Bài Làm.
A. Đặt vấn đề.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng rất đa dạng, một trong
những sự đa dạng đó là đối tượng bị xâm phạm, bị gây thiệt hại. Đối tượng
bị xâm phạm có thể là tài sản nhưng cũng có thể là tính mạng, sức khỏe,danh
dự, nhân phẩm, uy tín. Vì khi xã hội càng tiến bộ thì quyền con người nói
chung và quyền nhân thân nói riêng càng được tôn trọng và bảo vệ tốt hơn.
Từ nhiều năm trước đây, các quốc gia đã nhận thức được tầm quan trọng của
việc công nhận và bảo vệ quyền đối với danh dự, nhân phẩm, uy tín. Điều
này được thể hiện rất rõ trong các văn bản pháp luật quốc tế về quyền con
người và pháp luật Việt Nam. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng công cụ, biện pháp hữu hiệu để Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân. Trong bài tiểu luận này em xin chọn đề tài “ trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của
người khác”.
1
B. Giải quyết vấn đề
I. Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
1. Khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Xét về nguồn gốc lịch sử chế định bồi thường thiệt hại là ngoài hợp đồng là chế
định có lịch sử sớm nhất của pháp luật dân sự. Trong các bộ luật cổ Quốc triều
hình luật và Hoàng Việt luật lệ cũng quy định về trách nhiệm dân sự theo hình thức
tương tự nhưng không quy định riêng về trách nhiệm dân sự mà nó mang tính hình
phạt của hình sự và phạt mang tính chất dân sự theo hướng có lợi cho người bị
thiệt hại. Và trong Bộ luật dân sự năm 2005 đã hoàn thiện hơn các quy định về
trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Một nguyên tắc đã được cụ thể hóa trong văn bản
pháp luật đó là ai gây thiệt hại thì người đó phải bồi thường.
Trước hết, ta tìm hiểu thế nào là bồi thường thiệt hại?
phẩm và các quyền nhân thân khác của cá nhân, tài sản , danh dự,
uy tín của pháp nhân. Khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt
hại: “ Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại
trách nhiệm pháp lý được phát sinh dựa trên các điều kiện do
pháp luật quy định khi một chủ thể có hành vi gây thiệt hại cho
các lợi ích được pháp luật bảo vệ”
2. Ý nghĩa của việc quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có ý nghĩa pháp lý và ý nghĩa xã
hội sâu sắc.
3
Thứ nhất, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng góp phần bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác.
Thứ hai, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bảo đảm công bằng xã
hội , bằng việc buộc người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm trong bồi thường
thiệt hại do hành vi của mình gây ra, góp phần bảo đảm công bằng xã hội.
Thứ ba, góp phần răn đe, giáo dục, phòng ngừa các hành vi vi phạm nói chung gây
thiệt hại trái pháp luật nói riêng. Ngoài người gây thiệt hại những người khác cũng
sẽ thấy rằng nếu mình có hành vi gây thiệt hại thì cũng chịu xử lý theo luật.
3. So sánh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tài sản với trách nhiệm
bồi thường do xâm phạm đến quyền danh dự, nhân phẩm, uy tín.
Giống nhau: đều là một loại trách nhiệm pháp lý, đây là thái độ của Nhà nước đối
với hành vi vi phạm và hậu quả của hành vi đó gây ra. Hơn nữa, đều là biện pháp
cưỡng chế Nhà nước được áp dụng đối với người vi phạm phải chịu trách nhiệm
về hành vi của mình.
Và đều là một loại trách nhiệm pháp lý nên chỉ phát sinh khi và chỉ khi dựa trên
căn cứ do pháp luật quy định có thiệt hại, có hành vi trái pháp luật, có mối quan hệ
nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và có thiệt hại xảy ra, có lỗi của người gây
thiệt hại.
chức. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm chi phí
hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút
do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.
- Tuy nhiên, khi một người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại về danh dự,
uy tín, nhân phẩm của người khác thì thiệt hại được xác định như thế nào?
Bởi vì về nguyên tắc không thể trị giá được bằng tiền theo nguyên tắc ngang
5
giá như trong trao đổi và không thể phục hồi được. Đây là những thiệt hại về
tinh thần , là những thiệt hại phi vật chất, không thể có công thức chung để
quy ra tiền áp dụng được. Việc giải quyết bồi thường bằng cách lấy một
khoản tiền bỳ đắp tổn thất về tinh thần cũng chỉ nhằm an ủi, động viên làm
dịu đi nỗi đau cho chính nạn nhân. Theo quy định tại Điều 307 BLDS
“người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó thì ngoài việc
chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường
một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại.
• Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật.
Phải có hành vi gây thiệt hại và hành vi này bị pháp luật cấm, không cho phép
thực hiện. Khi một người có hành vi trái pháp luật xâm phạm tới các quyền và lợi
ích được pháp luật bảo vệ thì người xâm phạm phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi do
hành vi của mình gây ra.
Với ý nghĩa là sự kiện pháp lý làm phát sinh hậu quả pháp lý, hành vi trái pháp luật
là hành vi có ý thức của con người diễn ra trái với quy định của pháp luật. Do đó
những hành vi được pháp luật cho phép gây thiệt hại thì người thực hiện hành vi đó
không phải chịu trách nhiệm bồi thường. Ví dụ do yêu cầu của nghề nghiệp phải
gây thiệt hai, phòng vệ chính đáng… Cơ sở để xác định hành vi trái pháp luật là
căn cứ vào các quy định của pháp luật trong từng trường hợp cụ thể.
Hành vi gây thiệt hại có thể được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành
7
Pháp luật Việt Nam cũng có nhiều quy định nhằm bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy
tín của cá nhân và bảo vệ danh dự, uy tín của tổ chức. Tại Điều 71 Hiến pháp năm
1992 quy định về quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín là một trong
những quyền cơ bản của công dân: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân
thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm…
Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm
của công dân”.
Quyền được bảo vệ danh dự và nhân phẩm là một quyền có tính cách tổng quát
được quy định trong Hiến pháp chứ không chỉ thuần túy là một quyền dân sự,
nhưng luật dân sự có nhiệm vụ cùng các ngành luật khác bằng những phương tiện
riêng của mình góp phần bảo vệ danh dự, nhân phẩm của cá nhân, danh dự, uy tín
của một tổ chức một khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.Cụ thể tại Điều
611là biện pháp pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
“1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm, thiệt hại do
danh dự, uy tín của pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm bao gồm:
a. Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;
b. Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.
Người xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác phải bồi thường thiệt
hại theo quy định tại khoản 1 điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất
về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần
do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa không quá mười
tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định”.
Cụ thể, theo Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 8/7/2006 của Hội đồng thẩm
phán Toà án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân
8
sút nếu trước khi bị xâm phạm, các chủ thể này có thu nhập thực tế, tuy nhiên do
danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm nên thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm
sút. Đối với thiệt hại, trong mọi trường hợp khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm
phạm, bên bị xâm phạm được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần.
Hình thức bồi thường: Hình thức là cách thức thực hiện nghĩa vụ của bên gây thiệt
hại đối với bên bị thiệt hại, hình thức do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy
định. Đối với thiệt hại do bị xâm phạm về danh dự, uy tín, nhân phẩm thì hình
thức bồi thường mà Tòa án thường áp dụng đó là bồi thường bằng tiền do tính chất
đặc biệt của loại thiệt hại này. Các bên có thỏa thuận theo phương thức bồi thường
một lần hoặc bồi thường nhiều lần tùy theo điều kiện kinh tế, hoàn cảnh cụ thể.
Các biện pháp cụ thể mà chủ thể bị xâm phạm quyền đối với danh dự, nhân phẩm,
uy tín có thể lựa chọn để áp dụng là: yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm
phạm phải công nhận quyền của cá nhân, tổ chức bị xâm phạm; yêu cầu tổ chức, cá
nhân có hành vi xâm phạm phải chấm dứt hành vi xâm phạm; buộc người có hành
vi xâm phạm phải xin lỗi, cải chính công khai; yêu cầu người có hành vi xâm phạm
phải bồi thường thiệt hại; yêu cầu chủ thể có hành vi xâm phạm phải thực hiện các
nghĩa vụ dân sự khác. Cá nhân, tổ chức bị xâm phạm quyền được bảo vệ danh dự,
nhân phẩm, uy tín có thể sử dụng các biện pháp này bằng cách trực tiếp gặp chủ
thể vi phạm hoặc sử dụng các phương thức khác như: gọi điện thoại, gửi thư qua
bưu điện, gửi thư điện tử, fax; hoặc tiến hành những hành vi cụ thể để bảo vệ
quyền của mình. Người bị xâm phạm quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy
tín có thể lựa chọn áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khác nhau để tự bảo vệ
quyền của mình. Tuy nhiên, việc cá nhân, tổ chức áp dụng các biện pháp để tự bảo
10
vệ quyền đối với danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình không được trái với quy
định của pháp luật và đạo đức xã hội.
định hành vi xâm phạm quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín và mức bù
đắp tổn thất tinh thần. Thực tế, bên bị xâm phạm quyền được bảo vệ danh dự, nhân
phẩm, uy tín thường chứng minh tổn thất tinh thần và yêu cầu được bồi thường
nhưng mức bồi thường trong bản án, quyết định của Toà án lại rất nhỏ so với tổn
thất mà bên bị xâm phạm phải ghánh chịu. Chính vì vậy, bên bị xâm phạm không
thấy thoả đáng; bản án, quyết định của Toà án không mang tính thuyết phục, thậm
chí còn gây khiếu kiện kéo dài.
Tuy nhiên, Bộ luật dân sự năm 2005 chỉ quy định cách thức xác định thiệt hại khi
xâm phạm quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín trong phần “Xác định
thiệt hại” mà không quy định bồi thường thiệt hại do xâm phậm danh dự, nhân
phẩm, uy tín là một trường hợp bồi thường thiệt hại cụ thể trong phần “Bồi thường
thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể” (từ Điều 613 đến Điều 630). Điều này
gây khó khăn trong thực tiễn xác định hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy
tín.
Hơn nữa, mặc dù Điều 611 Bộ luật dân sự quy định bên xâm phạm quyền được
bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín phải bù đắp tổn thất tinh thần cho cá nhân, tổ
chức bị xâm phạm. Tuy nhiên, do khó khăn của việc xác định tổn thất tinh thần dẫn
đến khó khăn trong việc xác định mức bù đắp cụ thể trong mỗi trường hợp. Mặc dù
Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 8/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Toà án
nhân dân tối cao hướng dẫn “Việc xác định tổn thất về tinh thần phải căn cứ vào
hình thức xâm phạm (bằng lời nói hoặc đăng trên báo viết hay báo hình…), hành vi
xâm phạm, mức độ lan truyền thông tin xúc phạm…” nhưng hướng dẫn này vẫn
còn chung chung.
3.2 Phương hướng hoàn thiện.
12
Cần phải hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến bảo vệ quyền được
bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín; đồng thời cần nâng cao nhận thức của
mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội để quyền này được tôn trọng và bảo vệ tốt
con người trở lại vị trí cao cả của nó.
Mặt khác, vấn đề bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín bằng khoản
tiền ở nước ta mới chỉ dừng lại ở một khung pháp lý chung nhất chưa có hướng
dẫn cụ thể để áp dụng trên thực tế. Hơn nữa, quy định về vấn đề này chủ yếu dừng
lại mang tính “ định tính” mà không “ định lượng” nên gây khó khăn trong việc áp
dụng pháp luật.
C. Kết luận:
Có ý kiến cho rằng chỉ xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, tài sản mới
gây hậu quả nghiêm trọng cho cá nhân, tổ chức và cần phải bảo vệ. Ý
kiến này hoàn toàn không chính xác. Mặc dù danh dự, nhân phẩm, uy
tín là những giá trị nhân thân không trị giá được bằng tiền, tuy nhiên,
xâm phạm đến những giá trị này có thể ảnh hưởng đến sự tồn tại và
phát triển của chủ thể bị xâm phạm. Thiệt hại mà chủ thể bị xâm
14
phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín phải gánh chịu bao gồm cả thiệt hại
vật và tổn thất tinh thần. Tổ chức bị xâm phạm danh dự, uy tín có thể
bị giảm thu nhập, thậm chí bị tuyên bố phá sản; cá nhân bị xâm phạm
danh dự, nhân phẩm, uy tín cũng có thể bị giảm thu nhập, ảnh hưởng
đến hoạt động nghề nghiệp, đến các mối quan hệ xã hội, thậm chí đến
sức khoẻ, tính mạng. Rõ ràng, hậu quả mà chủ thể bị xâm phạm danh
dự, nhân phẩm, uy tín phải gánh chịu cũng rất nghiêm trọng.
15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
1. Giáo trình luật dân sự Việt Nam, tập 2, Nxb CAND, HN, 2009.