Tìm hiểu vị trí pháp lý của nhà đầu tư gián tiếp trên thị trường chứng khoán Việt Nam, thực trạng và đề xuất pháp lý - Pdf 34

LỜI MỞ ĐẦU:
Từ khi thị trường chứng khoán chính thức được vận hành ở Việt Nam, hệ thống các
văn bản pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này ngày càng được chú trọng, đầy đủ. Luật chứng
khoán được ban hành là dấu mốc thể hiện chặng đường liên tục xây dựng và củng cố hệ
thống pháp luật về thị trường chứng khoán Việt Nam. Một trong những yêu cầu cơ bản của
Luật chứng khoán là bảo vệ nhà đầu tư tham gia thị trường. mà trong đó các nhà đầu tư tham
gia thị trường chứng khoán với nhiều vai trò và vị trí khác nhau. Trong đó nhà đầu tư gián
tiếp là số đông những người đầu tư tham gia vào thị trường chứng khoán một cách nhỏ lẻ, Từ
những yêu cầu đó chúng ta sẽ “Tìm hiểu vị trí pháp lý của nhà đầu tư gián tiếp trên thị
trường chứng khoán Việt Nam, thực trạng và đề xuất pháp lý”. Tìm hiểu những nội dung
cơ bản nhằm bảo vệ người đầu tư theo Luật Chứng khoán và đề xuất một số ý kiến cá nhân
nhằm đảm bảo thực hiện những qui định này cũng như một số nhận định ban đầu về khả năng
bảo đảm có hiệu quả nhà đầu tư.
NỘI DUNG:
I. Những vấn đề cơ bản về nhà đầu tư gián tiếp.
1.Khái niệm nhà đầu tư gián tiếp.
Khái niệm về nhà đầu tư được quy định tại Điều 3, khoản 4 Luật đầu tư qui định “Nhà
đầu tư là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật Việt
Nam…”, theo đó có “bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài
sản…”. Việc xác định khái niệm nhà đầu tư nói chung cũng như nhà đầu tư trên thị trường
chứng khoán nói riêng có ý nghĩa pháp lý quan trọng. Đối với hoạt động đầu tư gián tiếp,
việc xác định tính chất đầu tư sẽ ảnh hưởng tới thái độ của Nhà nước đối với từng loại chủ
thể.
Khái niệm đầu tư gián tiếp được quy định trong luật đầu tư 2005 như sau:
Khoản 3 Điều 3: “3. Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần,
cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định
chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu
tư”.
Ngoài ra luật còn quy định các hình thức đầu tư gián tiếp trong luật đầu tư:
“Điều 26. Đầu tư gián tiếp
1. Nhà đầu tư thực hiện đầu tư gián tiếp tại Việt Nam theo các hình thức sau đây:

là… bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư”. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với
yêu cầu của hệ thống pháp luật chứng khoán các quốc gia, kể cả các quốc gia có thị trường
chứng khoán phát triển.
2.Vai trò của nhà đầu tư gián tiếp trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Nhà đầu tư gián tiếp trên thị trường chứng khoán Việt Nam bao gồm cả nhà đầu tư
gián tiếp nước ngoài và nhà đầu tư gián tiếp trong nước. Đây là một chủ thể không thể thiếu
trên thị trường chứng khoán, nếu không có những nhà đầu tư này thì cũng đồng nghĩa với
việc không có thị trường chứng khoán sôi động và không thể thu được một nguồn vốn lớn tạo
đà cho phát triển kinh tế ở quốc gia đang phát triển như Việt Nam.
Như vậy, vai trò của nhà đầu tư gián tiếp trên thị trường chứng khoán Việt Nam là rất
quan trọng:
+Góp phần làm tăng nguồn vốn của các doanh nghiệp và làm giảm chi phi vốn thông
qua việc đa dạng hoá rủi ro.
+Thúc đẩy cải cách thể chế và nâng cao kỷ luật đối với các chính sách của chính phủ
về thị trường chứng khoán vì thị trường chứng khoán rất cần cho sự phát triển kinh tế và cải
cách doanh nghiệp nhà nước.
+ Việc các nhà đầu tư gián tiếp trên sàn giao dịch chứng khoán là những người góp
phần quan trọng để tạo nên tính thanh khoản của thị trường.
2.1 Vai trò của nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài.
Nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài là các khoản vốn đầu tư nước ngoài thực hiện qua
định chế tài chính trung gian như các quỹ đầu tư, đầu tư trực tiếp vào cổ phần,các công ty
niêm yết trên thị trường chứng khoán
2


Khi thực hiện đầu tư gián tiếp,các nhà đầu tư nước ngoài không quan tâm đến quá trình
sản xuất và kinh doanh thực tế mà chỉ quan tâm đến lợi tức (với một mức rủi ro nhất định)
hoặc sự an toàn của những chứng khoán mà họ đầu tư vào (với một mức lợi tức nhất định).
Nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài có vị trí rất quan trọng và cần thiết với một quốc gia
đang phát triển như Việt Nam. Các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài đã làm cho thị trường

quản trị kinh doanh, sáp nhập hoặc giải thể). Hệ thống pháp luật, cũng như các cơ quan.
2.2. Vai trò của nhà đầu tư gián tiếp trong nước.
Chứng khoán là một thị trường tài chính cao cấp, đòi hỏi những người có kiến thức
chuyên môn và gặp may mới có thể thành công và tham gia lâu dài được. Nhưng với điều
kiện hiện nay thị trường chứng khoán Việt Nam không thể thiếu các nhà đầu tư nhỏ lẻ mà
tiềm năng trở thành các nhà đầu tư chuyên nghiệp.
Thị trường chứng khoán là một thị trường tài chính cao cấp, đòi hỏi những người có
kiến thức chuyên môn và gặp may mới có thể thành công và tham gia lâu dài được. Nhưng
3


thử hỏi với thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay liệu không có đa phần là các nhà đầu
tư nhỏ lẻ (nhưng tiềm năng trở thành các nhà đầu tư chuyên nghiệp) tham gia thì liệu lượng
vốn hóa trên thị trường có đạt được mục tiêu mà Bộ Tài chính, Chính phủ đặt ra hay không?
Câu trả lời chắc chắn là không.
Vì vậy, chúng ta có thể thấy vài trò của nhà đầu tư gián tiếp đó là tiền mà các nhà đầu
đổ vài thị trường làm gia tăng lượng vốn hóa.
Tuy nhiên trong rất rất nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy thị trường chứng khoán phát
triển bền vững thì một trong những giải pháp tốt nhất là giúp các nhà đầu tư nhận biết rõ hơn
về khoảng giá trị thực của cổ phiếu.

II. Thực trạng về vị trí của nhà đầu tư gián tiếp trên thị trường chứng khoán Việt
Nam.
1. Nhà đầu tư khốn đốn khi công ty chứng khoán phá sản.
Nếu công ty chứng khoán phá sản thì ai sẽ đứng ra bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư khi
tài sản (chứng khoán, tiền) của họ đang ký gửi tại công ty chứng khoán? Việc công ty chứng
khoán chần chừ chuyển tiền nhà đầu tư sang ngân hàng quản lý cho thấy mối lợi quá lớn từ
việc “ghim” tiền của nhà đầu tư lại. Một ngân hàng được xem là đầu mối để các công ty
chứng khoán kết nối cho biết, đến nay mới có hơn chục công ty chứng khoán chuyển tài
khoản nhà đầu tư sang ngân hàng quản lý, nhưng việc kết nối chỉ mang tính đối phó.

bảo hiểm, nên không tham gia.
Phía công ty bảo hiểm cũng chưa mạnh dạn cung cấp dịch vụ này do ngại rủi ro và còn
quá mới tại Việt Nam. Năm 2000, Bảo Việt đã có ý định cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho các
hoạt động trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Dự kiến, có 4 loại hình bảo hiểm được thực hiện, đó là bảo hiểm trách nhiệm nghề
nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm giám đốc và viên chức, bảo hiểm tổn thất về tài chính, bảo
hiểm tội phạm máy tính và gian lận điện tử. Vì nhiều lý do, đến nay dịch vụ này vẫn chưa
được Bảo Việt triển khai.
Vào đầu năm 2007, khi thị trường chứng khoán tăng trưởng nóng, Công ty Bảo hiểm
Gras Savoye Willis Vietnam đã triển khai một số sản phẩm bảo hiểm chứng khoán. Doanh
nghiệp này giới thiệu 3 nghiệp vụ bảo hiểm.
Thứ nhất là bảo hiểm tổng hợp bảo vệ hoạt động hàng ngày của công ty chứng khoán
như: mất chứng từ trong quá trình vận chuyển, bị mất cắp giấy tờ, tài sản, do bị phá hoại…
Thứ hai là bảo hiểm trách nhiệm, bảo hiểm cho công ty chứng khoán khi nhân viên của
họ làm sai nghiệp vụ, đầu tư không đúng theo yêu cầu của khách hàng, giao dịch không đúng
quy định, sử dụng tài khoản của khách hàng để trục lợi, tư vấn sai lệch…
Thứ ba là bảo hiểm dành cho cán bộ điều hành công ty chứng khoán trước những quyết
định đầu tư, quản lý của họ… Theo Gras Savoye Willis Vietnam, nhiều quỹ đầu tư hoạt động
tại Việt Nam như VinaCapital, Dragon Capital, Mekong Capital, Indochina Capital… đều đã
sử dụng loại hình bảo hiểm này, trong khi số lượng công ty chứng khoán tham gia vẫn quá ít.
Hiện chỉ có 1 công ty chứng khoán tham gia mua bảo hiểm của công ty bảo hiểm nói
trên được 1 năm, nhưng tới đây công ty chứng khoán này cũng chấm dứt do điều khoản bảo
hiểm quá chặt chẽ. Có những lỗi xảy ra phổ biến thì không được bảo hiểm, trong khi tổn thất
được bảo hiểm lại ít khi xảy ra.
Theo giám đốc công ty chứng khoán này, việc mua bảo hiểm là tự nguyện, vì phần lớn
công ty chứng khoán khác không mua nhưng đến nay cũng không bị xử phạt gì.
Như vậy, mặc dù quy định trong luật đã rõ, công ty chứng khoán phải mua bảo hiểm
nghiệp vụ, nhưng việc không tuân thủ quy định này đang diễn ra phổ biến. Hiện cũng chưa có
quy định cụ thể nào nếu công ty chứng khoán phá sản (nhưng không mua bảo hiểm) làm thất
thoát tài sản của nhà đầu tư thì sẽ xử lý ra sao?

khoán, về thực hiện quản lý công ty trong sổ sách chứng từ, về các quy định trong thực hiện
đạo đức nghề nghiệp... chưa đầy đủ.
+ Các bản phân tích, dự báo thị trường xuất hiện khá đều đặn và ngày càng nâng cao
chất lượng. Tuy nhiên, cùng với thị trường, tính xác thực, tính vô tư và chính xác của các bản
phân tích này chưa đạt độ tin cậy. Chưa có các chuyên gia phân tích cao cấp xác nhận các bản
phân tích này trước khi công bố ra công chúng.
+ Việc theo dõi, kiểm tra các thông tin sau khi công bố trên các phương tiện đại chúng
gần như buông lỏng. Vì vậy, các ảnh hưởng của thông tin sai lệch tới nhà đầu tư nhỏ lẻ không
được kiểm soát và điều chỉnh kịp thời.
- Vấn đề quản trị công ty còn yếu kém
Mặc dù Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định 12/2007 ngày 13/3/2007 về việc quản trị
công ty, nhiều công ty đại chúng đã quan tâm nhiều hơn đến thực hiện nghĩa vụ bảo vệ nhà
đầu tư nhỏ, song cho đến nay, vẫn là khoảng trống to lớn trên thực tế.
+ Luật Chứng khoán quy định công ty chứng khoán có nghĩa vụ “mua bảo hiểm trách
nhiệm nghề nghiệp cho cán bộ quản lý và nhân viên hành nghề tại công ty hoặc trích lập quỹ
bảo vệ nhà đầu tư do sơ suất kỹ thuật và sơ suất của nhân viên trong công ty”. Tuy nhiên, quy
định trích lập quỹ bảo vệ nhà đầu tư chưa được thực hiện, ủy ban chứng khoán nhà nước
cũng chưa phạt công ty chứng khoán không thực hiện nghĩa vụ lập quỹ bảo vệ nhà đầu tư.
+ Vấn đề vi phạm các quy định về người liên quan, người có quyền lợi liên quan... ở
các công ty đại chúng trong các giao dịch ủy quyền, trong góp vốn vào các công ty con là phổ
biến.
+ Việc quan tâm tới bổ sung điều lệ công ty, nghị quyết đại hội đồng cổ đông trong đại
hội rất ít (theo nghiên cứu của CIEM, chỉ có khoảng 8% có bổ sung). Tiếng nói của cổ đông
nhỏ là gần như không có.
6


+ Vấn đề lương, thưởng của thành viên Hội đồng quản trị, ban lãnh đạo... mặc dù vẫn
thông qua đại hội đồng cổ đông, song, chiếm tỷ lệ lớn trong tổng lợi nhuận của công ty, gây
ảnh hưởng đến cổ tức của cổ đông nhỏ.

lần số liệu trước đó (64, 1 tỷ đồng) được công bố tại báo cáo điều chỉnh ngày 18/8, tác động
lớn đến giao dịch của nhà đầu tư.
Qua tìm hiểu vụ việc, thì QCG không có vi phạm về pháp luật về vụ việc này, tuy
nhiên, sự “lách luật” của QCG đã làm không ít nhà đầu tư phải lao đao khốn đốn.
Vậy pháp luật cần có quy định như thế nào để bảo vệ nhà đầu tư trong những tình
huống tương tự? Bởi các nhà đầu tư nhỏ (gián tiếp) thường rất ít kinh nghiệm và kiến thức
chuyên sâu về thị trường chứng khoán.
Các quy định về quỹ đầu tư
Quỹ đại chúng là quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện chào bán chứng chỉ quỹ ra công
chúng. Quỹ đại chúng thường có số lượng nhà đầu tư tham gia đông đảo, trong đó có nhiều
nhà đầu tư không chuyên nghiệp và các nhà đầu tư nhỏ, các nhà đầu tư gián tiếp. Quỹ đại
chúng là mô hình tạo điều kiện thu hút những nguồn vốn nhàn rỗi nhỏ thành một lượng vốn
7


lớn để đầu tư chứng khoán có hiệu quả. Quỹ đại chúng có hai loại là quỹ mở và quỹ đóng.
Trong quá trình quản lý quỹ đại chúng, hoạt động đầu tư của quỹ do công ty quản lý quỹ thực
hiện chịu nhiều sự hạn chế của pháp luật. Theo Luật chứng khoán 2006, công ty quản lý quỹ
không được sử dụng vốn và tài sản của quỹ đầu tư chứng khoán để thực hiện các hoạt động
sau đây:
Đầu tư vào chứng chỉ quỹ của chính quỹ đại chúng đó hoặc của một quỹ đầu tư khác;
Đầu tư vào chứng khoán của một tổ chức phát hành quá 15% tổng giá trị chứng khoán
đang lưu hành của tổ chức đó;
Đầu tư quá 20% tổng giá trị tài sản của quỹ vào chứng khoán đang lưu hành của một tổ
chức phát hành;
Đầu tư quá 10% tổng giá trị tài sản của quỹ đóng vào bất động sản; đầu tư vốn của quỹ
mở vào bất động sản;
Đầu tư quá 30% tổng giá trị tài sản của quỹ đại chúng vào các công ty trong cùng một
nhóm công ty có quan hệ sở hữu với nhau;
Cho vay hoặc bảo lãnh cho bất kỳ khoản vay nào.

việc quản trị công ty theo điều lệ mẫu, giao cho các vụ chức năng quản lý chặt chẽ các đối
tượng phải đi học về quản trị công ty trong các công ty đại chúng, báo cáo thường xuyên cho
Ủy ban, coi đó là một chỉ tiêu đánh giá và xếp hạng đối với doanh nghiệp. Ủy ban giao cho
Trung tâm NCKH & Đào tạo Chứng khoán thực hiện đào tạo về quản trị công ty đối với công
ty đại chúng, tiến tới thành lập Viện Quản trị công ty với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế.
- Có thể giao cho các hiệp hội trong ngành chứng khoán thống nhất các quy tắc về đạo
đức nghề nghiệp trong lĩnh vực chứng khoán, bao gồm cả cổ phiếu và trái phiếu, đào tạo bắt
buộc và tập huấn thường xuyên đối với người hành nghề chứng khoán. Sớm nghiên cứu xây
dựng một danh sách những người hành nghề vi phạm luật pháp khi hành nghề, công bố rộng
rãi trong các thành viên thị trường trên các trang điện tử và văn bản để ngăn ngừa, chấn chỉnh
tư cách hành nghề.
- Siết chặt hơn công tác giám sát thị trường đối với công ty đại chúng, công khai các
chế tài và mức phạt thường xuyên đối với các hành vi vi phạm quy định. Có thể lập, công bố
và lưu giữ danh sách các công ty đại chúng đưa vào “danh sách đen” trong thực thi Luật
Chứng khoán khi vi phạm Luật này cũng như vi phạm các quy định về bảo vệ nhà đầu tư nhỏ.
- Các vụ chức năng của ủy ban chứng khoán nhà nước: Siết chặt hơn việc quản lý
người hành nghề chứng khoán, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, thường xuyên theo
dõi điều kiện và tư cách hành nghề của người hành nghề chứng khoán; Phối hợp với Trung
tâm nghiên cứu khách hàng và Đào tạo Chứng khoán trong việc tập huấn, bồi dưỡng... người
hành nghề trong các công ty chứng khoán để đảm bảo điều kiện hành nghề theo luật định,
tránh kéo dài tình trạng hành nghề “chui” hoặc “nợ” chứng chỉ; Phối hợp với các hiệp hội
trong ngành chứng khoán trong việc theo dõi về đạo đức nghề nghiệp của người hành nghề
chứng khoán.
Đối với công ty đại chúng
Bên cạnh các hoạt động chuyên môn, công ty đại chúng cần có tầm nhìn dài hạn về sự
phát triển của doanh nghiệp. Thực tế của thời kỳ khủng hoảng tài chính 2008 cho thấy, nếu
công ty làm ăn trung thực, coi trọng nhà đầu tư thì nhà đầu tư và cổ đông không bỏ rơi công
ty lúc hoạn nạn. Vì vậy, giới lãnh đạo doanh nghiệp cần:
- Thực hiện nghiêm túc Luật Doanh nghiệp trong việc tổ chức đại hội đồng cổ đông,
trong công bố và thực thi các báo cáo tài chính bán niên và thường niên.

trong lĩnh vực chứng khoán. Nên chăng nhà lập pháp Việt Nam tiếp tục xem xét vấn đề này.
Luật Hải quan, Dự thảo Luật Quản lý thuế đề xuất quyền của thanh tra hải quan, thanh tra
thuế tham gia quá trình điều tra các hành vi phạm tội trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, quản lý
thuế, thanh tra chứng khoán cũng cần được đặt ở vị trí tương tự.
Đối với việc công bố thông tin
Tạo điều kiện tiếp cận cơ hội đầu tư chính xác, trung thực. Tiếp cận cơ hội đầu tư
chính xác và trung thực là điều kiện quan trọng để hoạt động đầu tư có hiệu quả. Sẽ không có
nhiều tranh luận khi đặt vai trò của công khai hoá mọi cơ hội đầu tư với phương thức công bố
và cơ hội tiếp nhận thông tin tốt nhất. Những qui định về phát hành đại chúng cùng với chế
độ công bố thông tin thể hiện rõ ràng, chi tiết những yêu cầu này. Chế độ phát hành đại chúng
theo Luật chứng khoán với yêu cầu cụ thể giúp nhà đầu tư tiếp nhận thông tin chính xác, bao
gồm thông tin các sự kiện quan trọng và các chứng khoán dự kiến chào bán. Mằc dù chứng
khoán được chào bán không có đảm bảo về chất lượng từ phía cơ quan quản lý nhà nước
nhưng những điều kiện của tổ chức phát hành đại chúng đã cho thấy các chuẩn mực đạt được
để nhà đầu tư tự quyết định việc mua chứng khoán. Các qui định liên quan đền điều kiện
chào bán, trình tự, thủ tục đăng ký chào bán cũng là cơ sở để duy trì niềm tin của công chúng
đối với tổ chức phát hành. cụ thể hoá yêu cầu về công bố thông tin. Bên cạnh những ưu điểm
nổi trội của chế độ công bố thông tin ghi nhận trong Luật Chứng khoán, cần tiếp tục xác định
nội dung thông tin công bố, trình tự, thời gian công bố, đối tượng phải thực hiện công bố
thông tin… Qui định tốt những vấn đề này việc kiểm tra, giám sát, tuân thủ pháp luật của các
chủ thể mới có đủ cơ sở pháp lý để thực hiện.
Đối với công ty quản lý quỹ - quỹ đầu tư chứng khoán
Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm
hữu hạn, được ủy ban chứng khoán nhà nước cấp giấy phép thành lập và hoạt động để thành
lập và quản lý quỹ đầu tư chứng khoán. Bên cạnh đó, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng
khoán có thể thực hiện hoạt động quản lý danh mục đầu tư theo sự uỷ thác của khách hàng.
Thủ tục thành lập và điều kiện thành lập công ty quản lý quỹ tương tự như đối với công ty
chứng khoán.
Trong hoạt động quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, công ty quản lý quỹ có những nghĩa
vụ sau đây:

Thứ nhất, vấn đề tạo điều kiện tham gia đầu tư của các đối tượng trong xã hội. Điểm
cơ bản của Luật chứng khoán trong việc xác nhận quyền tham gia đầu tư dưới mọi hình thức
của các tổ chức, cá nhân vào thị trường chứng khoán. Điều 4, khoản 1 Luật Chứng khoán qui
định: Tôn trọng quyền tự do mua, bán, kinh doanh và dịch vụ chứng khoán của tổ chức, cá
nhân, tạo điều kiện cho không chỉ các nhà đầu tư trong nước mà còn cho các nhà đầu tư nước
ngoài. Cơ hội tham gia đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán
Việt Nam rất hạn chế (kể cả hình thức tham gia đầu tư trực tiếp và các nhà đầu tư chứng
khoán nước ngoài khi lựa chọn hình thức thực hiện đầu tư trực tiếp và tỷ lệ nắm giữ chứng
khoán doanh nghiệp). Xuyên suốt Luật Chứng khoán có thể nhận thấy, bóng dáng của những
qui định cho các nhà đầu tư nước ngoài rất ít xuất hiện. Đây là một bước tiến đáng kể của
Luật Chứng khoán vì điều đó có nghĩa văn bản quan trọng này không có sự phân biệt giữa
nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, áp dụng những qui định chung cho các đối
tượng đầu tư.
Thứ hai, thực sự tạo điều kiện cho nhà đầu tư tham gia thị trường bên cạnh yêu cầu
phải đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư không chuyên nghiệp và ổn định thị trường. Vấn
đề này được đề cập, xem xét ở hai khía cạnh. Đối với nhà đầu tư trong nước, cần rất cẩn
11


trọng đối với việc cho phép cá nhân đầu tư trực tiếp trên thị trường chứng khoán. Sự ổn định
thị trường chính là niềm tin quan trọng của dân chúng, nếu bị tổn hại, nhà đầu tư trong nước
sẽ quay lưng lại thị trường. Điều 66 Luật Chứng khoán qui định công ty chứng khoán có thể
là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn, trong khi đó Điều 63 Luật Doanh
nghiệp (2005) qui định “công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một
tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ”. Như vậy, cá nhân có thể thành lập công ty chứng khoán.
Bên cạnh đó, Điều 67 Luật Chứng khoán cũng qui định công ty chứng khoán có thể thực hiện
tất cả các hoạt động kinh doanh chứng khoán nếu có đủ vốn cho từng nội dung kinh doanh,
không phân biệt công ty đó tồn tại dưới mô hình nào. Đối với các lĩnh vực có tính rủi ro hệ
thống như ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, việc cá nhân tham gia kinh doanh thường
được các quốc gia rất thận trọng, kể cả quốc gia có thị trường chứng khoán phát triển. Đối

Thứ tư, tiếp tục duy trì chính sách ưu đãi tài chính đối với các nhà đầu tư tham gia thị
trường, không phân biệt nhà đầu tư có tổ chức hay nhà đầu tư cá thể, đầu tư trực tiếp hay đầu
tư gián tiếp. Hệ thống pháp luật thuế hiện hành đang có chính sách ưu đãi đối với hoạt động
đầu tư trên thị trường chứng khoán nhưng có sự phân biệt giữa đầu tư trực tiếp và đầu tư gián
12


tiếp, đầu tư có tổ chức và đầu tư cá thể. Cá nhân đầu tư được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập
nhưng nếu là tổ chức đầu tư, thuế thu nhập doanh nghiệp vẫn được xác định bình thường. Đối
với hoạt động tự doanh, công ty chứng khoán phải thực hiện nghĩa vụ thuế nhưng đối với
hoạt động đầu tư của quĩ đầu tư chứng khoán, công ty quản lý quĩ đầu tư chứng khoán chưa
phải thực hiện thay cho quĩ đầu tư.
KẾT LUẬN:
Luật chỉ có thể đi vào cuộc sống khi nó có đầy đủ các biện pháp đảm bảo thực hiện.
Với những hiện trạng của thị trường chứng khoán Việt Nam, bên cạnh việc duy trì tiếp tục
những thành quả đạt được của các hoạt động hiện hành, cần có những giải pháp để duy trì và
bảo vệ ví trị của nhà đầu tư của cả trong nước và nước ngoài. Đảm bảo môi trường cạnh tranh
đầu tư chứng khoán lành mạnh. Tạo cơ hội cho tất cả các nhà đầu tư dưới bất kỳ hình thức
đầu tư nào.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Nghị định 85/2010/NĐ-CP về xử phạt hành chính về chứng khoán (có hiệu lực từ
ngày 20/9/2010)
- vneconomy.com.vn
- “Quản trị công ty”- Trung tâm NCKH&ĐT chứng khoán- UBCKNN
- Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Chứng khoán 2006.
- Bàn về bảo vệ nhà đầu tư theo Luật chứng khoán và vấn đề bảo đảm thực hiện

- Bảo vệ nhà đầu tư nhỏ trên thị trường chứng khoán Việt Nam - PGS.TS. LÊ HOÀNG
NGA – Ủy ban Chứng khoán Nhà nước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status