ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ-XÃ HỘI TÁC ĐỘNG ĐẾN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH - Pdf 34

LỜI NÓI ĐẦU
Bên cạnh chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống tư tưởng
chính trong nước. Theo đó, hệ thống tư tưởng này bao gồm những quan điểm về
những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn
Việt Nam.
Đảng Cộng Sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam cùng các quan điểm chính
thống ở Việt Nam hiện nay đều thống nhất đánh giá tư tưởng Hồ Chí Minh chính là
cách vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam và
trong thực tế, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của
Đảng Cộng Sản Việt Nam và của dân tộc Việt Nam.
Vấn đề đặt ra là, tư tưởng Hồ Chí Minh hình thành dựa trên những điều kiện
nào?
Trong chủ đề lần này, em đã chọn vấn đề: “ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ-XÃ HỘI
HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH” để tìm hiểu, đi sâu và làm rõ hơn
một vấn đề tiên quyết về những tư tưởng của Người.

Hồ Chí Minh (1890-1969)

1


MỤC LỤC

Trang
LỜI NÓI ĐẦU................................................................................1
I. ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ-XÃ HỘI TÁC ĐỘNG
ĐẾN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH......................3
1. Xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX....................3
2. Quê hương và gia đình....................................................................5
3. Thời đại.............................................................................................7

Patonot (năm 1884) được kí kết đã đưa xã hội Việt Nam bước sang giai đoạn mới
và trở thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Triều đình nhà Nguyễn nhượng bộ

3


thực dân Pháp cũng chỉ để bảo vệ ngai vàng và lợi ích của chúng. Nhưng phong
trào vũ trang kháng chiến chống Pháp vẫn diễn ra mạnh mẽ và lan rộng khắp cả
nước: ở Nam Bộ có Trương Định, Nguyễn Trung Trực,...; đến Trung Bộ có Trần
Tấn, Đặng Như Mai, Nguyễn Xuân Ôn, Phan Đình Phùng,...; và ra đến ngoài Bắc
có Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Quang Bích,... Nhưng những phong trào đó đều đi
đến thất bại vì đều mang nặng tư tưởng phong kiến. Điều đó cho thấy sự bất lực
của hệ tư tưởng phong kiến trước nhiệm vụ lịch sử.
Như vậy, Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh nước mất nhà tan.
Đây là tiền đề đầu tiên hình thành cho Người lòng yêu nước, thương dân tộc sâu
sắc.
Đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa và xã hội Việt
Nam bắt đầu có những biến chuyển và sự phân hoá. Giai cấp công nhân và giai cấp
tư sản ra đời. Cùng lúc đó, “tân thư”, “tân văn” và cuộc vận động cải cách của
Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu từ Trung Quốc đã ảnh hưởng trực tiếp tới Việt
Nam. Dưới tác động của nhân tố mới, các phong trào yêu nước Việt Nam chuyển
dần sang xu hướng dân chủ tư sản, điển hình như: phong trào Đông Du, Việt Nam
Quang Phục Hội của Phan Bội Châu; phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục của
Lương Văn Can và Nguyễn Quyền; Duy Tân của Phan Châu Chinh...
Tuy những phong trào ấy đã ghi thêm vào trang sử vẻ vang của dân tộc
nhưng đều lần lượt bị dập tắt, một phần vì chưa lôi cuốn được đông đảo nhân dân
tham gia nhưng chủ yếu vì vẫn còn gắn với hệ tư tưởng tư sản. Hệ tư tưởng tư sản
lúc này đã trở nên lỗi thời và lạc hậu ở phương Tây, hơn nữa lại được các sĩ phu
phong kiến truyền bá nên ít nhiều cũng còn những hạn chế và không tránh khỏi thất
bại.

cần cù, tấm gương về ý chí kiên cường vượt qua gian khổ để đạt được mục tiêu và
đặc biệt là tư tưởng thương dân, chủ trương lấy dân làm hậu thuẫn cho mọi cải cách

5


chính trị-xã hội của cụ Bảng Sắc đã có ảnh hưởng sâu sắc tới sự hình thành tư
tưởng chính trị và nhân cách của Người.
Cuộc sống của người mẹ - bà Hoàng Thị Loan cũng ảnh hưởng đến tư tưởng,
tình cảm của Người về đức tính nhân hậu, đảm đang, sống chan hoà với mọi người.
Còn phải kể đến mối quan hệ và tác động qua lại giữa ba chị em Nguyễn Thị
Thanh (Nguyễn Thị Bạch Liên), Nguyễn Sinh Khiêm (Nguyễn Tất Đạt), Nguyễn
Sinh Cung (Nguyễn Tất Thành) về lòng yêu nước, về tinh thần cách mạng, đấu
tranh. Cả anh và chị của Nguyễn Tất Thành cũng đều tham gia hoạt động yêu nước
chống Pháp, bị bắt giam hàng chục năm. Điều này đã hun đúc nên vị anh hùng giải
phóng dân tộc, nhà tư tưởng, nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam.
Thủa thiếu thời, Hồ Chí Minh đã đau xót chứng kiến cuộc sống nghèo khổ
của nhân dân, bị đàn áp, bị bóc lột cùng cực của đồng bào, đày đoạ nhân dân mình
với cuộc sống xa hoa, đồi truỵ ngay trên mảnh đất quê hương. Những năm ở Huế,
Người đã tận mắt nhìn thấy tội ác của bọn thực dân và thái độ ớn hèn, bạc nhược
của bọn quan lại Nam triều. Những bài học thất bại của những nhà tiền bối đương
thời cũng có tác động không nhỏ tới Nguyễn Tất Thành.
Chính những điều đó đã ảnh hưởng và nuôi dưỡng lý tưởng yêu nước cách
mạng của Nguyễn Tất Thành ngay tư những ngày đầu và theo suốt quá trình cách
mạng. Bởi vì ở Người, tư tưởng yêu nước, thương dân, cảm thông với mọi nỗi khổ
đau của nhân dân, đồng bào luôn luôn có sự gắn bó chặt chẽ không tách rời. Tất cả
đã thôi thúc Người ra đi tìm một con đường mới để cứu nước cứu dân, giải phóng
dân tộc.
Bằng trực giác, Nguyễn Tất Thành nhận thấy rằng muốn cứu nước, giải
phóng dân tộc thì không thể đi theo con đường mà các bậc tiền bối đã đi, mà cần

điểm của thời đại, nhưng từ thự tế lịch sử, Người đã thấy rõ rằng đường đi của các
bậc tiền bối, của lớp cha anh là cũ kĩ, là không phù hợp và điều đó không đem lại

7


kết quả. Tư tưởng phong kiến lạc hậu, tính chất cải lương của tư tưởng dân chủ tư
sản, tư đó, Người đã phải đi tìm một con đường khác với hướng đi của những nhà
yêu nước trước đó, một con đường hoàn toàn mới.
Ngày 5 tháng 6 năm 1911, trên con tàu Amiral La Touche De Tréville,
Người đã ra đi tìm đường cứu nước. Người đã vượt ba đại dương, bốn châu lục, đặt
chân lên khoảng gần ba mươi nước, là một trong những nhà hoạt động chính trị đã
đi nhiều nhất, có vốn hiểu biết phong phú nhất về thực tế ở các nước thuộc địa cũng
như các nước tư bản Đế quốc trong những thập niên đầu của thế kỉ XX... Và nhờ
đó, Người đã hiểu được bản chất chung của chủ nghĩa Đế quốc cũng như những
đặc trưng riêng của từng nước Đế quốc; đã hiểu được trình độ phát triển kinh tế, xã
hội, chính trị, văn hoá,... của nhiều nước thuộc địa cùng cảnh ngộ.
Khoảng cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành từ Anh về Pháp, Người sống và
hoạt động tại Pari_một trung tâm văn hóa, khoa học, chính trị của Châu Âu. Ở đây,
nhờ lăn lộn với phong trào quần chúng Pháp, sát cánh với những người yêu nước
Việt Nam và với những người cách mạng các nước khác từ các nước thuộc địa của
Anh, Pháp, Người đã nhanh chóng tiếp cận với phái tả và gia nhập Đảng xã hội
Pháp (12/1919), một chính Đảng duy nhất lúc bấy giờ của nước Pháp đồng tình,
ủng hộ, bênh vực cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa bị áp bức, bóc lột và
theo đuổi những lý tưởng cao đẹp của cách mạng Pháp: “Tự do, bình đẳng, bác ái”.
Người trở thành một chiến sĩ xã hội chủ nghĩa.
Cùng năm đó, nhân dịp Hội nghị hoà bình được tổ chức tại Vécxây, nhân
danh những người Việt Nam yêu nước, Nguyễn Ái Quốc đã gửi tới Hội nghị bản
“Yêu sách của nhân dân An Nam” đòi các quyền tự do, dân chủ tối thiểu cho nhân
dân Việt Nam và mong muốn sự giúp đỡ để giành lại độc lập, tự do cho dân tộc.

ngoài cuộc tranh luận. Muốn tham gia đấu tranh, phải tìm hiểu về lý luận. Tháng 7
năm 1920, Người đã đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc

9


và thuộc địa” của V.I.Lênin đăng trên báo “Nhân đạo”. Trước khi đọc được luận
cương này, Người cũng đã đi đến kết luận: “chủ nghĩa tư bản, đế quốc ở đâu cũng
tàn bạo, độc ác, bất công; người lao động ở đâu cũng bị áp bức, bóc lột, đày đoạ, dù
màu da có khác nhau trên đời này cũng chỉ có hai giống người: giống người bóc lột
và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình
hữu ái vô sản”. Như vậy, tư nhận thức áp bức dân tộc Người đi tới nhận thức áp
bức giai cấp, từ quyền dân tộc tới quyền con người, từ xác định rõ kẻ thù Người
cũng thấy được bạn đồng minh là nhân dân lao động. Và khi đọc bản luận cương
này, Người đã vui mừng đến phát khóc: “Hỡi đồng bào bị đày đoạ đau khổ! Đây là
cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”. Chính luận
cương của Lênin đã giúp Người tìm ra con đường chân chính cho sự nghiệp cứu
nước, giải phóng dân tộc. Người đã biểu quyết tán thành Quốc tế III và tham gia
sáng lập Đảng Cộng Sản Pháp. 30/12/1920, Đại hội Tua kết thúc đánh dấu bước
ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng cũng như trong tư tưởng của Ngươì: từ
chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa cộng sản, tìm thấy con đường giải phóng dân
tộc mình trong sự nghiệp giải phóng tất cả các dân tộc, từ một người yêu nước chân
chính trở thành một chiến sĩ cộng sản.

II. KẾT LUẬN
Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự gặp gỡ giữa trí tuệ lớn của Người với
trí tuệ của dân tộc và trí tuệ của thời đại. Từ phát triển của tư tưởng yêu nước Việt
Nam cuối thế kỉ XIX-đầu XX đến khi bắt gặp chủ nghĩa Mác-Lênin đã làm chuyển
biến tư tưởng của Người. Đó chính là bối cảnh và điều kiện đã hình thành nên tư
tưởng Hồ Chí Minh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status