánh chịu cho thấy môi trường và hiệu quả của cạnh tranh đã bị sai lệch
và suy giảm nghiêm trọng. Bằng thỏa thuận, các doanh nghiệp đã tạo nên khả
năng chi phối thị trường và lợi dụng khả năng đó để bóc lột khách hàng.
7. Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị
trường hoặc phát triển kinh doanh
(1)
Khoản 6 Điều 8 Luật Cạnh tranh và Điều 19 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP quy
định hai loại thỏa thuận sau:
Thứ nhất: Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia
thị trường là việc thống nhất thực hiện những hành vi nhằm tạo nên các rào cản
24
ngăn trở việc gia nhập thị trường bằng cách gây khó khăn cho hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp khác, làm giảm tính hấp dẫn của thị trường
Thứ hai: Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác phát triển
kinh doanh là việc thống nhất thực hiện những hành vi nhằm gây khó khăn cho
hoạt động kinh doanh hoặc cho việc tiêu thụ sản phẩm hoặc cản trở việc mở rộng
quy mô của các doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận
8.Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các
bên của thỏa thuận
(2)
Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của
thỏa thuận là việc thống nhất thực hiện những hành vi nhằm gây khó khăn cho
hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận để buộc
các doanh nghiệp này phải rời khỏi thị trường liên quan.
Căn cứ Điều 19 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP, cấu thành pháp lý của thỏa thuận
này.
(1)Điều 19 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status