NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC THỦY SẢN - Pdf 34

A.LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay tình trạng vi phạm pháp luật nhất là vi phạm hành chính về quản lý, bảo
vệ nguồn tài nguyên trong đó có nguồn tài nguyên thủy sản diễn ra ngày càng phổ biến
và phức tạp. Vì vậy, Nhà nước ta đã ban hành ra các quy định về xử lý vi phạm hành
chính về quản lý, bảo vệ tài nguyên trong lĩnh vực này. Sau đây em xin phân tích, bình
luận các quy định về xử lý vi phạm hành chính về bảo vệ quản lý nguồn tài nguyên thủy
sản.
I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG
LĨNH VỰC THỦY SẢN
1.Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản là một loại vi phạm hành chính. Để
xác định rõ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của loại vi phạm này, cần thiết
phải đưa ra định nghĩa chính thức về vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản. Vi
phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản được định nghĩa tại Khoản 2 Điều 1 Nghị định
31/2010/NĐ – CP như sau: “ Hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản là
những hành vi của tổ chức, cá nhân cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định quản lý Nhà
nước trong lĩnh vực thủy sản mà không phải là tội phạm và theo quy định của Nghị định
này phải bị xử phạt vi phạm hành chính”.
2.Khái niệm xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản
Theo cách suy luận logic, cơ sở để xử lý vi phạm hành chính là vi phạm hành
chính. Do vậy, vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản là cơ sở để xử lý vi phạm
hành chính trong lĩnh vực thủy sản. Sự phân loại các biện pháp xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực thủy sản sẽ giúp cho việc phát hiện và xử lý hành vi vi phạm hành
chính trong lĩnh vực này dễ dàng và triệt để hơn.
Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản là một loại xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực cụ thể nên hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực này chỉ tồn
tại phổ biến là các hành vi không thực hiện các quy định của Nhà nước của các chủ thể
1


vi phạm. Vì vậy, biện pháp xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản chủ yếu là

31/2010/NĐ – CP có quy định như sau: Đối với hành vi vi phạm quy định về bảo vệ môi
trường sống của các loài hải sản sẽ bị xử phạt tối đa tới 10 triệu đồng, bị tịch thu trang
bị, phương tiện và tước giấy khai thác 6 tháng, buộc phải khôi phục lại tình trạng ban
đầu môi trường tự nhiên khi thực hiện hành vi như: Phá hủy, cản trở trái phép đường di
chuyển tự nhiên của các loài thủy sản; Phá dỡ hoặc xây dựng các công trình nổi, công
trình ngầm ở các vùng nước làm thay đổi nơi cư trú, sinh trưởng, sinh sản của các loài
thủy sản mà không có giấy phép của cơ quan có thẩm quyền hoặc không theo đúng quy
định ghi trong giấy phép...( Điều 8).
Với loại vi phạm quy định bảo vệ các loài thủy sản có thể bị phạt tới mức phạt thấp
nhất là từ 1-3 triệu đồng nếu khối lượng thủy sản dưới 20kg. Mức phạt cao nhất đối với
hành vi này là 40 triệu đồng nếu khối lượng thủy sản khai thác trái phép trên 500kg khi
khai thác thủy sản tại khu vực cấm khai thác hoặc trong thời gian cấm khai thác ( Điều
9).
Quy định nêu trên tại Nghị định 31/2010/NĐ – CP cho thấy: so với Nghị định
128/2005/NĐ – CP thì việc quy định nâng mức phạt tiền đối với đa số các hành vi vi
phạm đã đảm bảo tính phòng ngừa, tính răn đe của pháp luật vì về nguyên tắc, việc bảo
vệ môi trường sống của các loài thủy sản, bảo vệ nguồn lợi thủy sản cần được quy định
chặt chẽ, bảo vệ nghiêm ngặt hơn.
- Vi phạm quy định về quản lý thủy sinh vật ngoại lai và vi phạm các quy định về
quản lý các loài thủy sản quý hiếm có nguy cơ tiệt chủng cần bảo vệ, bảo tồn và
phát triển theo quy định của Công ước CITES và các loài thuộc danh mục bảo vệ
của Sách đỏ.
Dưới góc độ pháp lý, điều chỉnh xử lý các hành vi này, tại Điều 10, Điều 11 Nghị
định 31/2010/NĐ – CP có quy định như sau: Hành vi thả các loài thủy sinh vật ngoại lai
xâm hại vào vùng nước tự nhiên sẽ bị phạt từ 10 – 20 triệu đồng và phạt tới 30 triệu
đồng khi thả vào vùng nước thuộc khu bảo tồn biển, bảo tồn vùng nước nội địa ( Điều
10), 20 – 25 triệu đồng là số tiền phạt nếu tổ chức, cá nhân có một trong các hành vi khai
3




500 ngàn đến 1 triệu đồng. Cảnh cáo là mức phạt thấp nhất cho hành vi sử dụng giấy
phép khai thác quá hạn vào hoạt động khai thác thủy sản nhưng không quá 30 ngày, mức
phạt tối đa cho hành vi này là 6 triệu đồng...( Điều 12).
Các quy định xử lý vi phạm hành chính về khai thác thủy sản tại Nghị định
31/2010/NĐ – CP cho thấy ưu điểm nổi bật là đã thể hiện rõ sự tiến bộ, phù hợp với thực
tiễn vi phạm hiện nay. Cụ thể như sau:
Thứ nhất: Tình trạng khai thác thủy sản bằng chất nổ, chất động, xung điện đang
diễn biến phức tạp, nhưng mức phạt và biện pháp xử phạt bổ sung theo quy định tại
Nghị định 120/2005/NĐ – CP chưa đủ sức răn đe.
Thứ hai: Bổ sung quy định xử phạt hành vi hoạt động sai vùng, tuyến khai thác
ghi trong giấy phép khai thác của tàu lưới kéo ( giã cào) quy định tại Điểm đ Khoản 4
Điều 12 là cần thiết. Bởi vì, trên thực tế tàu giã cào đôi và tàu giã cào đơn nếu hoạt động
sai vùng, tuyến được phép hoạt động ( đặc biệt là tại tuyến bờ) sẽ làm cạn kiệt, phá hủy
nguồn lợi thủy sản.
- Vi phạm quy định về quản lý tàu cá
Nghị định 31/2010/NĐ – CP quy định về vấn đề này tại Điều 13 như sau: mức phạt
tiền được nâng dần từ 200 ngàn đồng đến 40 triệu đồng tương ứng với từng hành vi vi
phạm, đặc biệt áp dụng mức phạt tối đa 40 triệu đồng đối với hành vi nhập khẩu tàu cá
khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép nhập khẩu.
Các quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực khai thác thủy sản và
quản lý tàu cá nên trên cho thấy sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta tới vấn đề bảo
đảm an toàn môi trường thủy sản cũng như sức khỏe con người trước hiểm họa từ tình
trạng khai thác trái phép hiện nay. Tuy nhiên các quy định này còn mang tính khuyến
nghị, thiếu những hướng dẫn cụ thể nên hiệu quả điều chỉnh chưa cao.
- Vi phạm các quy định trong lĩnh vực giống thủy sản và vi phạm các quy định về
nuôi trồng thủy sản.
Điều 14, Điều 15 Nghị định 31/2010/NĐ – CP có quy định về vấn đề này như sau:
Đối với các vi phạm các quy định trong lĩnh vực giống thủy sản, Bộ NN&PTNT đã bắt
5

6


Nghị định 31/2010/NĐ – CP có quy định về vấn đề này tại Điều 18, Điều 19, Điều
20 như sau: Vi phạm các quy định về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đối với tàu cá
và tàu chế biến thủy sản có thể bị phạt đến 10 triệu đồng. Vi phạm quy định về thu gom,
sơ chế, bảo quản, vận chuyển, kinh doanh thủy sản bị phạt từ 1 – 7 triệu đồng.Vi phạm
quy định về chế biến thủy sản bị phạt từ 8 – 30 triệu đồng...
- Vi phạm quy định có liên quan đến thủy sản có tạp chất và quy định liên quan
đến thủy sản có độc tố tự nhiên.
Đưa tạp chất vào nguyên liệu, sản phẩm thủy sản là một trong những hành vi cần
được quy định tại Điều 6 Luật thủy sản 2003. Vì vậy khi có hành vi vi phạm trong lĩnh
vực này tại Điều 21, Điều 22 Nghị định 31/2010/NĐ – CP có quy định như sau: Đối với
hành vi cố ý vận chuyển thủy sản có tạp chất lạ, thủy sản có độc tố tự nhiên gây nguy hại
đến sức khỏe con người, trừ trường hợp được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho
phép, mức phạt là 3 – 5 triệu đồng. Cũng như quy định mới này thì mức 3 – 5 triệu đồng
được áp dụng đối với hành vi đưa tạp chất lạ vào thủy sản; 10 – 15 triệu đồng được áp
dụng đối với hành vi đưa tạp chất lạ vào thủy sản; 10 – 15 triệu đồng đối với hành vi thu
gom, bảo quản, chế biến, kinh doanh có tạp chất lạ...Xử lý loại bỏ tạp chất theo quy định
của Bộ NN&PTNT đối với lô hàng thủy sản có tạp chất nhưng không thuộc diện phải
tiêu hủy; Buộc tiêu hủy lô hàng thủy sản có tạp chất gây nguy hại đến sức khỏe con
người, tạp chất không rõ thành phần.
- Vi phạm quy định về sản xuất thức ăn nuôi thủy sản, vi phạm quy định về kinh
doanh, nhập khẩu thức ăn nuôi thủy sản.
Xử lý các hành vi vi phạm nêu trên, tại Điều 23, Điều 24 Nghị định 31/2010/NĐ –
CP có quy định như sau: Vi phạm quy định về sản xuất thức ăn nuôi thủy sản bị phạt từ
15 – 30 triệu đồng. Vi phạm quy định về kinh doanh, nhập khẩu thức ăn nuôi thủy sản bị
phạt từ 15 – 40 triệu đồng. Ngoài hình thức xử phạt chính, pháp luật còn quy định các
hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu thức ăn nuôi thủy sản; Tước quyền sử dụng giấy
kinh doanh từ 06 tháng đến 12 tháng...

8


- Bổ sung các quy định xử lý các hành vi vi phạm về chế biến, kinh doanh, thu gom, bảo
quản, vận chuyển thủy sản.
2. Ban hành thông tư hướng dẫn nghị định 31/2010/ NĐ – CP
Trong Nghị định 31/2010/NĐ – CP, một số quy định chưa được làm rõ. Bởi vậy
cần sớm ban hành thông tư hướng dẫn để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thực thi
pháp luật. Cụ thể:
- Các quy định về bảo vệ nguồn nước:
Cần làm rõ các cụm từ: “ làm thay đổi nơi cư trú, sinh sản của các loài thủy sản”
tại điểm a khoản 1 Điều 8. Cần xác định rõ chủng loại, mức độ, số lượng san hô, quy
định rõ hình phạt theo chủng loại, mức độ số lượng tại điểm c khoản 1 Điều 8.
- Các quy định về khai thác thủy sản và quản lý tàu cá:
Cần hướng dẫn cụ thể về tổng công suất đèn vượt quá quy định hoặc khoảng cách
giữa các điểm đặt các cụm đèn chiếu sáng so với các ngư cụ khác tại điểm a khoản 2
Điều 12. Cần hướng dẫn cụ thể về đăng ký, đăng kiểm kê, đăng kiểm bè cá trong quy
định bắt buộc các bè nuôi trồng thủy sản, bè cá phải được đăng ký, đăng kiểm kê để đảm
bảo an toàn khi nuôi trồng khai thác thủy sản.
3. Tăng cường tổ chức thanh tra Nhà nước về bảo vệ thủy sản
- Tăng cường biên chế:
Trong thời gian tới, thanh tra thủy sản phải được tăng cường cả về chuyên môn và
nhân sự
- Tăng cường trang thiết bị kỹ thuật:
Việc tăng cường các trang thiết bị chuyên dụng sẽ giúp cho việc xử lý các vi phạm
được kịp thời và chủ động
- Tăng cường cơ chế, chính sách:
Cần tăng cường cơ chế, chính sách đối với thanh tra thủy sản tạo điều kiện thuận
lợi nhất trong quá trình thực hiện nhiệm vụ
4. Nâng cao ý thức và trách nhiệm của cộng đồng trong quá trình phát hiện và xử lý vi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status