Luận văn: Phân
tích nội dung cơ
bản của các
chuẩn mực kế
toán quốc tế đang
được ban hành
MỤC LỤC
Luận văn: Phân ch nội dung cơ bản của các chuẩn mực kế toán quốc tế đang được ban hành 1
MỤC LỤC 2
Với xu hướng toàn cầu hoá hiện nay, hàng loạt các nhân tố quốc tế nảy sinh tác
động tới sự thay đổi kế toán, đó là: Sự độc lập về kinh tế, chính trị, đầu tư nước ngoài
trực tiếp; các chiến lược kinh doanh đa quốc gia; công nghệ mới; sự phát triển của thị
trường tài chính quốc tế; sự mở rộng các dịch vụ tài chính và kinh doanh quốc
tế Nhân tố thúc đẩy sự thay đổi về kế toán nảy sinh từ sự lớn mạnh độc lập quốc tế và
từ sự hài hoà các quy tắc của các mối quan hệ kinh tế, tài chính quốc tế. Kế toán được
coi là một công cụ trợ giúp trong việc phản ánh quản lý trên góc độ tài chính các hoạt
động kinh tế. Sự phát triển của kế toán ở các nước thường diễn ra khác nhau về quy
định và thực hành kế toán.
Để quản lý có hiệu quả 1 DN hay 1 công ty, các nhà quản lý phải nắm vững
khâu kế toán. Nhờ những số liệu kế toán, họ có thể thấy rõ thực chất của quá trình hoạt
động SXKD đang diễn ra và từ đó đề ra những quyết định đúng đắn.
Phản ứng lại 1 số cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 1998, 1 số tổ chức
quốc tế trong đó có cả Ngân hàng thế giới và quỹ tiền tệ quốc tế đã đưa ra sáng kiến
cộng tác nhằm củng cố cơ cấu tài chính toàn cầu. Mặc dù các chuẩn mực kế toán quốc
tế (IASs) đã tồn tại trong nhiều năm, sáng kiến này đã làm tăng thêm tầm quan trọng
cho các chuẩn mực. Cụ thể là các chuẩn mực làm tăng thêm tính minh bạch trong
BCTC và nâng cao tính hòa hợp của các chuẩn mực để hỗ trợ cho các thị trường tài
chính ngày càng được toàn cầu hóa.
NHTG đã sử dụng các IASs làm cơ sở cho việc trình bày các BCTC của khách
hàng sử dụng các khoản vay và tín dụng của NHTG. Trong năm vừa qua, các chuẩn
mực kế toán Quốc tế đã nhận được thêm sự hỗ trợ của Tổ chức các ủy ban chứng
Mỗi quốc gia, tùy theo tình hình phát triển kinh tế của mỗi nước, sẽ có những
nguyên tắc kế toán của nước mình, có tên tiếng Anh là Generally Accepted
Accounting Principles, gọi tắt là GAAP
1.2. Vì sao phải có chuẩn mực kế tóan
Có tuân thủ các chuẩn mực kế toán thì người lập (preparer) và người sử dụng
(user) BCTC mới hiểu được các thông tin phản ánh trên báo cáo. Chuẩn mức kế toán
là nền tảng để thực hiện chức năng của kế toán tài chính (financial accounting) là báo
cáo tình hình tài chính (financial reporting). Và phương tiện quan trọng dùng để báo
cáo tình hình tài chính chính là các BCTC (Financial statements)
Như vậy, không có chuẩn mực kế toán thì các mục tiêu của BCTC dưới đây sẽ
không đạt được:
+ Cung cấp thông tin hữu ích để làm quyết định về đầu tư và tín dụng
+ Cung cấp thông tin hữu ích để đánh giá luồng tiền tương lai
+ Cung cấp thông tin về tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp, gọi chung là tình hình
tài chính (financial position) của doanh nghiệp
Nói cách khác, nhờ có chuẩn mực kế toán các thông tin trình bày trên BCTC trở
nên thiết thực (relevant), tin cậy được (reliable) và có thể so sánh được (comparable)
+ Thông tin có thiết thực thì người sử dụng mới có thể đưa ra quyết định
+ Thông tin có tin cậy thì người đọc mới thấy an tâm
+ Thông tin có so sánh được thì người sử dụng mới có thể lựa chọn
Hệ thống kế toán và chuẩn mực quốc tế về kế toán (IASs/IFRSs) được soạn
thảo bởi Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB). Nó được soạn thảo và công bố
theo những quy trình rất chặt chẽ để đảm bảo chất lượng của các chuẩn mực và đảm
bảo tính thực hành cao. IASs/IFRSs được sử dụng rộng rãi ở khắp thế giới như châu
Âu, Singapore, Hồng Kông, Úc và nhiều quốc gia trên thế giới. Rất nhiều quốc gia
khác của châu Á và trên thế giới đang điều chỉnh các chuẩn mực của mình để phù hợp
hơn với IFRS và giảm thiểu sự khác nhau nếu có.
Hệ thống kế toán quốc tế (IAS) không có sự bắt buộc mang tính hình thức (như
biểu mẫu báo cáo thống nhất, hệ thống tài khoản kế toán thống nhất, hình thức sổ kế
toán, mẫu các chứng từ gốc thống nhất). IAS mặc dù đưa ra rất chi tiết các định nghĩa,
làm các nhu cầu về quốc tế hoá cong tác kế toán và kiểm toán. Những thay đổi này
được tìm thấy chủ yếu trong tiến trình phát triển của các công ty đa quốc gia và gần
đây là thị trường vốn quốc tế. Điều này làm nảy sinh một loạt những vấn đề có tính
chất nghề nghiệp.
Các công ty đa quốc gia phát triển nhanh chóng trong vòng 25 năm qua. Các
công ty này đóng vai trò chủ đạo trong nhiều phân đoạn thị trường, ảnh hưởng tới hầu
hết các quốc gia, mỗi chính phủ và cá nhân. Về khía cạnh kế toán, sự phức tạp trong
việc điều hành các họat động kinh doanh quốc tế vượt qua biên giới một quốc gia;
cùng với sự khác nhau về các nguyên tắc kinh doanh, thường khác nhau về các
phương pháp kế toán, làm nảy sinh những thách thức cho các nhà kế toán và chuyên
gia hoạch định các nguyên tắc kế toán và kiểm toán. Mốt số những phức tạp chủ yếu
mà các kế toán đang đối mặt chính là do bản chất của các công ty đa quốc gia khổng lồ
này. Sự đa dạng trong các nguyên tắc kế toán, kiểm toán và thuế có thể ảnh hưởng tới
khả năng của các công ty trong việc chuẩn bị các thông tin báo cáo tài chính cần thiết
cho việc phân tích một cách cẩn thận các cơ hội đầu tư. Các công ty càng hoạt động ở
nhiều nước khác nhau thì sự phức tạp đó càng gia tăng.
Sự khác nhau trong cách thức tiếp cận về kế toán và các BCTC ở một số nước
được nhấn mạnh ở đây. Chẳng hạn, nhiều công ty của Mỹ phàn nàn về khó khăn trong
cạnh tranh chỉ do nguyên tắc kế toán của Mỹ đối với lợi thế thương mại. Các công ty
tuân thủ theo chuẩn mực kế toán của hầu hết các nước Châu Âu, kể cả Anh không cần
phải khấu hao lợi thế thương mại vì chúng đã được tính vào vốn chủ sở hữu tại thời
điểm phát sinh nghiệp vụ. Hoặc các vấn đề kế toán và BCTC có tính quốc tế khác như
những điều chỉnh về kế toán lạm phát, kế toán chênh lệch thuế, chuyển đổi các BCTC
của các công ty con ở nước ngoài cũng tạo ra những khó khăn cho một số công ty.
Tất cả sự khác biệt này đòi hỏi những người thiết lập chuẩn mực phải tích cực hơn để
đạt được một “Sân chơi đạt tiêu chuẩn”.
Mặt khác, những nhu cầu về vốn được cung cấp hầu hết từ các nguồn lực trong
nước, đặc biệt là trong thời đại trước Chiến tranh thế giới thứ II. Hiện nay, sự phát
triển của đồng tiền chung Châu Âu, đôla Châu Âu và các thị trường vốn đôla Châu Á
ở các nền kinh tế phát triển như Mỹ, Anh, Nhật và phần lớn Châu Âu; toàn cầu hoá thị
hành kế toán của các quốc gia, khu vực, kể cả những cách thức kế toán khác nhau. Uỷ
ban điều hành nghiên cứu những vấn đề liên quan và có thể đi đến đề xuất của một bản
dự thảo những điểm chính cho Hội đồng của Uỷ ban chuẩn mực kế toán quốc tế xem xét.
- Sau khi nhận được những đóng góp từ Hội đồng về bản dự thảo những điểm
chính, có thể Uỷ ban điều hành chuẩn bị lập và ban hành một bản cáo nháp về các
nguyên tắc hoặc vấn đề thảo luận khác. Mục đích của báo cáo nháp này là đưa ra được
những nguyên tắc kế toán cần nhấn mạnh làm cơ sở cho việc chuẩn bị lập dự thảo láy
ý kiến công luận. Bản báo cáo nháp này cũng đưa ra những giải pháp lựa chọn được
xem xét và những lý do cho việc đề xuất chấp nhận hay bãi bỏ chúng. Những đề xuất
được thu nhận từ các thành phần liên quan trong giai đoạn trưng cầu ý kiến công luận
với thời gian 3 tháng. Mặt khác đề sửa lại một chuẩn mực kế toán quốc tế có thể yêu
cầu uỷ ban điều hành lập một bản dự thảo trưng cầu mà không cần phải lập bản báo
cáo nháp về các nguyên tắc.
- Uỷ ban điều hành tóm tắt những ý kiến về bản báo cáo nháp về các nguyên tắc
và thường đồng ý một bản báo cáo cuối cùng về các nguyên tắc được trình cho Hội
đồng thông qua và được sử dụng làm cơ sở cho việc lập một bản dự thảo trưng cầu ý
kiến cho việc thông qua một chuẩn mực kế toán quốc tế. Bản báo cáo cuối cùng về các
nguyên tắc được phát hành theo yêu cầu và không được phát hành rộng rãi.
- Uỷ ban điều hành lập một bản dự thảo trưng cầu để thông qua Hội đồng. Sau
khi sửa và được thông qua của ít nhất 2/3 thành viên Hội đồng thì bản dự thảo trưng
cầu mới dược phát hành. Các ý kiến đề xuất được đưa ra từ các bên có liên quan trong
thời gian lấy ý kiến trưng cầu, ít nhất là một tháng và thường là 3 tháng.
- Uỷ ban điều hành tóm tắt những ý kiến và lập một bản dự thảo chuẩn mực kế
toán quốc tế do Hội đồng tóm tắt. Sau khi sửa và được thông qua của ít nhất 3/4 thành
viên Hội đồng, nghĩa là phải thu được 12 phiếu thuận trong tổng số 16 thành viên cho
một chuẩn mực kế toán quốc tế thì chuẩn mực đó mới được công bố rộng rãi. Hội
đồng thường họp 3 lần/năm và có thể tổ chức phiên họp thứ 4 để đi dến thoả thuận về
mỗi chuẩn mực. Thông thường mỗi chuẩn mực kế toán quốc tế có thể được hoàn thiện
trong vòng 2 năm.
PHẦN II: NỘI DUNG CÁC CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ
IAS32: Các công cụ tài chính công bố và trình bày
IAS33: Thu nhập trên 1cổ phiếu
IAS34: Báo cáo tài chính tạm thời
IAS35: Họat động bị ngừng
IAS36: Giảm giá trị tài sản
IAS37: Các khoản dự phòng, nợ bất thường và tài sản bất thường
IAS38: Tài sản vô hình
IAS40: Tài sản đầu tư
Bên cạnh đó cũng có 1số chuẩn mực kế toán đã được thay thế bởi những chuẩn
mực khác như:
IAS3: Không còn hiệu lực thay bởi chuẩn mực 27,28
IAS4: Không còn hiệu lực thay bởi chuẩn mực 16,22,38
IAS5: Không còn hiệu lực thay bởi chuẩn mực 1
IAS6: Không còn hiệu lực thay bởi chuẩn mực 15
IAS9: Không còn hiệu lực thay bởi chuẩn mực 38
IAS13: Không còn hiệu lực thay bởi chuẩn mực 1
2.2. Nội dung các chuẩn mực kế toán quốc tế
IAS 1: TRÌNH BÀY CÁC BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1. Vấn đề đặt ra:
Mục đích của chuẩn mực này là để quy định cho việc trình bày các báo cáo tài
chính phục vụ mục đích chung để đảm bảo tính so sánh. Chuẩn mực này đưa ra:
- Những yêu cầu chung về việc trình bày.
- Hướng dẫn về mặt cấu trúc.
- Những nội dung tối thiểu cần có.
- Hướng dẫn tuân thủ IAS.
- Hướng dẫn không áp dụng IAS.
2. Phạm vi áp dụng:
Chuẩn mực này được sử dụng để trình bày tất cả các BCTC phục vụ mục đích
chung, được lập và trình bày theo IAS và không được xây dựng để đáp ứng nhu cầu
thông tin cụ thể của người sử dụng. SIC – 2 hướng dẫn cho việc áp dụng lần đầu các
niệm tiếp tục hoạt động cũng cần được nêu rõ.
- Cơ sở dồn tích: Sử dụng cơ sở dồn tích để trình bày ngoại trừ Báo cáo lưu chuyển
tiền tệ.
- Tính nhất quán trong trình bày: Việc trình bày và phân loại các chuẩn mực phải được
duy trì giữa các ký báo cáo, trừ trường hợp việc thay đổi giúp cho trình bày được hợp
lý hơn hoặc do yêu cầu của IAS.
- Tính trọng yếu và tập hợp: Các khonả không chủ yếu có cùng bản chất không được
bù trừ nhau, trừ trường hợp được IAS cho phép. Tuy nhiên, những khoản tăng, giatm
không đáng kể và chi phí liên quan phát sinh từ những giao dịch hoặc sự kiên tương tự
nhau thì có thể được bù trừ cho nhau.
- Thông tin so sánh: theo những nội dung sau:
+ Thông tin số liệu của kỳ trước phải được công bố.
+ Đưa vào các thông tin mô tả và diễn giải liên quan.
+ Phân loại các thông tin so sánh khi việc phân loại các khoản mục được sửa đổi, tức
là phải công bố bản chất, số lượng và lý do.
4. Nội dung:
4.1. Xác định và kỳ báo cáo:
- Các BCTC cần phải được phân biệt với các thông tin khác.
- Từng bộ phận cấu thành phải được xác định rõ.
- Chủ yếu phải trình bày :
+ Tên của doanh nghiệp báo cáo.
+ Báo cáo của doanh nghiệp hay cuta tập đoàn.
+ Ngày báo cáo và kỳ báo cáo.
+ Đơn vị tiền tệ theo báo cáo.
+ Mức độ chính xác.
- Tối thiểu phải có báo cáo năm.
- Các báo cáo phải được đưa ra đúng thời hạn (trong vòng 6 tháng kể từ ngày báo cáo).
4.2. Bảng tổng kết tài sản: cung cấp thông tin về tình trạng tài chính.
Phân biệt lưu động và dài hạn
- Doanh nghiệp có thể lựa chọn cách phân loại này cho tài sản có và tài sản nợ.
Tài sản thuế
Các khoản nợ dài hạn
phải trả lãi
Hàng tồn kho Vốn đã phát hành
Các khoản đầu tư dự
tính theo phương pháp
vốn chủ sở hữu
Các khoản phải trả
thương mại và các
khoản khác
Các khoản phải thu
thương mại và phải thu
khác
Các thông tin khác trên bảng tổng kết hoặc trong thuyết minh.
4.3. Báo cáo thu nhập: cung cấp thông tin về kết quả hoạt động
4.4. Thay đổi trong báo cáo vốn chủ sở hữu: phản ánh thông tin về việc tăng/ giảm tài
sản thuần.
4.4. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
4.5. Chế độ kế toán thuyết minh: cung cấp những thông tin sau:
- Cơ sở lập và các chế độ kế toán được lựa chọn.
- Thông tin theo yêu cầu IAS nhưng không được trình bày trong BCTC.
- Các thông tin khác giúp yêu cầu việc trình bày trung thực
IAS 2: HÀNG TỒN KHO
1.Vấn đề đặt ra:
Cách hạch toán hàng tồn kho theo hệ thống chi phí ban đầu đã được quy định.
Vấn đề cơ bản là tính toán chi phí hàng tồn kho được ghi nhận là tài sản và được vào
kết chuyển cho tới khi các khoản doanh thu tương ứng được thực hiện theo khái niệm
đối chiếu.
2. Phạm vi áp dụng:
Chuẩn mực này quy định cho tất cả hàng tồn kho là tài sản, gồm: Giữ để bán
3.6. Giá trị ròng có thể thực hiện(NRV) là giá bán dự tính trừu đi các chi phí dự tính
để hoàn tất và chi phí bán hàng. Những ước tính này phải được dựa trên bằng chứng
đáng tin cậy nhất vào thời điểm đưa ra ước tính. Mục đích giữ hàng tồn kho phải được
tính đến khi đưa ra ước tính. Hàng tồn kho thường được điều chỉnh giảm xuống bằng
giá trị ròng có thể thực hiện theo các nguyên tắc sau:
- Theo từng khoản mục.
- Các khoản mục tương tự nhay thường được nhóm lại.
- Từng dịch vụ được hạch toán như một khoản mục riêng biệt.
3.7. Những khoản mục sau đây được ghi nhận là chi phí trong báo cáo thu nhập:
- Chi phí hàng tồn kho đã được bán ra.
- Điều chỉnh giảm xuống giá trị ròng có thể thực hiện.
- Mất mát hàng trong kho.
- Hao phí bất thường.
- Chi phí sản xuất chung không được phân bổ.
4. Công bố:
Những nội dung sau phải được công bố trong các BCTC:
- Chế độ kế toán, bao gồm cả công thức tính chi phí được sử dụng.
- Tổng số kết chuyển của hàng tồn kho và số lượng của từng loại.
- Tổng số hàng tồn kho được kết chuyển theo giá trị ròng có thể thực hiện.
- Tổng số thực hiện bút toán đảo điều chỉnh giảm.
- Hàng tồn kho đem thế chấp đảm bảo cho các khoản nợ.
- Số kết chuyển của khoản điều chỉnh giảm xuống bằng giá trị thực hiện ròng nếu
khoản này có số lượng lớn có ảnh hưởng hoặc tính chất quan trọng.
- Chi phí hàng tồn kho được ghi nhận là chi phí hoặc chi phí hoạt động, áp dụng cho
doanh thu, được ghi nhận là chi phí, được phân loại theo bản chất.
- Khi sử dụng LIFO, trình bày sự khác biệt giữa số trên bảng tổng kết tài sản hoặc số
thấp hơn giữa chi ohí tinh theo FIFO hoặc bình quân gia quyền và giá trị có thể thực
hiện ròng, hoặc số thấp hơn giữa chi phí hiện hành vào cuối năm và giá trị có thể thực
hiện ròng.
IAS 07: BÁO CÁO LƯU CHUYỂN TIỀN TỆ
- Dòng tiền từ các hoạt động đầu tư được ghi như sau:
+ Các khoản thu gộp và các khoản thanh toán gộp bằng tiền mặt được báo cáo tách
biệt theo các hạng mụng lớn.
+ Tổng dòng tiền thu được qua việc mua bán của các công ty con và các đơn vị kinh
doanh khác được phân loại là các khoản đầu tư.
- Dòng tiền từ hoạt động tài chính được báo cáo bằng cách liệt kê riêng các khoản thu
và thanh toán gộp bằng tiền chủ yếu.
-Những dòng tiền sau đây phải được báo cáo theo số ròng: Dòng tiền thuộc khách
hàng và các khoản quay vòng nhanh, số lượng lớn và thời gian ngắn (ví dụ mua bán
các khoản đầu tư).
- Những dòng tiền dưới đây của một tổ chức tài chính có thể được báo cáo theo số
ròng: Dòng tiền thuộc khách hàng và các khoản quay vòng nhanh, khối lượng lớn và
thời hạn ngắn.
4. Công bố:
- Trình bày tổng hợp đối với cả việc mua và bán của một công ty con hoặc đơn vị kinh
doanh:
+ Tổng số các khoản thanh toán tiền mua hoặc bán.
+ Các khoản thanh toán mua hoặc bán trả bằng tiền mặt hoặc các tài sản tương đương.
+Số tiền mặt hoặc tài sản tương đương trong đơn vị được mua hoặc bán.
- Tiền mặt và các tài sản tương đương trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ và cân đối với
các khoản tương đương trong bảng tổng kết tài sản.
- Số tiền mặt và tài sản tương đương không dành cho tập đoàn sử dụng.
- Số đi vay chưa rút được dành cho hoạt động kinh doanh tương lai và để thanh toán
các khoản cam kết về vốn (chỉ rõ bất kỳ hạn chế nào).
- Tổng số dòng tiền từ từng loại trong số ba loại hoạt động liên quan tới quyền lợi
trong các liên doanh.
- Số lượng tiền mặt phát sinh từ một trong số ba loại hoạt động liên quan tới từng bộ
phận kinh doanh hoặc bộ phận phân chia theo khu vực địa lý được báo cáo.
- Phân biệt giữa những dòng tiền thể hiện tăng công suất hoạt động và những khoản
thể hiện việc duy trỳ khả năng này.
báo cáo tài chính được phép ban hành.
3.Hạch toán kế toán:
- Có thể phân biệt hai loại sự kiện:Điều chỉnh những sự kiện cung cấp bằng chứng bổ
sung về những điều kiện hiện hữu tại thời điểm lập bảng tổng kết tài sản (nguồn gốc
của sự kiện nằm trong kỳ báo cáo hiện tại).Những sự kiện không điều chỉnh chỉ báo
những điều kiện phát sinh sau ngày lập bảng tổng kết tài sản.
- Quy trình cho phép công bố các báo cáo tài chính phụ thuộc vào loại hình doanh
nghiệp và cơ cấu quản lý của doanh nghiệp. Ngày cho phép công bố thường là ngày
các báo cáo tài chính được phép công bố ra ngoài doanh nghiệp.
- Các khoản được ghi nhận trong các báo cáo tài chính của một doanh nghiệp được
điều chỉnh theo những sự kiện xảy ra sau ngày lập bảng tổng kết tài sản, cung cấp
thông tin bổ sung về những điều kiện hiện hữu tại ngày lập bảng tổng kết tài sản, và vì
vậy cho phép những khoản này được ước tính chính xác hơn (ví dụ, có thể yêu cầu
điều chỉnh đối với một khoản lỗ, thừa nhận nằm trong khoản nợ thương mại, được xác
nhận qua việc phá sản của khách hàng sau ngày lập bảng tổng kết tài sản).
- Nếu các sự kiện xảy ra sau ngày lập bảng tổng kết tài sản và không ảnh hưởng tới
tình trạng tài sản có và tài sản nợ vào ngày lập bảng tổng kết tài sản thì không phải
điều chỉnh.Tuy nhiên, những sự kiện này sẽ phải được công bố nếu chúng quan trọng
tới mức nếu không công bố thì sẽ ảnh hưởng tới quyết định của người sử dụng báo cáo
tài chính (ví dụ nếu một trận động đất phá hủy một phần chủ yếu trong xưởng sản xuất
của doanh nghiệp sau ngày lập bảng tổng kết tài sản).
- Cổ tức công bố phải nằm trong kỳ tương ứng của báo cáo tài chính những khoản
được đề xuất hoặc công bố sau ngày lập bảng tổng kết tài sản nhưng trước khi các báo
cáo tài chính được chấp thuận sẽ không được ghi nhận là một khoản nợ vào ngày lập
bảng tổng kết tài sản. Doanh nghiệp có thể công bố theo yêu cầu những khoản cổ tức
này hoặc là trên báo cáo tài chính như một thành phần riêng của vốn chủ sở hữu hoặc
là trong phần thuyết minh báo cáo tài chính.
- Doanh nghiệp không được lập báo cáo tài chính trên cơ sở tiếp tục hoạt động nếu sau
ngày lập bảng tổng kết tài sản, ban quản lý quyết định là có dự định thanh lý doanh
nghiệp hoặc ngừng giao dịch, hoặc là doanh nghiệp không có sự lựa chọn thực tế nào
- Phân loại hai loại hợp đồng là:
+ Hợp đồng theo giá cố định thường là những hợp đồng có giá cố định có tính đến các
điều khoản tăng giá.
+ Các hợp đồng cộng thêm chi phí-chi phí hợp đồng cộng thêm phần trăm của những
chi phí này hoặc một mức phí cố định.
- Các nguyên tắc IAS thường được áp dụng riêng cho từng hợp đồng và được thỏa
thuận chi tiết cho việc xây dựng:
Một tài sản (ví dụ một cây cầu), hoặc một tổ hợp tài sản có liên quan chặt chẽ với nhau
hoặc độc lập về thiết kế, công nghệ và chức năng sử dụng (ví dụ các xưởng sản xuất
chuyên dụng). Một nhóm các hợp đồng có thể được xem như một hợp đồng xây dựng
duy nhất nếu được đàm phán trọn gói làm một.
- Những hợp đồng sau đây được xem như là những hợp đồng xây dựng riêng biệt:
+ Hợp đồng cho một số tài sản nếu có yêu cầu riêng đưa ra cho từng tài sản.
+ Một tài sản bổ sung được xây dựng theo lựa chọn của khách hàngvà không phải là
một phần của hợp đồng ban đầu.
- Doanh thu hợp đồng bao gồm:
+ Tổng giá trị thỏa thuận theo hợp đồng ban đầu.
+ Những khoản chênh lệch, đòi bồi thường, tiền thưởng khuyến khích ở mức giới hạn:
+ Những khoản này có khả năng thực hiện, và
+ Những khoản này có thể tính toán được một cách đáng tin cậy.
- Chi phí hợp đồng bao gồm:
Chi phí hợp đồng trực tiếp (ví dụ nguyên vật liệu)
Chi phí hợp đồng chung (ví dụ bảo hiểm)
Chi phí mà khách hàng phải trả riêng theo các điều khoản hợp đồng (ví dụ chi phí
hành chính)
- Nếu kết quả của một hợp đồng xây dựng có thể dự tính được một cách đáng tin cậy,
thì doanh thu và chi phí (lợi nhuận) phải được ghi nhận theo giai đoạn hoàn thành
(phương pháp phần trăm hoàn thành). Phương pháp để quyết định giai đoạn hoàn
thành gồm:
Phần chi phí phát sinh so với tổng chi phí ước tính.
Thu hồi (thanh toán) trong tương lai giá trị kết chuyển của các tài sản có (nợ) trong
bảng tổng kết tài sản.
Các giao dịch và các sự kiện khác trong kỳ hiện tại được ghi nhận trong báo cáo tài
chính của doanh nghiệp.
2. Phạm vi áp dụng:
Chuẩn mực này quy định cho tất cả các loại thuế thu nhập bao gồm cả thuế thu
nhập trong nước, ngoài nước và chuyển ra nước ngoài cũng như thuế thu nhập sau khi
trả cổ tức.
3. Hạch toán kế toán:
- Thuế phải trả trong kỳ là khoản thuế thu nhập phải trả hoặc có thể thu hồi cho kỳ
hiện tại.
- Thuế trả chậm là khoản thuế thu nhập phải trả hoặc có thể thu hồi trong các kỳ
tương lai đối với:
+ Phần chênh lệch tạm thời.
+ Tính trước các khoản lỗ thuế chưa thực hiện hết.
+ Tính trước các khoản khấu trừ thuế chưa thực hiện hết.
- Khoản chênh lệch tạm thời là những khoản chênh lệch giữa cơ sở tính thuế cho một
khoản mục và giá trị kết chuyển của khoản mục đó, đó là:
+ Các khoản chênh lệch tạm thời chịu thuế dẫn tới có các khoản chịu thuế trong các kỳ
tương lai, hoặc
+ Các khoản chênh lệch tạm thời được khấu trừ dẫn tới có các khoản có thể được giảm
thuế thu nhập phải trả trong các kỳ tương lai.
- Cơ sở tính thuế cho một khoản mục là con số các cơ quan thuế gán cho khoản mục
đó để tính thuế.
- Số dư thuế phải trả trong kỳ được ghi nhận như sau:
+ Tăng nợ (tài sản) cho khoản thuế hiện hành chưa trả trong kỳ (trả thừa).
+ Lợi ích của việc giảm thuế do phát sinh lỗ tính trước được ghi nhận như một tài sản.
- Nghĩa vụ thuế trả chậm được ghi nhận cho tất cả các khoản chênh lệch tạm thời chịu
thuế trừ khi nghĩa vụ này phát sinh từ:
Giá trị lợi thế không giảm trừ giá trị hao mòn để tính thuế, hoặc