LUẬN VĂN:
Phân tích nội dung quy luật thống nhất và
đấu tranh của các mặt đối lập và vận dụng
quy luật đó vào trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Phần mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (hay gọi là quy luật mâu
thuẫn) là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật và biện chứng
duy vật lịch sử khẳng định rằng: mọi sự vật và hiện tượng trong tự nhiên đều tồn tại
và mâu thuẫn bên trong. Mâu thuẫn tồn tại khách quan trong mọi sự vật của giới tự
nhiên, đời sống xã hội và tư duy con người. Mâu thuẫn tồn tại từ khi sự vật xuất hiện
đến khi sự vật kết thúc.Trong mỗi một sự vật có rất nhiều mâu thuẫn và sự vật trong
cùng một lúc có rất nhiều mặt đối lập.Mâu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn khác lại
được hình thành…
Trong sự nghiệp đổi mới của nước ta do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã đạt
được những thành tưụ bước đầu mang tính quyết định, quan trọng trong việc chuyển
Mục đích của đề tài: Nắm vững quy luật này là cơ sở để hiểu biết tất cả các
phạm trù và quy luật khác của phép biện chứng duy vật. Nghiên cứu quy luật này
giúp mọi người hình thành phương pháp, hình thành tư duy khoa học, biết khám phá
bản chất của các sự vật và giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh thúc đẩy sự vật phát
triển.
Nhiệm vụ của đề tài: Làm rõ được nội dung quy luật mâu thuẫn, thông qua đó
làm rõ hơn một số mâu thuẫn trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam và một số giải pháp của nền KTTT.
Giới hạn của đề tài: Phạm vi của đề tài là rất rộng, do thời gian có hạn nên
trong tiểu luận này chỉ xem xét đánh giá một vài mâu thuẫn tiêu biểu:
-Mâu thuẫn giữa đổi mới nền kinh tế và ổn định chính trị.
-Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
-Mâu thuẫn giữa các hình thức sở hữu trong thời kì quá độ sang kinh tế
thị trường ở Việt Nam.
-Mâu thuẫn giữa kinh tế thị trường với xây dựng con người mới xã hội
chủ nghĩa.
4.Cái mới của đề tài: Từ đề tài, có được cái nhìn đúng đắn hơn về nền kinh tế Việt
Nam trong thời kì đổi mới và hoàn thiện vốn kiến thức của mình.
5.Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu: Lí luận dựa trên nghiên cứu của Chủ
nghĩa C.Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
6.ý nghĩa của đề tài: Nghiên cứu quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối
lập cho biết nguyên nhân hay nguồn gốc và động lực của sự vận động và phát triển,
nó có tác dụng nhận thức đúng bản chất sự vật và tìm ra phương hướng và giải pháp
đúng cho hoạt động thực tiễn phải đi sâu nghiên cứu phát hiện ra mâu thuẫn của sự
vật.
người được Lênin coi là ông tổ của phép biện chứng cho rằng trong sự vận động biện
chứng vĩnh viễn của mình, các sự vật đều có xu hướng chuyển sang các mặt đối
lập… Tư tưởng biện chứng về những đối lập đạt được đỉnh cao nhất trong sự phát
triển của phép biện chứng của các nhà triết học cổ điển Đức,tiêu biểu là I.Cantơ và
G.V.Hêghen.
Các antinômi của Cantơ xuất hiện trên cơ sở vượt quá trình độ nhận thức có
tính chất kinh nghiệm khi Cantơ xem các mặt đối lập la những đối lập về chất.Song
không giải quyết được vấn đề Các antinômi,Cantơ đã đi tới từ bỏ việc thừa nhận các
mâu thuẫn khách quan.Ông xem sự tồn tại của mâu thuẫn là bằng chứng nói lên tính
bất lực của con người trong việc nhận thức thế giới.
Khi nghiên cứu phép biện chứng trong sự vận động và phát triển của “ý niệm
tuyệt đối “, Hêghen đã kịch liệt phê phán quan điểm siêu hình về sự đồng nhất (quan
điểm này cho rằng đã đồng nhất thì loại trừ mọi sự khác biệt về mâu thuẫn).Theo
ông, đó là sự đồng nhất trừu tượng trống rỗng, không bao hàm một nhân tố chân lí
nào.Ông quan niệm bất kì sự đồng nhất nào cũng bao hàm sự khác biệt và mâu
thuẫn.Ông là người sớm nhận ra vai trò của mâu thuẫn trong quá trình vận động và
phát triển:”Mâu thuẫn là nguồn gốc
của tất cả mọi sự vận động và của tất cả mọi sự sống, chỉ trong chừng mực một vật
chứa đựng trong bản thân nó một mâu thuẫn thì nó mới vận động, mới có xung lực
và hoạt động.Tất cả mọi vật đều có tính chất mâu thuẫn trong bản thân nó.Song do bị
chi phối bởi quan niệm duy tâm và lợi ích giai cấp Hêghen đã đẩy việc giải quyết
mâu thuẫn không thể điều hoà được trong “xã hội công dân” vào lĩnh vực tư tưởng
thuần tuý.
Kế thừa một cách có phê phán tất cả những thành tựu tư tưởng về mâu thuẫn,
bằng việc tổng kết từ thực tế lịch sử loài người, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác
đã cho rằng chúng ta phải tìm xung lực vận động và sự phát triển của sự vật trong
chính sự vật đó, trong những mâu thuẫn của bản thân sự vật.Quan điểm lý luận đó
được thể hiện trong quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập-Quy luật
mâu thuẫn-đây là hạt nhân của phép biện chứng.
1.2.1-Sự thống nhất của các mặt đối lập :
Hai mặt đối lập trong sự vật tồn tại trong sư thống nhất của chúng.”Sự thống nhất”
của các mặt đối lập được hiểu với ý nghĩa không phải chúng đứng bên cạnh nhau mà
là “nương tựa” vào nhau,tạo ra sự phù hợp,cân bằng như liên hệ phụ thuộc, qui định
và ràng buộc lẫn nhau.Mặt đối lập này lấy mặt đối lập làm tiền đề cho sự tồn tại của
chính mình và ngược lại.Nếu thiếu một trong hai mặt đối lập chính tạo thành sự vật thì nhất định không có sự tồn tại của sự vật.Bởi vậy sự thống nhất của các mặt đối
lập là điều kiện không thể thiêú được cho sư tồn tại của bất kì sự vật hiện tượng
nào.Sự thống nhất này do những đặc điểm riêng có của bản thấn sự vật tạo nên.
*Ví dụ: Quan hệ lực lưọng sản xuất-quan hệ sản xuất trong phương thức sản
xuất:khi lự lượng sản xuất phát triển thì cùng với nó quan hệ sản xuất cũng phát
triển, hai hình thức này chính là điều kiện tiền đề cho sự phất triển của phương thức
sản xuất.Nhưng quan hệ của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất phải thoả mãn
một số yêu cầu sau:
-Thứ nhất:Đó phải là một khái niệm chung nhất được khái quát từ các mặt phù
hợp khác nhau phản ánh được bản chất của sự phù hợp của quan hệ sản xuất với
lượng sản xuất.
-Thứ hai:Đó phải là một khái niệm “động” phản ánh được trạng thái biến đổi
thường xuyên của sự vận động,phát triển trong quan hệ của quan hệ sản xuất với lực
lượng sản xuất.
-Thứ ba:Đó phải là một khái niệm có ý nghĩa thực tiễn.Ngoài ý nghĩa nhận
thức, khái niệm về sự phù hợp của quan hệ sản xuất được coi là thoã đáng phải có tác
dụng định hướng, chỉ dẫn cho việc xây dựng quan hệ sản xuất, sao cho những quan
hệ sản xuất có khả năng phù hợp cao nhất với lực lượng sản xuất.
Giữa các mặt đối lập bao giờ cũng có những nhân tố giống nhau,”đồng nhất”
với nhau.Với ý nghĩa đó, sự thống nhất của các mặt đối lập còn bao hàm cả sự “đồng
nhất” của các mặt đó.Do đó sự ”đồng nhất” của các mặt đ
ối lập
tranh giữa các mặt đối lập .
Với tư cách là hai trạng thái đối lập trong mối quan hệ qua lại giữa hai mặt đối
lập, sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập có quan hệ chặt chẽ với nhau.Sự
thống nhất có quan hệ hữu cơ với sự đứng im, sự ổn định tạm thời của vật.Sự đấu
tranh của mối quan hệ gắn bó với tính tuỵêt đối của sự vận động và phát triển.Điều
đó có nghĩa là sự thống nhất của các mặt đối lập là tương đối, sự đấu tranh của các
mặt đối lập là tuyệt đối. Lênin viết:”Mặc dù thống nhất chỉ là điều kiện để sự vật tồn
tại với ý nghĩa nó chính là nó nhờ có sự thống nhất của các mặt đối lập mà chúng ta
nhận biết được sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới khách quan.Song bản thân
của sự thống nhất chỉ là tính tương đối tạm thời. Đấu tranh giữa các mặt đối lập mới
là tuyệt đối. Nó diễn ra thường xuyên và liên tục trong suốt quá trình tồn tại của sự
vật. Kể cả trong trạng thái sự vật ổn định cũng như khi chuyển hoá nhảy vọt về chất
của các mặt đối lập là có điều kiện thoáng qua, tạm thời tương đối.Sự đấu tranh của
các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối cũng như s
ự phát triển, sự vận
động là tuyệt đối”. Mâu thuẫn biện chứng có quan hệ như thế nào với nguồn gốc của sự vận động
và sự phát triển?
Sự đấu tranh của các mặt đối lập được chia ra làm nhiều giai đoạn.Thông
thường, khi mới xuất hiện, hai mặt đối lập chưa thể hiện rõ sự xung khắc gay gắt.Tất
nhiên không phải xung khắc bất kì sự khác nhau nào cũng được gọi là mâu thuẫn.
Chỉ có những mặt khác nhau tồn tại trong một sự vật nhưng liên hệ hữu cơ với nhau,
phát triển ngược chiều nhau, tạo thành động lực bên trong của sự phát triển, thì hai
mặt đối lập ấy mới hình thành bước đầu của mâu thuẫn.Khi hai mặt đối lập của mâu
thuẫn phát triển đến giai đoạn xung đột gay gắt, nó biến thành đối lập. Nếu hội đủ
các mặt cần thiết hai mặt đối lập sẽ chuyển hoá lẫn nhau. Mâu thuẫn được giải quyết,
sự vật mới hơn xuất hiện với trình độ cao hơn… Cứ như thế, đấu tranh giữa các mặt
đối lập làm cho sự vật biến đổi không ngừng từ thấp lên cao, chính vì vậy Mác viết:
vật mới hình thành, sự vật mới lại nảy sinh các mặt đối lập và mâu thuẫn mới .Các
mặt đối lập này lại đấu tranh chuyển hoá và phủ định lẫn nhau để tạo thành sự vật
mới hơn.Cứ như vậy mà các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan thường
xuyên phát triển và biến đổi
không ngừng. Vì vậy, mâu thuẫn là nguồn gốc và động lực của mọi sự phát triển.
******************************
Chương II: Kinh tế thị trường và mâu thuẫn biện chứng trong nền
kinh tế thị trường ở Việt Nam
2.1-Khái quát chung về kinh tế thị trường (KTTT):
Trong mô hình cũ của CNXH, sự vận hành của nền kinh tế chủ yếu dựa trên mệnh
lệnh, kế hoạch của Nhà nước và một hệ thống bao cấp từ sản xuất đến tiêu dùng. Cơ
chế kinh tế này, tuy có ưu điểm là tránh được phân cực xã hội, nhưng lại bộc lộ nhiều
nhược diểm cơ bản.Chẳng những quy luật kinh tế khách quan được coi thường, mà
tính tự chủ, năng động, sáng tạo của người lao động cũng không được phát huy một
cách đầy đủ.Sự nghiệp đổi mới được tiến hành hơn 10 năm qua ở nước ta gắn liền
với việc phát triển kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trương, nền
kinh tế mà chúng ta đang xây dựng là nền KTTT định hướng XHCN.
Trứơc hết ta tìm hiểu một số khái niệm: Khái niệm kinh tế hàng hoá, thị trường, cơ
chế thị trường. *Kinh tế hàng hoá: là kiểu tổ chức kinh tễ mà trong đó hình thái phổ biến của sản
xuất là sản xuất ra để bán, để trao đổi trên thị trường.
*Thị trường: trong nền sản xuất, mọi sản phẩm hàng hoá và dịch vụ đều được mua
bán trên thị trường. Thị trường là một tập hợp tất yếu và hữu cơ của toàn bộ quá trình
sản xuất và lưu thông hàng hoá. Nó ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và triển
của sản xuất và lưu thông hàng hoá.
qua lại của các chủ thể hành động đó có thể có lợi cho người này tầng lớp hay giai
cấp này, có hại cho tầng lớp hay giai cấp khác cho nên KTTT có mặt tích cực, có mặt
tiêu cực nhất định không thể nhấn mạnh chỉ một mặt trong hai mặt đó.
Hiện nay không có một nước nào trên thế giới có nền KTTT vận động theo cơ chế
thị trường “hoàn hảo”, hoàn toàn do sự chi phối của “bàn tay vô hình” theo cách nói
của Adam Smith, nhà kinh tế chính trị học tư sản cổ điển Anh ở thế kỷ XIII mà trái
lại chúng đều vận động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nứơc ở những
mức độ phạm vi khác nhau. Và ở nước ta KTTT mà Đảng và nhà nước ta chủ trương
xây dựng và phát triển trong thời kì quá độ lên CNXH, là “nền kinh tế nhiều thành
phần theo định hướng XHCN, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà
nước”.
*Đặc điểm của nền kinh tế thị trường:
Có thể nói, kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá phát triển đến giai đoạn cao.Kinh
tế thị trường là một loại hình mà trong đó, các mối quan hệ kinh tế giữa con người
với con ngươì đuợc biểu hiện thông qua thị trường, tức là thông qua việc mua-bán,
trao đổi hàng hoá tiền tệ.Trong kinh tế thị trường, các qua hệ hàng hoá -tiền tệ phát
triển, mở rộng, bao quát nhiều lĩnh vực, có ý nghĩa phổ biến đối với người sản xuất
và người tiêu dùng.Do nảy sinh và hoạt động một cách khách quan trong những diều
kiện lịch sử nhất định, KTTT phản ánh trình độ văn minh và sự phát triển của xã hội,
là nhân tố phát triển sức sản xuất, tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy xã hội tiến lên. Tuy
nhiên, kinh tế thị trường cũng có những khuyết tật tự thân, đặc biệt là tính tự phát mù
quáng, sự cạnh tranh lạnh lùng, dẫn đến sự phá sản, thất nghiệp, khủng hoảng chu
kỳ…
KTTT trước hết là kinh tế hàng hoá, với đặc trưng phổ biến của nó là người sản
xuất làm ra sản phẩm với mục đích để bán, để trao đổi chứ không phải để tự tiêu
dùng, hay sản phẩm dư thừa ngẫu nhiên như trước.
KTTT là nền kinh tế có sự đa dạng về hình thức sở hữu, về thành phần kinh tế,
về hình thức phân phối.
tác dụng trong điều kiện chiến tranh, góp phần mang lại chiến thắng vẻ vang của dân
tộc ta, song khi chuyển sang xây dựng và phát triển kinh tế, chính mô hình đó đã tạo ra nhiều khuyết tật, nền kinh tế không có động lực, không có sức đua tranh, không
phát huy được tính chủ động sáng tạo của người lao động, của các chủ thể sản xuất-
kinh doanh, sản xuất không gắn liền với nhu cầu, ý chí chủ quan đã lấn át khách
quan và triệt tiêu mọi động lực-sức mạnh nội sinhcủa bản thân nền kinh tế, đã làm
cho nền kinh tế suy thoái thiếu hụt, hiệu quả thấp, nhiều mục tiêu của CNXH không
thực hiện được.
Kinh tế hàng hoá, bắt đầu bằng kinh tế hàng hoá đơn giản, ra đời từ chế độ Cộng
sản nguyên thuỷ tan rã, dựa trên hai tiền đề cơ bản là có sự phân công lao động xã
hội và có sự tách biệt về kinh tế do chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất.
Chuyển từ kinh tế tự nhiên, tự cung-tự cấp sang kinh tế hàng hoá là đánh dấu bước
chuyển sang thời đại kinh tế của sự phát triển, thời đại văn minh của nhân loại.
Trong lịch sử của mình, vì thế của kinh tế hàng hoá cũng dần được đổi thay từ chỗ
như là kiểu tổ chức kinh tế- xã hội không phổ biến, không hợp thời trong xã hội
Chiếm hữu nô lệ của những người thợ thủ công và nhân dân tự do, đến chỗ được
thừa nhận trong xã hội Phong kiến, và đến CNTB thì kinh tế hàng hoá giản đơn
không những được thừa nhận mà còn được phát triển đến giai đoạn cao hơn đó là
KTTT.
KTTT là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hoá, cũng đã trãi qua ba giai
đoạn phát triển. Giai đoạn thứ nhất, là giai đoạn chuyển từ kinh tế hàng hoá giản đơn
sang KTTT. Giai đoạn thứ hai là giai đoạn phát triển KTTT tự do. Đặc trưng quan
trọng của giai đoạn này là sự phát triển kinh tế diễn ra theo tinh thần tự do, Nhà nước
không can thiệp vào hoạt động kinh tế. Giai đoạn thứ ba là giai đoạn KTTT hiện đại.
Đặc trưng của giai đoạn này là Nhà nước can thiệp vào KTTT và mở rộng giao lưu
kinh tế với nước ngoài. KTTT có những đặc trưng cơ bản như :phát triển kinh tế
hàng hoá, mở rộng thị trường, tự do kinh doanh tự do thương mại , tự định giá cả, đa
dạng hoá sở hữu, phân phối do quan hệ cung cầu… đó là cơ chế hỗn hợp “có sự điều
giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh. Cuộc đấu tranh cách mạng trường kỳ
gian khổ và quyết liệt của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm giải phóng nhân dân lao động đem lại
cuộc sống hạnh phúc và giàu sang cho nhân dân lao động. Vì vậy, sự phát triển của
Việt Nam trong hiện tại và tương lai phải là sự phát triển vì sự giàu có, phồn vinh,
hạnh phú của nhân dân lao động, vì sự hùng mạnh và giàu có của toàn xã hội-toàn
dân tộc, là sự phát triển mang tính XHCN, là sự phát triển hiện đại . Nghĩa là, chúng
ta phải phát triển nền KTTT định hướng XHCN.
2.2.2-Một số đặc điểm chung của nền KTTT ở Việt Nam. Chuyển nền kinh tế từ hoạt động theo cơ chế kế hoạch tập trung-hành chính,
quan liêu-bao cấp sang phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN là nội dung, bản chất
và đặc điểm khái quát nhất đối với nền kinh tế nước ta trong hiện nay và tương lai.
Đặc biệt, cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, được Đại
hội đại biểu toàn quốc của Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VII thông qua vào năm
1991 đã nêu lên những đặc trưng bản chất của nền KTTT và phát triển nền KTTT
theo định hướng XHCN.
Thứ nhất, nền KTTT định hướng XHCN mà nước ta xây dựng là nền KTTT
hiện đại với tính chất xã hội hiện đại. Mặc dù nền kinh tế nước ta đang nằm trong
tình trạng lạc hậu và kém phát triển nhưng khi nước ta chuyển sang phát triển kinh tế
hàng hoá, KTTT, thì thế giới đã chuyển sang giai đoạn KTTT hiện đại. Bởi vậy,
chúng ta không thể và không nhất thiết phải trãi qua giai đoạn kinh tế hàng hoá giản
đơn và giai đoạn KTTT tự do mà đi thẳng vào phát triển KTTT hiện đại. Mặt khác,
thế giới vẫn nằm trong thời quá độ từ CNTB lên CNXH, cho nên sự phát triển kinh
tế-xã hội nước ta phải theo định hướng XHCN là cần thiết khách quan và cũng là nội
dung yêu cầu của sự phát triển rút ngắn. Sự nghiệp “dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng và văn minh” vừa là mục tiêu vừa là nội dung, nhiệm vụ của việc phát
triển KTTT định hướng XHCN ở nước ta.
của Nhà nước bảo đảm cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định, đạt hiệu quả, đặc biệt là
bảo đảm sự công bằng và tiến bộ xó hội. Khụng cú ai ngoài nhà nước lại có thể giảm
bớt sự chênh lệch giữa giàu- nghèo, giữa thành thị và nông thôn, giữa công nghiệp và
nông nghiệp, giữa các vùng của đất nước. Tuy vậy, cần phải nhấn mạnh rằng sự can
thiệp của Nhà nước vào kinh tế sao cho tương hợp với thị trường.
Thứ năm, mở cửa, hội nhập nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới, trên
cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ và toàn vẹn lónh thổ quốc gia là nội dung quan trọng
của nền KTTT ở nước ta. Quá trỡnh phỏt triển của KTTT đi liền với xó hội húa nền
sản xuất xó hội. Tiến trỡnh xó hội húa trờn cơ sở phát triển của KTTT là không có
biên giới quốc gia về phương diện kinh tế. Một trong những đặc trưng quan trọng
của KTTT hiện đại là việc mở rộng giao lưu kinh tế với nước ngoài. Xu hướng quốc
tế hóa đời sống kinh tế với những khu vực hóa và toàn cầu hóa đang ngày càng phát
triển và trở thành xu thế tất yếu trong thời đại của cuộc cách mạng khoa học- công
nghệ hiện nay. Tranh thủ thuận lợi và cơ hội, tránh nguy cơ tụt hậu xa hơn và vượt
qua thách thức là yêu cầu nhất thiết phải thực hiện. Để phát triển trong điều kiện của
KTTT hiện đại, Việt Nam không thể đóng cửa, khép kín nền kinh tế trong trạng thái
tự cung- tự cấp mà phải mở của, hội nhập với nền kinh tế thế giới trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh và không ngừng nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, giữ vững
độc lập, tự chủ và toàn vẹn lónh thổ quốc gia.
Thứ sáu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đồng thời với việc bảo đảm công bằng xó
hội cũng là một nội dung rất quan trọng trong nền KTTT ở nước ta. Phát triển trong
công bằng được hiểu là những chính sách phát triển phải bảo đảm sự công bằng xó
hội, là tạo cho mọi tầng lớp nhân dân đều có thể tham gia vào quá trỡnh phỏt triển va
được hưởng những thành quả tương xứng với sức lực, khả năng và trí tuệ họ bỏ ra, là
giảm bớt chênh lệch giàu - nghèo giữa các tầng lớp dân cư giữa các vùng. Khác với
nhiều nước, chúng ta phát triển KTTT nhưng chủ trương bảo đảm công bằng xó hội,
thực hiện sự thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xó hội, trong tất cả
cỏc giai đoạn của sự phát triển kinh tế ở nước ta. Mức độ bảo đảm công bằng xó hội
Đại hội IX khẳng định :"Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và
lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ
chế thị trường có sự quản lí của nhà nước theo định hướng XHCN, đó là nền kinh tế
thị trường theo định hướng XHCN".
Chủ trương xây dựng và phát triển nền KTTT định hướng XHCN thể hiện tư duy,
quan niệm của đảng ta về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trỡnh độ
của lực lượng sản xuất. Đó là mô hỡnh kinh tế tổng quỏt của nước ta trong thời kỡ
quỏ độ lên CNXH.
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đại hội IX Đảng ta một lần nữa khẳng định :
"Thực tiễn phong phú và những thành tựu thu được qua 15 năm đổi mới đó chứng
minh tính đúng đắn của cương lĩnh được thông qua tại đại hội VII của Đảng đồng
thời giúp đảng ta nhận thức ngày càng rừ hơn về con đường đi lên CNXH ở nước ta.
Chúng ta một lần nữa khẳng định : Cương lĩnh là ngọn cờ chiến đấu vỡ thắng lợi của
sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam từng bước quá độ lên CNXH định hướng cho
mọi hoạt động của Đảng ta hiện nay và trong những thập kỉ tới .Đảng và nhân dân
ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường XHCN trên nền tảng
chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh".
Tuy vậy đi đôi với thành tựu là rất nhiều khó khăn đũi hỏi phải cú phương hướng
giải quyết đúng đắn, đặc biệt, lao động và việc làm đang là vấn đề gay gắt nổi cộm
nhất hiện nay với tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị là 74% và tỉ lệ thiếu việc làm ở nông
thôn là 30% tỉ lệ lao động được đào tạo về chuyên môn kĩ thuật cũn thấp trong tổng
số lao động :theo kết quả điều tra dân số và nhà ở ngày 1/4/1999, công nhân kỹ thuật
và nghiệp vụ chiếm 30,3%; lao động có trỡnh độ trung học chuyên nghiệp chiếm
36,8%; trỡnh độ Cao đẳng và Đại học chiếm 31,6%; trên Đại học chiếm 1,3%. [Kinh tế và phát triển số 42, tháng12/2000, tr19]. Từ năm 2001, khi Việt Nam áp dụng
chuẩn hóa đói nghèo mới thỡ tỷ lệ đói nghèo sẽ cũn khỏ hơn, khoảng 17% so với
11% chuẩn cũ. Hiện tại, mức tiêu dùng của dân cư thấp, tích lũy nội bộ của nền kinh
tế mới đạt khoảng 25-27%GDP, cũn tớch lũy rũng chỉ đạt dưới 20% GDP. Trong khi
người với con người được biểu hiện thông qua thị trường, tức là thông qua việc mua-
bán, trao đổi hàng hóa- tiền tệ. Trong KTTT, các quan hệ hàng hóa- tiền tệ phát
triển, mở rộng, bao quỏt trờn nhiều lĩnh vực, cú ý nghĩa phổ biến đối với người sản
xuất và tiêu dùng. Do nảy sinh và hoạt động một cách khách quan trong những điều
kiện lịch sử nhất định, KTTT phản ánh trỡnh đọ văn minh, và sự phát triển của xó
hội, là nhõn tố phát triển sức sản xuất , tăng trưởng kinh tế , thúc đẩy xó hội tiến lờn.
Tuy nhiờn , KTTT cũng cú những khuyết tật tự thõn, đặc biệt là tính tự phát mù
quáng, sự cạnh tranh lạnh lùng, dẫn đến sự phá sản, thất nghiệp, khủng hoảng chu
kỳ, ô nhiễm môi trường…
Xuất phát từ sự phân tích trên đây, chúng ta thấy rằng đối với nước ta hiện nay,
không thể xây dựng và phát triển con người nếu thiếu yếu tố KTTT. Việc xây dựng,
củng cố, hoàn thiện cơ cế thị trường có sự quản lý cả Nhà nước theo định hướng
XHCN cũng đồng nghĩa với việc tạo ra các điều kiện vật chất cơ bản để thực hiện
chiến lược xây dựng phát triển con người cho thế kỷ XXI.
Trong những năm vừa qua, KTTT ở nước ta đó được nhân dân hưởng ứng rộng
rói và đi vào cuộc sống rất nhanh chóng, góp phần khơi dậy nhiều tiềm năng sáng
tạo, làm cho nền kinh tế sôi động hơn, các hoạt động sản xuất , kinh doanh, dịch vụ
phát triển hơn, bộ mặt thị trường được thay đổi. Đây là những kết quả đáng mừng,
đáng được phát huy, nó thể hiện sự phát triển và vận động đúng đắn các quy luật
xó hội . Quỏ trỡnh biện chứng đi lên CNXN từ khách quan đáng trở thành nhận
thức chủ quan trên quy mô toàn xó hội .
Bên cạnh đó, có một khía cạnh khác cũng cần được đề cập đến: KTTT ở nước ta
hiện nay không chỉ tạo ra điều kiện vật chất để xây dựng, phát huy nguồn lực con
người, mà cũn tạo ra mụi trường xó hội thớch hợp cho con người phát triển hài hũa,
toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần. KTTT tạo ra sự cạnh tranh, chạy đua quyết liệt.
Điều đó buộc con người phải năng động, sáng tạo, linh hoạt, có tác phong nhanh
nhẹn, có đầu óc quan sát, phân tích để thích nghi và hành động có hiệu quả, từ đó
nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn của con người, góp phần làm giảm đi sự chậm
chạp và trỡ trệ vốn cú của người lao động trong nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu từ
ngàn đời ở con ngời Viêt Nam. KTTT tạo ra những điều kiện thích hợp để con người
hoại con người.
Việc giải quyết những mâu thuẫn trên đây là việc làm không đơn giản. Đối với
nước ta, mâu thuẫn giữa KTTT và quá trỡnh xõy dựng con người được giải quyết
bằng vai trũ lónh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN.
Đảng ta xác định: "Sản xuất hàng hóa không đối lập với CNXH mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần htiết cho công cuộc xây
dựng CNXH và cả khi CNXH đó được xây dựng ''. Như vậy, Đảng ta vạch ra sự
thống nhất giữa KTTT và mục tiêu xây dựng con người mới XHCN : ''Việc áp dụng
cơ chế thị trường đũi hỏi phải nõng cao năng lực quản lý vĩ mô của Nhà nước, đồng
thời xác lập đầy đủ chế độ tự chủ của các đơn vị sản xuất kinh doanh. Thực hiện tốt
vấn đề này không phát huy được tác động tích cực, to lơn cũng như ngăn ngừa, hạn
chế, khắc phục những tiêu cực, khiếm khuyết của KTTT. Các hoạt động sản xuất
kinh doanh phải hướng vào phục vu công cuộc xây dựng nguồn lực con người. Cần
phải tiến hành các hoạt động văn hóa, giáo dục nhằm khắc phục tâm lý sựng bỏi
đồng tiền, bất chấp đạo lý, coi thưũng cỏc giỏ trị nhân văn . Phải ra sức phát huy
các giá trị tinh thần, đạo đức , thẩm mỹ, các di sản văn hóa, nghệ thuật của dân tộc.
Đây chính là công cụ, phưong tiện quan trọng để tác động, góp phần giải quyết mâu
thuẫn đó nêu''. Và Đại hội Đảng IX cũng xác định : ''Xây dựng đội ngũ cán bộ,
trước hết cán bộ lónh đạo và quản lý ở cỏc cấp vững vàng về chớnh trị, gương
mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt
động thực tiễn, gắn bó với nhân dân''.
Túm lại, KTTT là mục tiờu xõy dựng CNXH là một mõu thuẫn biện chứng xó
hội trong thực tiễn nước ta hiện nay. Mâu thuẫn đó được giải quyết bằng cách tăng
cường vai trũ lónh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước và phát
huy tối đa các giá trị tinh thần dân tộc.
2.3.2- Mâu thuẫn giữa phát triển KTTT và định hướng XHCN .
Một trong những luận điểm rất quan trọng phản ánh tư duy mới của Đảng ta thể
cú thể làm chủ những sản phẩm ''dư thừa'' đó, mang trao đổi với nhau để nhận lại
những sản phẩm mà mỡnh thiếu do kết quả của phõn cụng chuyờn mụn húa đưa lại.
Thị trường sơ khai xuất hiện từ đó.
Tuy nhiờn, phải trải qua quỏ trỡnh phỏt triển lõu dài, mói đến giai đoạn cuối xó
hội phong kiến đầu xó hội TBCN thỡ KTTT mới được xác lập, và phải đến cuối giai
đoạn của CNTB tự do kinh doanh cạnh tranh thỡ KTTT mới được xác lập hoàn toàn.
KTTT trước hết là kinh tế hàng hóa với đặc trưng phổ biến của nó là những
người sản xuất làm ra sản phẩm với mục đích để bán (để trao đổi), chứ không phải để
tự tiêu dùng, hay sản phẩm dư thừa ngẫu nhiên như trước. Ngày nay, khi KTTT hiện
đại đó phỏt triển một cách phổ biến thỡ đặc trưng căn bản đó không những không
mất đi mà cũn được bổ sung, làm phong phú thêm bởi các hỡnh thức và nội dung của
quan hệ trao đổi và vai trũ can thiệp của Nhà nước vào quá trỡnh đó. Như vậy, KTTT phát triển từ sơ khai đến hiện đại là một công trỡnh sỏng tạo
của loài người trong quá trỡnh sản xuất và trao đổi, đó là trỡnh độ văn minh mà
nhân loại đó đạt được. Do đó, mọi quan niệm cho rằng KTTT là phát minh riêng
của CNTB là không có căn cứ : việc đồng nhất KTTT với CNTB để rồi né tránh,
hoặc sử dụng nó như một công cụ tạm thời, hoặc coi việc áp dụng cơ chế thị trường
có nghĩa là mặc nhiên chấp nhận con đường TBCN… đều có thể dẫn đến những
sai lầm đáng tiếc. Sự ra đời của KTTT TBCN chỉ đẩy lùi KTTT lên một giai
đoạn phát triển mới về chất cả về quy mô, tính chất và mức độ bao quát của nó. Là
sự phát triển tiếp tục xu hướng khách quan nền kinh tế của CNXH nói chung, của
thời kỳ quá độ lên CNXH nói riêng, là một sự phát triển mang tính phủ định biện
chứng đối với KTTT TBCN. Từ đấy ra đời một nền KTTT mới về chất.
KTTT bao giờ cũng tồn tại dưới một thể chế chính trị, một chế độ chính trị. Nhờ
sử dụng triệt để KTTT, CNTB đó đạt được những thành tựu về kinh tế-xó hội, phỏt
triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng xuất lao động. Cũng nhờ KTTT, quản lý xó
hội đạt được những thành quả về văn minh hành chính, văn minh công cộng, con
người nhạy cảm, tinh tế, với khả năng sáng tạo, sự thách thức đua tranh phát triển.