LỜI MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam, mặc dù hoạt động trung gian thương mại đã xuất hiện từ
lâu nhưng thực sự mới bắt đầu phát triển trong vài năm gần đây. Các hoạt động
trung gian thương mại chính thức được ghi nhận trong LTM 1997 và tiếp tục quy
định trong LTM 2005 trên cơ sở kế thừa, sửa đổi có bổ sung. Trước nhu cầu của hội
nhập kinh tế quốc tế, trước thực trạng pháp luật điều chỉnh các hoạt động trung gian
thương mại ở Việt Nam thì việc cần thiết phải nghiên cứu một cách đầy đủ các vấn
đề lí luận cũng như thực tiễn pháp luật về các hình thức hoạt động trung gian
thương mại. Vậy, để góp phần hoàn thiện pháp luật điều chỉnh loại hoạt động
thương mại này bài viết xin tập trung phân tích về vấn đề “Những hạn chế trong
quy định của pháp luật về môi giới thương mại và đề xuất giải pháp hoàn thiện”
1
NỘI DUNG
I. Khái quát chung về môi giới thương mại
Quan điểm về môi giới thương mại của Việt Nam về cơ bản giống với quan
điểm về môi giới thương mại của các nước theo hệ thống pháp luật châu âu lục địa.
Điểm nổi bật của môi giới thương mại là khi thực hiện hoạt động này, bên môi giới
không phải là đại diện cho các bên được môi giới. Bên môi giới không có chức
năng thực hiện giao dịch có tính pháp lý mà chỉ là một thương nhân chuyên làm
trung gian cho các bên chuyên làm môi giới tiếp xúc với nhau để giao kết hợp
đồng. Trong hoạt động môi giới thương mại, thong thường bên trung gian( bên môi
giới) chỉ có quan hệ với bên thuê dịch vụ mà không có quan hệ với bên thứ ba (trừ
trường hợp bên môi giới cũng kí hợp đồng với người này). Đây là điểm giống cơ
bản của hoạt động môi giới với hoạt động đại diện thương mại. Tuy nhiên, khác
với đại diện thương mại,bên môi giới không có một quan hệ ủy quyền liên tục đối
với một trong các bên mà mình chắp nối. Trong hoạt động môi giới thương mại
bên môi giới không nhân danh bên được môi giới để gia dịch cũng như thực hiện
hang hóa dịch vụ hạn chế kinh doanh hoặc kinh doanh dịch vụ có điều kiện đòi hỏi
bên môi giới phải có các điều kiện theo quy định của Nghị định 59/2006/ NĐ-CP
ngày 12-6-2006 và các Luật chuyên ngành. Ví dụ, bên môi giới bảo hiểm phải là
doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đáp ứng đầy đủ các quy định về điều kiện thành
lập doanh nghiệp môi giới bảo hiểm tại Luật kinh doanh bảo hiểm và Nghị định
hướng dẫn thi hành…
Đối với bên được môi giới, các quy định của mục 2 chương V LTM 2005
không thể hiện bên được môi giới có nhất thiết phải là thương nhân hay không.
Nhưng nếu căn cứ vào Điều 3 khoản 11 định nghĩa về các hoạt động trung gian
thương mại trong đó có hoạt động môi giới thương mại thì bên được môi giới cũng
phải là thương nhân. Điều này dẫn đến nhiều bất hợp lý trong cách hiểu như sau:
Thứ nhất, bên được môi giới là chủ thể có nhu cầu sử dụng dịch vụ môi giới chứ
không thực hiện dịch vụ này do đó không thể bắt buộc là thương nhân; Thứ hai,
3
nếu bên được môi giới cũng là thương nhân thì quan hệ giữa bên môi giới với bên
được môi giới không phải là thương nhân sẽ không phải là môi giới thương mại và
sẽ không thuộc sự điều chỉnh của LTM mà chịu sự điều chỉnh của Bộ luật dân sự.
Các quy định về môi giới thương mại sẽ không được áp dụng cho bên là thương
nhân.
Theo LTM 2005 và các luật hiện hành khác quy định về môi giới thương mại
thì khi thực hiện hoạt động môi giới thương mại, bên môi giới nhân danh chính
mình để quan hệ với các bên được môi giới và là người trung gian cho các bên
trong quan hệ giao dịch thương mại, giới thiệu cho các bên cơ hội giao kết hợp
đồng, cung cấp các dịnh vụ hỗ trợ có liên quan đến những giao dịch thương mại.
Nếu bên môi giới thay mặt bên được môi giới kí hợp đồng với bên thứ ba thì họ sẽ
trở thành đại diện không đúng thẩm quyền của bên được môi giới. Tuy nhiên,
LTM 2005 của Việt Nam không cấm bên được môi giới ủy quyền cho bên môi giới
kí hợp đồng với khách hành. Trong trường hợp này, bên môi giới hành động với tư
đồng với bên thứ ba Điều 151 khoản 2 LTM 2005 quy định: “bên môi giới không
được tiết lộ cung cấp thông tin làm phương hại đến lợi ích của bên được môi
giới”. Tuy nhiên ở khía cạnh khác quy định này dẫn đến cách hiểu là bên được môi
giới sẽ không được quyền cung cấp thông tin có liên quan đến giao dịch mà họ
chắp nối bởi trong nhiều trường hợp việc cung cấp thông tin cho bên thứ ba có thể
làm phương hại lợi ích của bên được môi giới. Do đó, quy định này có thể cản trở
hoạt động môi giới trung thực của bên môi giới, làm cho hoạt động mô giới thương
mại khó có thể trở thành chuyên nghiệp. Có thể thấy, trong quá trình môi giới,
người môi giới phải chịu trách nhiệm về tư cách pháp lí của các bên tham gia giao
dịch mà họ dự định chắp nối do chỉ là người trung gian đứng giữa trong quan hệ
giao dịch thương mại nên bên môi giới không phải chịu trách nhiệm về khả năng
thanh toán của các bên được môi giới. Tuy nhiên, quy định về bảo đảm tư cách
pháp lí của các bên được môi giới có lẽ chỉ phù hợp với dịch vụ môi giới là thương
nhân còn trong dịch vụ môi giới là cá nhân việc xác định tư cách pháp lí của các
bên là rất khó và thực sự không cần thiết. Nhiệm vụ của người môi giới là làm sao
5
để các bên đi đến thống nhất thỏa thuận kí kết hợp đồng còn việc hợp đồng được
thực hiện như thế nào thì không phải trách nhiệm của họ.
Bên cạnh những nghĩa vụ phải thực hiện, bên môi giới được hưởng một số
quyền rất quan trọng như quyền được thanh toán các chi phí phát sinh liên quan
đến việc môi giới. Điều 154 LTM 2005 quy định “trừ trường hợp có thoản thuận
khác, bên được môi giới phải thanh toan các chi phí hợp li liên quan đến việc môi
giới…”. Đây có thể hiểu là chi phí tối thiểu của bên môi giới trong việc tìm kiếm
đối tác cho người nhờ moi giới trong một khoảng thời gian nhất định. Nếu bên
được môi giới không sử dụng dịch vụ của bên môi giới thì khoản thu đó có thể
được xem là khoản chi phí cho việc môi giới, nhưng không có kết quả. Nhưng nếu
giao dịch thành công thì bên môi giới sẽ được hưởng thù lao. Tuy nhiên, LTM
2005 không có sự phân định rõ rằng khi nào thì bên môi giới được hưởng thù lao
có nghĩa vụ trả thù lao hoặc chi phí cho bên môi giới. Trong trường hợp này pháp
luật chưa phân biệt giới hạn của việc sử dụng dịch vụ môi giới và mục đích của
bên được môi giới đặt ra.
3. Một số đề xuất giải pháp hoàn thiện môi giới thương mại.
Thứ nhất, xác định rõ điều kiện chủ thể tham gia quan hệ môi giới thương mại.
Là một loại hoạt động trung gian thương mại, quan hệ môi giới thương mại
cũng được phát sinh giữa bên thuê dịch vụ (bên được môi giới) và bên thực hiện
dịch vụ (bên môi giới). So sánh với các loại hoạt động trung gian thương mại
khác được quy định trong LTM 2005 như: hoạt động đại diện cho thương nhân, ủy
thác mua bán hành hóa, đại lý thương mại, có thể thấy trong hoạt động môi giới
thương mại luật chỉ quy định điều kiện của bên môi giới mà không quy định điều
kiện của bên được môi giới, còn các hoạt động trung gian thương mại khác, LTM
quy định điều kiện của cả bên thuê dịch vụ và bên thực hiện dịch vụ. Do LTM
2005 không quy định điều kiện của bên được môi giới nên có ý kiến cho rằng quan
hệ môi giới thương mại có thể phát sinh giữa bên môi giới (phải là thương nhân)
còn bên được môi giới là bất cứ ai. Để có cơ sở pháp lý trong việc xác định hoạt
động nào là oạt động môi giới thương mại, tránh những tranh cãi không cần thiết
7
chúng tôi cho rằng LTM cần quy định rõ điều kiện của bên cần môi giới trong hoạt
động trung gian thương mại này. Theo tôi, hoạt đọng môi giới phát sinh giữa bên
môi giới (là thương nhân có đăng ký kinh doanh dịch vụ môi giới thương mại) với
bên được môi giới (không nhất thiết phải là thương nhân).
Thứ hai, LTM 2005 không quy định hình thức của hợp đồng môi giới
thương mại, trong khi các hoạt động trung gian thương mại khác có quy định hình
thức của hợp đồng phát sinh giữa bên thuê dịch vụ và bên thực hiện dịch vụ trung
gian. Vì vậy, để có cơ sở pháp lý rõ rang cho các bên tham gia quan hệ môi giới
thương mại dễ dàng xác lập hợp đồng văn bản hướng dẫn thi hành LTM cần quy
định hình thức hợp đồng môi giới thương mại phù hợp với hình thức của các loại
được đóng góp của thầy cô để bài làm hoàn thiện hơn.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Luật thương mại Việt Nam, TS. Phạm Duy Nghĩa, Nxb.
Đại học quốc gia Hà Nội.
2. STAR- Việt Nam 2004, Bình luận về dự thảo Luật thương mại sửa
đổi, Hà Nội
3. Pháp luật điều chỉnh hoạt động trung gian thương mại ở Việt Nam,
Nguyễn Thị Vân Anh- Luận án tiến sĩ luật học, HN 2007.
9
4. Chuyên khảo Luật kinh tế, TS. Phạm Duy Nghĩa, Nxb. Đại học quốc
gia Hà Nội.
5. Lê Hoàng Oanh (2004), Hoàn thiện pháp luật thương mại hàng hóa
của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Luận án tiến sĩ
luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
6. Các hình thức pháp lý chủ yếu của trung gian thương mại, TS Nguyễn
Thị Vân Anh, Trường Đại học Luật Hà Nội.
7. Hỏi đáp Luật thương mại, TS Nguyễn Thị Dung chủ biên, NXB chính
trị hành chính.
10
MỤC LỤC
11