Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Một số vấn đề lí luận và thực tiễn - Pdf 34

`

BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
……………******……………

BÀI TẬP LỚN HỌC KÌ
MÔN : LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
Đề bài 2:
Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Một số vấn đề lí
luận và thực tiễn

Hà Nội 2011

1


MỤC LỤC
A/ MỞ BÀI

2

B/ THÂN BÀI

I/ Một số vấn đề lí luận về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

3
3

1. Những khái niệm liên quan


nước khuyến khích thực hiện và ngày càng phát triển. Với xu hướng hội nhập hiện
nay, khi Việt Nam gia nhập Công ước La Hay về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong
lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế (năm 1993), việc cho nhận con nuôi sẽ càng phát
triển về quy mô và số lượng. Điều này đòi hỏi pháp luật về nuôi con nuôi của Việt
Nam phải được hoàn thiện nhằm đáp ứng kịp thời những yêu cầu của thực tiễn và
bảo vệ có hiệu quả quyền, lợi ích chính đáng của các bên trong quan hệ nuôi con
nuôi có yếu tố nước ngoài. Trước tình hình đó ngày 16 tháng 7 năm 2010 Quốc hội
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã thông qua Luật nuôi con nuôi trong đó có một
loạt các quy định về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Với bài tiểu luận này tôi
xin đi sâu nghiên cứu phân tích lí luận và thực tiễn của vấn đề trên.

B/ THÂN BÀI
I/ Một số vấn đề lí luận về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
3


1.Những khái niệm liên quan
Theo Luật nuôi con nuôi năm 2010:
- Con nuôi là người được nhận làm con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền đăng kí
- Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi
và người được nhận làm con nuôi.
- Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt
Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt
Nam, giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài.
- Trẻ em mồ côi là trẻ em mà cả cha mẹ đẻ đã chết hoặc một trong hai người đã
chết và người kia không thể xác định được
- Trẻ em bị bỏ rơi là trẻ em không thể xác định được cha mẹ đẻ
- Gia đình gốc là gia đình của người có quan hệ huyết thống
- Gia đình thay thế là gia đình nhận trẻ em làm con nuôi

Điển (4/2/2004), ba cộng đồng ngôn ngữ thuộc Vương quốc Bỉ (17/3/2005), Hoa
Kỳ (2/6/2005), Canada (27/6/2005), Quebec (Canada) (15/9/2005), Liên bang
Thụy Sỹ (20/12/2005)
3. Điều chỉnh pháp lý về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp luật
Việt Nam
Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là một vấn đề mới được điều chỉnh
trong các văn bản luật của nước ta (từ Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 -được
quy định trong chương VIII). Nhưng gần đây nhất, văn bản Luật nuôi con nuôi đã
được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 17
tháng 6 năm 2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 đã bãi bỏ
Chương VIII, Điều 105 và sửa đổi, bổ sung điều 109 của Luật hôn nhân và gia
đình năm 2000. Luật gồm 5 chương với 50 điều trong đó chương III đã quy định

5


một cách cụ thể, chặt chẽ về việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, trong khi
luật hôn nhân và gia đình chỉ có duy nhất điều 105 điều chỉnh cụ thể vấn đề này.
a. Nguyên tắc giải quyết
Theo điều 4 Luật NCN 2010 “Nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi:
1. Khi giải quyết việc nuôi con nuôi cần tôn trọng quyền của trẻ em được sống môi
trường gia đình gốc.
2. Việc nuôi con nuôi phải đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người được nhận
làm con nuôi và người nhận con nuôi, tự nguyện, bình đẳng, không phân biệt nam
nữ, không trái pháp luật và đạo đức xã hội.
3. Chỉ cho làm con nuôi người nước ngoài khi không tìm đước gia đình thay thế ở
trong nước.”
Như vậy có thể thấy Luật NCN 2010 đã có một bước phát triển vượt bậc
hơn so với Luật HNGĐ 2000. Nếu theo Luật HNGĐ 2000 thì nguyên tắc giải
quyết chỉ đảm bảo quyền lợi cho người được nhận làm con nuôi mà không đề cập

hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi
Khác với Luật HNGĐ 2000, độ tuổi của người được nhận làm con nuôi đã
thay đổi từ dưới 15 tuổi thành dưới 16 tuổi; hơn thế nhà nước cũng không giới hạn
về độ tuổi đối với những trường hợp thuộc khoản 4 điều 8; mở rộng hơn về trường
hợp người từ đủ 16 tuổi đến 18 tuổi nếu đáp ứng được các điều kiện ở khoản
2.Việc nuôi con nuôi đối tượng hướng tới trước tiên là trẻ em nên pháp luật đã quy
định độ tuổi tối đa của người được nhận làm con nuôi. Những người ở độ tuổi này
thường chưa trưởng thành đầy đủ về thể chất và tinh thần, đang trong quá trình
định hình về nhân cách rất cần có sự quan tâm, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục
của người lớn. Đồng thời quy định về độ tuổi là phù hợp với các quy định của
nhiều ngành luật khác như: luật dân sự, luật lao động,...
* Thứ hai là về điều kiện của người nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài được quy định tại điều 29 của Luật NCN 2010:
7


1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước
ngoài nhận người Việt Nam làm con nuôi phải có đủ các điều kiện theo quy định
của pháp luật nước nơi người đó thường trú và quy định tại điều 14 tại luật này.
2. Công dân Việt Nam nhận người nước ngoài làm con nuôi phải có đủ các điều
kiện theo quy định tại điều 14 của luật này và pháp luật của nước nơi người được
nhận làm con nuôi thường trú.
Điều 14 luật NCN 2010 quy định điều kiện đối với người nhận con nuôi như
sau:
1. Người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây:
a. Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
b. Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;
c. Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục con nuôi;
d. Có tư cách đạo đức tốt.

cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi; có con nuôi là anh, chị,
em ruột của trẻ em được nhận làm con nuôi; nhận trẻ em khuyết tật, nhiễm
HIV/AISD hoặc mắc bệnh hiểm nghèo khác làm con nuôi; là người nước ngoài
đang làm việc, học tập ở Việt Nam trong thời gian ít nhất một năm thì Bộ Tư pháp
phải chuyển hồ sơ về cho Sở Tư pháp nơi người được giới thiệu làm con nuôi
thường trú để cùng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định”. Dựa trên
những đặc điểm, sở thích, thói quen đáng lưu ý của trẻ em; khả năng hòa nhập phát
triển của trẻ em; điều kiện kinh tế, môi trường gia đình, xã hội và nguyện vọng của
người nhận con nuôi Sở tư pháp sẽ xem xét, giới thiệu trẻ em làm con nuôi nước
ngoài theo trình tự tại điều 36:
“1. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ của người nhận con nuôi,
Sở Tư pháp xem xét, giới thiệu trẻ em làm con nuôi trên cơ sở bảo đảm các căn cứ
9


quy định tại Điều 35 của Luật này và báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Trong
thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ do Sở Tư pháp trình, nếu Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh đồng ý thì thông báo cho Sở Tư pháp để làm thủ tục chuyển hồ
sơ cho Bộ Tư pháp; trường hợp không đồng ý thì trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý
do.
Trước khi Sở Tư pháp xem xét, giới thiệu trẻ em làm con nuôi nước ngoài,
nếu có người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi thì người đó liên hệ với Ủy ban
nhân dân cấp xã nơi trẻ em thường trú để xem xét, giải quyết; nếu việc nhận con
nuôi đã hoàn thành thì Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo Sở Tư pháp để chấm dứt
việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi nước ngoài.
2. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả giới thiệu trẻ em
làm con nuôi, Bộ Tư pháp kiểm tra việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi, nếu hợp lệ
thì lập bản đánh giá việc trẻ em Việt Nam đủ điều kiện được làm con nuôi nước
ngoài và thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước nơi người nhận con nuôi
thường trú.

trương, chính sách trung hạn, dài hạn về lĩnh vực nuôi con nuôi trong nước và
nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài; tham gia xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch phát triển dài hạn, 5 năm và hàng năm của ngành Tư pháp;
2. Về công tác nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài:
a) Tiếp nhận, kiểm tra và xử lý hồ sơ của người nước ngoài, người Việt Nam
định cư ở nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi; kiểm tra hồ sơ của
trẻ em Việt Nam được giới thiệu làm con nuôi ở nước ngoài;

11


b) Giải quyết các thủ tục cho công dân Việt Nam xin nhận trẻ em nước ngoài
làm con nuôi;
c) Theo dõi tình hình phát triển và kiểm tra việc thực hiện quyền, lợi ích của
trẻ em Việt Nam làm con nuôi ở nước ngoài;
d) Tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ xin phép lập Văn phòng con nuôi nước ngoài tại
Việt Nam; trình Bộ trưởng cấp, gia hạn, thay đổi nội dung, chấm dứt, thu hồi Giấy
phép lập Văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam; thực hiện quản lý các Văn
phòng Con nuôi nước ngoài tại Việt Nam theo quy định.
3. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan Trung ương về nuôi con nuôi quốc
tế của Việt Nam theo các điều ước quốc tế về hợp tác nuôi con nuôi giữa Việt Nam
với các nước;
Ngoài ra theo quy định tại Chương IV của Luật NCN 2010, Bộ Tư pháp còn
có trách nhiệm “cấp, gia hạn, sửa đổi, thu hồi giấy phép hoạt động của các tổ
chức nuôi con nuôi nước ngoài tại Việt Nam”
Một số cơ quan khác như: Bộ Lao động, Thương binh và xã hội; Bộ công
an; Bộ ngoại giao; Ủy ban nhân dân các cấp cũng có trách nhiệm hỗ trợ cùng Bộ
Tư pháp trong việc quản lý vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.
Bộ Ngoại giao “chỉ đạo Cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài thực hiện
các biện pháp cần thiết để bảo vệ trẻ em Việt Nam được cho làm con nuôi ở nước

60
1584
1860
1229
1127
807
nuôi người nước ngoài
- Trước năm 1993 công tác quản lý người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm
con nuôi do Bộ lao động thương binh xã hội thực hiện trên cơ sở quyết định tạm
thời số 145-HĐBT ngày 2/4/1992 nên số lượng trẻ em Việt Nam làm con nuôi
người nước ngoài không nhiều. Từ khi có Nghị định 184/1994/NĐ-CP ngày
30/11/1994 của Chính phủ công tác quản lý việc người nước ngoài nhận trẻ em
Việt Nam làm con nuôi chính thức được giao cho Bộ Tư pháp thì số lượng trẻ em
Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài tăng lên nhanh. Tuy nhiên trong thời
gian từ năm 2000 trở lại đây thì số lượng trẻ em làm con nuôi người nước ngoài lại
có xu hướng giảm từ 1229 trẻ em năm 2000 xuống chỉ còn 654 trẻ em năm 2010,
giảm 575 trẻ em.
Bảng 2.Số trẻ em Việt Nam làm con nuôi ở các nước giai đoạn 1998 – 2003
Năm
1998
1999
2000
2001
2003
Bỉ
5
15
155
150
111

Nam làm con nuôi. Ví dụ như tới năm 2001 ở Tây Ban Nha mới bắt đầu có người
13


nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi. Điều đó chứng tỏ sự mở rộng quan hệ ngoại
giao của nước ta cũng như cho thấy suy nghĩ của người dân Việt Nam cũng đã
“thoáng” hơn trong vấn đề này.
Bảng 3.Các tỉnh, thành phố cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài nhiều nhất
giai đoạn 1994 – 2007
Tỉnh/thành phố

Tp.Hồ

Chí Minh
Số trẻ em làm con nuôi 3484



Hòa



Rịa- Đà

Nội
538

Bình
425


14


được cho chủ yếu từ ba nguồn là gia đình, cơ sở nuôi dưỡng và cơ sở y tế nên thực
tế đã phát sinh những đường dây môi giới, trung gian, cò mồi trong lĩnh vực này,
gây phức tạp cho công tác quản lý, kể cả ở trung ương và địa phương.
Thứ hai, vì không được phép hoạt động công khai nên nhiều tổ chức con
nuôi nước ngoài đã vào Việt Nam hoạt động (theo giấy phép của FACOM) dưới
các hình thức khác nhau liên quan đến lĩnh vực nuôi con nuôi, càng gây khó khăn
cho công tác quản lý.
Thứ ba, công tác báo cáo của các Sở Tư pháp cho Bộ Tư pháp không được
thực hiện nghiêm túc, gây khó khăn cho thống kê, cũng như hoạch định chính sách
của Bộ trong lĩnh vực này.
Thứ tư, công tác kiểm tra, đánh giá của Bộ Tư pháp cũng chưa được tiến
hành thường xuyên và triển khai trên diện rộng nên việc phát triển, uốn nắn, xử lý
những sai phạm của địa phương trong lĩnh vực này còn hạn chế.
3. Giải pháp để khắc phục những bất cập trong việc nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài ở Việt Nam
Thứ nhất, Nhà nước cần tăng thêm thẩm quyền cho Cục con nuôi quốc tế để
cơ quan này có đủ thẩm quyền cần thiết để thực hiện một cách có hiệu quả chức
năng, nhiệm vụ trong lĩnh vực nuôi con nuôi có yếu tổ nước ngoài.
Thứ hai, cần có những quy định cụ thể về sự đồng ý của người mẹ trong việc
cho đứa trẻ làm con nuôi, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà chức trách Việt Nam
trong quá trình thực hiện thủ tục nuôi con nuôi giữa các nước.
Thứ ba, cần phải có những quy định rõ ràng về thời gian thử thách cho việc
nuôi con nuôi để trong những trường hợp cần thiết phải áp dụng biện pháp cho trẻ
hồi hương.
Thứ tư, phải có quy định cụ thể hơn điều chỉnh mối quan hệ pháp lý giữa
cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi với con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được tạo lập cho
phù hợp với quy định của Công ước.



2. Trung tâm đào tạo từ xa, Giáo trình luật hôn nhân và gia đình Việt Nam –
Nxb. Công an nhân dân Hà Nội
3. Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
4. Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa số SL/97
ngày 22 tháng 5 năm 1959
5. Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23 tháng 12 năm 2000 của Hội
đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy
định của Luật HNGĐ 2000
6. Nghị quyết của Quốc hội số 35/2000/QH10 ngày 09/06/2000 về việc thi
hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
7. Nghị định của Chính phủ số 70/2001/NĐ – CP ngày 03/10/2001 quy định
chi tiết thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
8. Chính trị quốc gia – Luật hôn nhân và gia đình 175 câu hỏi
9. Nguyễn Văn Cừ, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường đại học luật Hà Nội, Sự
phát triển của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam và những vấn đề cần sửa
đổi, bổ sung Luật hôn nhân và gia đình năm 1986
10.Website: http://www.vatgia.com

17




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status