Bài tiểu luận vai trò của ngân sách nhà nước đối với sự phát triển kinh tế và thực tiễn tại việt nam - Pdf 34

Vai trò của Ngân sách Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam

LỜI NÓI ĐẦU
Nhà nước ra đời trong cuộc đấu tranh của xã hội có giai cấp, nó là sản phẩm của
cuộc đấu tranh giai cấp, Nhà nước xuất hiện với tư cách là cơ quan có quyền lực
công cộng để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ về nhiều mặt như quản lý hành
chính, chức năng kinh tế, chức năng trấn áp và các nhiệm vụ xã hội.
Để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình Nhà nước cần phải có
nguồn lực tài chính – Ngân sách Nhà nước, đó chính là cơ sở vật chất cho Nhà
nước tồn tại và hoạt động.
Ngày nay kinh tế thị trường càng phát triển thì vị trí, vai trò của tài chính
Nhà nước ngày càng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội. Vì vậy, xây
dựng nền tài chính tự chủ vững mạnh là yêu cầu cơ bản cấp bách trong thời kỳ
công nghiệp hóa hiện đại hóa ở nước ta, trong đó Ngân sách Nhà nước đóng vai trò
chủ đạo trong nền kinh tế quốc gia.
Ngân sách Nhà nước là nơi tập trung quỹ tiền tệ lớn nhất trong nền kinh tế,
có mối quan hệ chặt chẽ với tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân cùng mối
quan hệ khăng khít với tất cả các khâu của hệ thống tài chính. Ngân sách Nhà nước
là công cụ huy động nguồn tài chính để đmả bảo cho các chi tiêu của Nhà nước, và
là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, đảm bảo cho sự ổn định, phát triển đồng đều
giữa các nền kinh tế, và đảm bảo thu nhập cho người dân.
Trên cơ sở nhận thức được tầm quan trọng của Ngân sách Nhà nước, nhóm
6 – Lớp CH K7.1 TCNH đã thảo luận và cùng phân tích về vai trò của Ngân sách
Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế và thực tiễn tại Việt Nam hiện nay..

1


Vai trò của Ngân sách Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG

mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp. Theo
Luật NSNN hiện hành, nội dung các khoản thu NSNN bao gồm:
- Thuế, phí, lệ phí do các tổ chức và cá nhân nộp theo quy định của pháp luật;
- Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước;
- Các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân;
- Các khoản viện trợ;
- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
Cần lưu ý là không tính vào thu NSNN các khoản thu mang tính chất hoàn trả
như vay nợ và viện trợ có hoàn lại. Vì thế, các văn bản hướng dẫn Luật NSNN
(Nghị định 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ và Thông tư
59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính) chỉ tính vào thu NSNN các
2


Vai trò của Ngân sách Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam

khoản viện trợ không hoàn lại; còn các khoản viện trợ có hoàn lại thực chất là các
khoản vay ưu đãi không được tính vào thu NSNN.
b. Đặc điểm thu NSNN
Thu ngân sách nhà nước là tiền đề cần thiết để duy trì quyền lực chính trị và
thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Mọi khoản thu của nhà nước đều
được thể chế hóa bởi các chính sách, chế độ và pháp luật của nhà nước;
Thu ngân sách nhà nước phải căn cứ vào tình hình hiện thực của nền kinh tế;
biểu hiển ở các chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội GDP, giá cả, thu nhập, lãi suất…
Thu ngân sách nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả không trực
tiếp là chủ yếu.
c. Nội dung thu NSNN
- Thu từ thuế
Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc cho nhà nước do luật quy định đối với
các pháp nhân và thể nhân nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Thuế


Vai trò của Ngân sách Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam

Tổng thu nhập quốc nội ( GDP ) :đây là nhân tố quyết định đến mức động
viên của NSNN;
Tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế: đây là chi tiêu phản ánh hiểu quả của đầu
tư phát triển kinh tế, tỉ suất này càng lớn thì nguồn tài chính càng lớn,do đó thu
NSNN phụ thuộc vào mức độ trang trải các khoản chi phí của nhà nước;
Tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên:đây là yếu tố làm tăng thu NSNN, ảnh
hưởng đến việc năng cao tỉ suất thu;
Tổ chức bộ máy thu NS: nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thu.
3. Chi ngân sách Nhà nước
a. Khái niệm chi NSNN
Chi ngân sách nhà nước là việc phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước
nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của nhà nước theo những nguyên tắc nhất
định.
Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã
được tập trung vào ngân sách nhà nước và đưa chúng đến mục đích sử dụng. Do
đó, Chi ngân sách nhà nước là những việc cụ thể không chỉ dừng lại trên các định
hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việc thuộc
chức năng của nhà nước.
b. Đặc điểm chi NSNN
Chi ngân sách nhà nước gắn với bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế,
chính trị, xã hội mà nhà nước đảm đương trong từng thời kỳ;
Chi ngân sách nhà nước gắn với quyền lực nhà nước, mang tích chất pháp lí
cao;
Các khoản chi của ngân sách nhà nước được xem xét hiệu quả trên tầm vĩ mô;
Các khoản chi của ngân sách nhà nước mang tính chất không hoàn trả trực
tiếp là chủ yếu;
Các khoản chi của ngân sách nhà nước gắn chặt với sự vận động của các

nhà nước trong từng thời kỳ, sự biến động của các phạm trù giá trị (giá cả, tỷ giá
hối đoái, tiền lương,....)
4. Đặc điểm của NSNN
Ngân sách nhà nước là bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia. Nó
bao gồm những quan hệ tài chính nhất định trong tổng thể các quan hệ tài chính
quốc gia, cụ thể:
- Quan hệ tài chính giữa nhà nước và công dân;
- Quan hệ tài chính giữa nhà nước với doanh nghiệp;
- Quan hệ tài chính giữa nhà nước với tổ chức xã hội;
- Quan hệ tài chính giữa nhà nước với quốc tế.
Đặc điểm của ngân sách nhà nước
+ Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với quyền lực kinh
tế - chính trị của nhà nước, và việc thực hiện các chức năng của nhà nước, được
nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định;
+ Hoạt động ngân sách nhà nước là hoạt động phân phối lại các nguồn tài
chính, nó thể hiện ở hai lãnh vực thu và chi của nhà nước;
+ Ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với sở hữu nhà nước, luôn chứa đựng
những lợi ích chung, lợi ích công cộng;
+ Ngân sách nhà nước cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác. Nét
khác biệt của ngân sách nhà nước với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của nhà
nước, nó được chia thành nhiều quỹ nhỏ có tác dụng riêng, sau đó mới được chi
dùng cho những mục đích đã định;
+ Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc
không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu.
5. Vai trò của NSNN
Ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế,
xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước. Cần hiểu rằng, vai trò của
ngân sách nhà nước luôn gắn liền với vai trò của nhà nước theo từng giai đoạn nhất
định. Đối với nền kinh tế thị trường, ngân sách nhà nước đảm nhận vai trò quản lý
vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế, xã hội.

sang cơ cấu mới hợp lý hơn. Thông qua hoạt động thu, bằng việc huy động nguồn
tài chính thông qua thuế, ngân sách nhà nước đảm bảo thực hiện vai trò định
hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh.
c. Về mặt kinh tế
Kích thích sự tăng trưởng kinh tế theo sự định hướng phát triển kinh tế xã hội
thông qua các công cụ thuế và thuế suất của nhà nước sẽ góp phần kích thích sản
xuất phát triển thu hút sự đầu tư của các doanh nghiệp.ngoài ra nhà nước còn dùng
ngân sách nhà nước đầu tư vào cơ sở hạ tầng tạo điều kiện và môi trường thuận lợi
cho các doanh nghiệp hoạt động
d. Về mặt xã hội
Vai trò điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội.Trợ giúp trực
tiếp dành cho những người có thu nhập thấp hay có hoàn cảnh đặc biệt như chi về
trợ cấp xã hội, trợ cấp gián tiếp dưới hình thức trợ giá cho các mặt hàng thiết yếu,
các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân số, chính sách việc làm, chống mù
chữ, hỗ trợ đồng bào bão lụt.
e. Về mặt thị trường
6


Vai trò của Ngân sách Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam

Nhà nước sẽ sử dụng ngân sách nhà nước như một công cụ để góp phần bình
ổn giá cả và kiềm chế lạm phát. Nhà nước chỉ điều tiết những mặt hàng quan trọng
những mặt hàng mang tính chất chiến lược. Cơ chế điều tiết thông qua trợ giá, điều
chỉnh thuế suất thuế xuất nhập khẩu, dự trữ quốc gia. Thị trường vốn sức lao động:
thông qua phát hành trái phiếu và chi tiêu của chính phủ. Kiềm chế lạm phát: Cùng
với ngân hàng trung ương với chính sách tiền tệ thích hợp NSNN góp phần điều
tiết thông qua chính sách thuế và chi tiêu của chính phủ.

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ THU CHI NGÂN SÁCH NHÀ


NĂM
2012

NĂM
2013

NĂM
2014

I

Thu nội địa từ sản xuất, kinh doanh

422,870

513,090

526,994

1

Thu từ doanh nghiệp nhà nước

142,838

189,076

196,031


48

5

Thuế thu nhập cá nhân

44,959

46,548

46,991

6

Lệ phí trước bạ

11,816

13,595

12,034

7

Thuế bảo vệ môi trường

12,676

11,849


1,075

Bảng 1: Tình hình thu từ nội địa

ĐVT: Tỷ đồng
Nguồn: Bộ tài chính

Biểu đồ Thu nội địa từ sản xuất, kinh doanh

Theo biểu đồ trên, ta thấy thu nội địa từ sản xuất, kinh doanh có xu hướng
tăng qua các năm và đây cũng là khoản thu bền vững nhất trong cơ cấu thu NSNN.
8


Vai trò của Ngân sách Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam

Năm 2012, khoản thu này đạt 422.870 nghìn tỷ đạt 85,5% dự; đến năm 2013 thu từ
nội địa tiếp tục tăng thêm 90,220 nghìn tỷ, tương đương 21,34%, đạt được mức
tăng này cũng do các chính sách hỗ trợ sản xuất kinh doanh đã bắt đầu phát huy tác
dụng, và lãi suất hạ nhiệt góp phần thúc đẩy hoạt động tín dụng cho vay doanh
nghiệp; đến năm 2014 thu nội địa tiếp tục tăng nhẹ, ước thực hiện đạt 526,994
nghìn tỷ.
b. Tình hình thu từ dầu thô
Việt Nam là một quốc gia xuất khẩu dầu thô, việc giá nguyên liệu thế giới
biến động sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến nguồn thu ngân sách và tăng trưởng kinh tế
ở nước ta.
2012
2013
2014
STT

Thuế xuất khẩu, nhập khẩu, tiêu thụ đặc biệt hàng
9

2012

2013

2014

107,404

129,385

160,800

71,276

78,253

83,400


Vai trò của Ngân sách Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam

STT

2

Nội dung
nhập khẩu

qua các năm, năm 2013 đạt 129,385 nghìn tỷ tăng 21,981 nghìn tỷ, đến năm 2014,
ước thực hiện đạt 160,800 nghìn tỷ tăng 31,415 nghìn tỷ so với năm 2013.
d. Tình hình thu từ viện trợ không hoàn lại
Việt Nam là một trong những nước đang phát triển và nhận được viện trợ từ
các nước trong tổ chức quốc tế - Liên hiệp quốc như Nhật Bản, Pháp, Hàn Quốc,
Đan Mạch…
2012
10,267

STT Nội dung
IV Thu viện trợ không hoàn lại
Bảng 4: Tình hình thu từ viện trợ không hoàn lại

10

2013
11,124

2014
4,500

ĐVT: Tỷ đồng
Nguồn: Bộ tài chính


Vai trò của Ngân sách Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam
Biểu đồ Thu viện trợ không hoàn lại

Viện trợ không hoàn lại của các nước vào nước ta tăng qua các năm có xu
hướng tăng, tuy nhiên năm 2014 giảm còn 4,500 nghìn tỷ tương đương giảm

hội bằng hình thức thu thuế và ngoài thuế cần phải hợp lý. Mức thu cao hay thấp
đều có tác động tiêu cực.
Hai, tỷ lệ động viên vào ngân sách nhà nước đối với GDP vừa đảm bảo hợp lý
với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, vừa đảm bảo cho đơn vị cơ sở có điều kiện
tích tụ vốn để mở rộng, tái sản xuất.
Ba, các công cụ kinh tế được sử dụng để tạo nguồn thu cho ngân sách nhà
nước và thực hiện các khoản chi tiêu của ngân sách nhà nước.
11


Vai trò của Ngân sách Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam

b. NSNN là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội nhằm
khắc phục những khuyết điểm của kinh tế thị trường, giúp cho nền kinh
tế phát triển cân đối và hợp lý.
Là công cụ định hướng hình thành cơ cấu nền kinh tế mới, kích thích sự tăng
trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm:
NSNN được sử dụng như là công cụ tác động vào cơ cấu kinh tế nhằm đảm
bảo cân đối hợp lý của cơ cấu kinh tế và sự ổn định của chu kỳ kinh doanh. Để
thực hiện vai trò này, một trong những công cụ quan trọng mà nhà nước sử dụng là
chính sách thuế. Trước xu thế phát triển mất cân đối của các ngành, lĩnh vực trong
nền kinh tế, chính sách thuế được đặt ra không chỉ nhằm mang lại số thu đơn thuần
cho ngân sách mà yêu cầu cao hơn là qua thu góp phần thực hiện chức năng việc
kiểm kê, kiểm soát, quản lý hướng dẫn và khuyến khích phát triển sản xuất, mở
rộng lưu thông đối với tất cả các thành phần kinh tế theo hướng phát triển của kế
hoạch nhà nước, góp phần tích cực vào việc điều chỉnh các mặt mất cân đối lớn
trong nền kinh tế quốc dân.
Nội dung điều tiết của thuế gồm hai mặt: Kích thích và hạn chế. Nhà nước đã
sử dụng chính sách thuế một cách linh hoạt trong từng thời kỳ nhất định, bằng việc
tác động vào cung-cầu nhằm điều chỉnh chu kỳ kinh doanh – một đặc trưng vốn có

vừa tăng nguồn thu cho NSNN vừa điều chỉnh cơ cấu ngành nghề hợp lý.
Như vậy, có thể thấy sự tác động của thuế có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh
tế, đến việc điều tiết kinh tế thị trường của Nhà nước. Thông qua thuế, Nhà nước
thực hiện định hướng phát triển sản xuất. Chính sách thuế có định hướng phân biệt,
có thể góp phần tạo ra sự phát triển cân đối hài hoà giữa các ngành, các khu vực,
các thành phần kinh tế, làm giảm bớt chi phí xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế. Trong nền kinh tế thị trường xảy ra các chu kỳ kinh doanh đó là chu kỳ dao
động lên xuống về mức độ thất nghiệp và tỷ lệ lạm phát, sự ổn định nền kinh tế với
tình trạng có đầy đủ công ăn việc làm, lạm phát ở mức thấp để thúc đẩy nền kinh tế
tăng trưởng bền vững là hướng phấn đấu nỗ lực của mọi chính phủ nhằm san bằng
chu kỳ kinh doanh, đưa giá cả về mức ổn định.
Điều tiết, ổn định thị trường, bình ổn giá cả, chống lạm phát.
Nhà nước thực hiện lập các quỹ dự trữ về hàng hoá, vật tư thiết yếu, các quỹ
dự phòng tài chính (kể cả bằng vàng và ngoại tệ) để ổn định kinh tế xã hội khi có
sự biến động do thiên tai, tai hoạ lớn mà Nhà nước cần can thiệp, nhằm tăng tính
chủ động cho Nhà nước trong việc cân đối quỹ tiền tệ quốc gia khi thực hiện giải
quyết các vấn đề cấp bách. Đồng thời, hạn chế tình trạng NSNN trong một giai
đoạn có thể bị thậm chi hoặc thặng dư quá lớn.
Ví dụ: như tính đến tháng 11/2012 Tổng cục Dự trữ Nhà nước đã chỉ đạo các đơn
vị nhập đủ 191.550 tấn gạo và 80.000 tấn thóc, hoàn thành 100% kế hoạch được giao;
về kết quả xuất đổi hàng, thóc được 68.019 tấn (đạt 81,2%), gạo được 86.477 tấn, đạt
62,1%; triển khai việc xuất 5.000 tấn gạo quà tặng đến nhân dân Triều Tiên; xuất 4.000
tấn gạo viện trợ cho các tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An khắc phục hậu quả thiên tai; mua
vật tư, thiết bị, đã nhập được 185.000 chiếc phao tròn tại các đơn vị; thương thảo hợp
đồng với các nhà thầu trúng thầu cung cấp thiết bị chữa cháy rừng, nhà bạt nhẹ theo kết
quả đấu thầu được Bộ phê duyệt.
Tính đến ngày 25/3/2013, Tổng cục dự trữ quốc gia đã hoàn thành việc xuất cấp
29.092 tấn gạo hỗ trợ cho các địa phương, trong dịp Tết Nguyên đán và giáp hạt năm
2013 và 750 tấn gạo (đợt 1) cho Dự án Đầu tư và phát triển rừng, tại 4 huyện vùng cao
núi đá tỉnh Hà Giang…

ngân sách nhà nước. Nếu đồng vốn ngân sách được sử dụng hợp lý, hiệu quả thì sẽ
có tác động tích cưc, ngượi lại sẽ gây ra bất ổn trên thị trường, thúc đẩy lạm phát
tăng. Việc phát hành thêm tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước là nguyên
nhân trực tiếp khiến lạm phát tăng. Và sự cân bằng của ngân sách nhà nước sẽ có
tác động đến sự cân bằng của cán cân thanh toán quốc tế do sự cân bằng của ngân
sách tác động trực tiếp đến sự cân bằng của cán cân thương mại; mức độ thực hiện
cân bằng ngân sách nhà nước nói lên khả năng chi trả các khoản nợ nước ngoài
đến hạn.
Là công cụ tái phân phối các nguồn tài chính, góp phần đảm bảo công
bằng xã hội.
Một vai trò được coi là không kém phần quan trọng của NSNN là giải quyết
các vấn đề xã hội. Kinh tế thị trường làm ra tăng sự phân hoá giàu nghèo, sự phân
hoá này có những khi bất hợp lý và làm giảm tính hiệu quả kinh tế-xã hội. Do vậy,
cần phải có những biện pháp phân phối lại của cải xã hội nhằm hạn chế sự phân
hoá này, làm lành mạnh xã hội.
Chính phủ thường sử dụng các biện pháp tác động tới thu nhập để thiết lập lai
sự công bằng xã hội, điều chỉnh thu nhập của các nhóm dân cư khác nhau bằng
cách trợ cấp thu nhập cho những người có thu nhập thấp hoặc hoàn toàn không có
thu nhập thông qua các quỹ trợ cấp thất nghiệp, cung cấp hàng hoá công cộng…
Một cách khác, Nhà nước thực hiện vai trò điều chỉnh vĩ mô trong lĩnh vực tiền
lương và thu nhập thông qua hình thức thu thuế thu nhập cá nhân theo phương thức
lũy tiến, thuế thu nhập doanh nghiệp, Nhà nước thực hiện điều tiết thu nhập, phân
phối lại cho những đối tượng có thu nhập thấp.
Một khía cạnh khác của chính sách thuế nhằm điều chỉnh thu nhập là các
khoản thuế đánh vào tiêu dùng: Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế Giá trị gia tăng. Với
những hàng hóa dịch vụ thiết yếu việc giảm thuế sẽ có lợi cho người nghèo hơn và
sự chênh lệch về thu nhập cũng được giảm bớt. Trái lại những mặt hàng xa xỉ, cao
cấp việc tăng thuế sẽ góp phần phân phối lại một bộ phận thu nhập của người giàu
trong xã hội. Tuy nhiên, khi sử dụng công cụ thuế để điều chỉnh thu nhập, mức thu
nên xây dựng hợp lý tránh tình trạng điều tiết quá lớn làm giảm khát vọng làm giàu

Dựa trên bảng và biểu đồ ta có thể thấy trong cơ cấu dự toán chi ngân sách
của nước ta chi thường xuyên có tỷ trọng lớn nhất, sau đó là chi đầu tư phát triển,
chi trả nợ và viện trợ, tỷ trọng thấp nhất là chi khác như chi cải cách tiền lương, chi
bổ sung quỹ dự trữ tài chính, chi dự phòng.
15


Vai trò của Ngân sách Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam

Cụ thể như sau: dự toán chi thường xuyên chiếm tỷ trọng qua các năm là
60,02% năm 2012; 67,37% năm 2013; 69,97% năm 2014 và 66,86% năm 2015;
chi cho đầu tư phát triển có cơ cấu lớn thứ 2, dự toán chi đầu tư phát triển năm
2012 là 19,93%; năm 2013 là 17,89%; năm 2014 là 16,19%, năm 2015 là 17%.
Tiếp theo là chi trả nợ và viện trợ, chiếm tỷ trọng 11,07% năm 2012; 10,74%
năm 2013; 11,92% năm 2014; 13,08% năm 2015. Cuối cùng, chiếm tỷ trọng nhỏ
nhất trong dự toán chi ngân sách nhà nước là các khoản chi khác, các khoản chi
khác chiếm tỷ trọng 8,98% vào năm 2012; chiếm 4% vào năm 2013; chiếm 1,92%
vào năm 2014; chiếm 3,06% vào năm 2015.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng khoá XI, kế hoạch phát triển KT-XH và
NSNN 5 năm 2011-2015,mục tiêu tài chính – ngân sách là kiềm chế và tiến tới
kiểm soát được lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô để tạo điều kiện cho phát triển kinh
tế bền vững, tiếp tục thực hiện cơ cấu lại NSNN theo hướng ưu tiên đầu tư cho con
người, cải cách tiền lương, các chính sách an sinh xã hội, đảm bảo an ninh quốc
phòng và an ninh tài chính quốc gia, tăng cường công tác đối ngoại. Dự toán thu
chi NSNN trong những năm qua đã được điều chỉnh như số liệu phân tích ở bảng
sau:
BẢNG 5: DỰ TOÁN CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC THEO CƠ CẤU CHI
NĂM 2012-2015
Đơn vị tính: Tỷ đồng
(Nguồn: số liệu ngân sách nhà nước www.mof.gov.vn)

6.008
6.136
5.986
7.600
II Chi trả nợ và viện trợ
100.000
105.000
120.000
150.000
III Chi thường xuyên
542.000
658.900
704.400
767.000
Trong đó:
1 Chi giáo dục – đào tạo, dạy nghề
135.920
164.401
174.480
184.070
2 Chi khoa học – công nghệ
7.160
7.733
7.680
9.790
Chi thực hiện cải cách tiền
IV
59.300
15.600
0

1.099.231
1.177.914
1.297.686

16


Vai trò của Ngân sách Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam

Dự toán chi NSNN tăng đều qua các năm về con số tuyệt đối: Năm 2012 là
903.100 tỉ đồng; 2013 là 978.000 tỉ đồng; năm 2014 là 1.006.700 tỉ đồng; năm
2014 là 1.147.100 tỉ đồng.
Trong đó dự toán chi cho đầu tư phát triển thay đổi liên tục 180.000 tỉ đồng
năm 2012; 175.000 tỉ đồng năm 2013; 163.000 tỉ đồng năm 2014 và 195.000 tỉ
đồng năm 2015.
Mặt khác dự toán chi trả nợ và viện trợ cùng chi thường xuyên tăng liên tục từ
2012-2015. Dự toán chi trả nợ và viện trợ năm 2012 là 100.000 tỉ đồng; năm 2013
là 105.000 tỉ đồng; năm 2014 là 120.000 tỉ đồng; năm 2015 là 150.000 tỉ đồng.
Như vậy từ 2012 đến 2015, dự toán chi trả nợ tăng 50.000 tỷ đồng.
Dự toán chi xuyên tăng nhanh trong giai đoạn này, con số tuyệt đối của chi
thường xuyên năm 2012 là 542.000 tỷ đồng; năm 2013 là 658.900 tỷ đồng; năm
2014 là 704.400 tỷ đồng; năm 2015 là 767.000 tỷ đồng.
Dự toán số chi cho chi thường xuyên tăng đến 225.000 tỷ đồng trong giai
đoạn 2012-2015. Việc tăng mạnh của số chi thường xuyên có thể gây áp lực lớn
cho chi đầu tư và chi trả nợ.
Tuy nhiên chi thường xuyên vẫn được điều chỉnh tăng lên về số lượng trong
dự toán của ngân sách nhà nước vì trong chi thường xuyên có những lĩnh vực quan
trọng phục vụ cho sự phát triển của đất nước như chi cho giáo dục, y tế, khoa học –
công nghệ … Do vậy, việc tăng lên về số tuyệt đối của chi thường xuyên là cần
thiết nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội nhưng cũng cần xác định rõ


100.00%

19.93%

17.89%

16.19%

17.00%

II

Chi trả nợ và viện trợ

11.07%

10.74%

11.92%

13.08%

III

Chi thường xuyên

60.02%

67.37%

chi để phục vụ cho sự ổn định và phát triển đất nước.

18


Vai trò của Ngân sách Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam

BẢNG 7: PHÂN TÍCH THỰC HIỆN CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 2012 – 2014

(Nguồn: Số liệu công khai ngân sách nhà nước www.mof.gov.vn)
Chỉ tiêu
Chi theo dự toán Quốc
hội
I

Chi đầu tư phát triển

II

Chi trả nợ và viện trợ

III

Chi thường xuyên

1
2
IV
IV
V

toán
978,00
0
175,00
0
105,00
0
658,90
0

Trong đó:
Chi giáo dục – đào tạo,
135,920 127,136 93.54% 164,401
dạy nghề
Chi khoa học – công
7,160
5,918
82.65%
7,733
nghệ
Chi thực hiện cải cách
59,300
0
15,600
tiền lương
Chi bổ sung quỹ dự trữ
100
441
441.00%
100

0

271,680

155.25%

163,000

208,040

127.63%

112,055

106.72%

120,000

52,068

43.39%

704,165

106.87%

704,400

800,573


253

253.00%

100
19,200


Vai trò của Ngân sách Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam

2. Vai trò của chi NSNN
Chi ngân sách, một công cụ của chính sách tài chính quốc gia có tác động rất
lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế. Chi NSNN được quản lý, điều hành chặt
chẽ, tiết kiệm, kỷ cương tài chính được nâng cao kịp thời xử lý các nhiệm vụ cấp
thiết phát sinh về khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, đảm bảo quốc phòng, an
ninh, an sinh xã hội được đảm bảo.
Chi NSNN để thực hiện vai trò Nhà nước là người đảm bảo hệ thống Luật pháp,
sản xuất một phần hàng hoá dịch vụ cá nhân, cung ứng hàng hoá dịch vụ công cộng
và phân phối lại thu nhập.
Như vậy chi NSNN là công cụ để Nhà nước điều hành nền kinh tế theo mục
đích của mình, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, giải quyết những vấn đề xã hội
phát sinh như giảm bớt sự chênh lệch giầu nghèo, giải quyết công bằng xã hội và
khắc phục khiếm khuyết của thị trường.
Chi NSNN chủ yếu không vì mục tiêu lợi nhuận và không trực tiếp thu được lợi
nhuận, vì vậy không được hoàn trả trực tiếp. Việc hoàn trả được thông qua hệ thống
luật pháp về thuế và một phần được thu lại từ phí.
Chi ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động của bộ máy
nhà nước vì đây là chức năng đầu tiên và là tiền đề cho các chức năng khác bởi vì bất
kỳ quốc gia nào, thời đại nào, chi ngân sách trước tiên cung cấp nguồn tài chính để
đảm bảo cho bộ máy nhà nước tồn tại, hoạt động, từ đó mà thực hiện được chức năng

vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản xảy ra ngày càng nhiều, với những
cách thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi; gây thất thoát ở tất cả các khâu, từ quy hoạch,
kế hoạch, chủ trương đầu tư, chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, cấp phát vốn đầu tư,
đến khâu nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào sử dụng và quyết toán vốn đầu tư.
b. Chi tiêu dùng thường xuyên:
Với các khoản chi này nhà nước thể hiện sự quan tâm của mình đến nhân tố
con người trong quá trình phát triển kinh tế, đồng thời với các khoản chi này nhà
nước thực hiện chức năng văn hóa, giáo dục, quản lý, an ninh quốc phòng. Trong đó,
chi quản lý nhà nước bắt nguồn từ sự tồn tại và việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ
của nhà nưóc. Đây là khoản chi nhằm đảm bảo sự hoạt động của hệ thống các cơ
quan quản lý nhà nưóc từ trung ương đến địa phương, hoạt động của Đảng Cộng sản
Việt Nam và hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội. Chi An ninh quốc phòng
thuộc lĩnh vực tiêu dùng xã hội, là những hoạt động bảo đảm sự tồn tại của nhà nước
và cần thiết phải cấp phát tài chính cho các hoạt động này từ ngân sách nhà nước.
Chi ngân sách dành tỷ trọng thoả đáng trả lương cho đội ngũ công chức và duy
trì hoạt động của bộ máy nhà nước là cần thiết. Một số quan điểm trước đây cho rằng:
trong khuôn khổ hạn hẹp của NSNN, việc chi cho bộ máy nhà nước càng ít càng tốt,
từ đó mà trong bố trí ngân sách chi hành chính thường chiếm một tỷ trọng rất nhỏ và
ít về số tuyệt đối. Kết quả là tệ quan liêu, phiền hà, sách nhiễu… trong bộ máy nhà
nước thường là phổ biến và ở mức độ cao, mà nguyên nhân cơ bản nhất là đội ngũ
công chức được hưởng quá thấp các lợi ích vật chất. Trước thực tế ấy, ở các nước
kinh tế thị trường phát triển, NSNN bao giờ cũng đành ưu tiên trước hết thoả mãn
cho nhu cầu của bộ máy Nhà nước, đảm bảo ổn định và ràng buộc trách nhiệm của
công chức bộ máy nhà nước với quyền năng được giao, để bộ máy này cung cấp cho
xã hội hàng hoá công cộng thuần tuý với chất lượng cao nhất.
Chi thường xuyên ước đạt 101,9% dự toán đã đảm bảo nguồn lực thực hiện các
nhiệm vụ phát triển sự nghiệp y tế, văn hóa, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, an
sinh xã hội… Trong năm 2014, để khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, ngành Tài
chính đã xuất cấp hàng dự trữ quốc gia với tổng trị giá khoảng 1.025,5 tỷ đồng, trong
đó xuất cấp trên 102,9 nghìn tấn gạo dự trữ quốc gia để cứu trợ cho nhân dân ở

Theo quan điểm cổ điển trước đây, chi ngân sách được nhấn mạnh đến chức
năng đảm bảo nguồn lực tài chính cho bộ máy nhà nước và cai trị, điều hành xã hội.
Kể từ khi chuyển sang cơ chế thị trường thì chi NSNN cũng bộc lộ những thất bại
trong điều hành kinh tế, thì điều cần nhấn mạnh của chi NSNN là không chỉ cung cấp
tài chính cho bộ máy nhà nước hoạt động mà còn phải thực hiện chức năng cai trị của
mình.
Chi NSNN lúc này đóng vai trò quan trọng hơn với tư cách là công cụ hữu hiệu
để điều tiết thị trường, xoá đói giảm nghèo, góp phần đảm bảo công bằng xã hội, phát
triển cân đối giữa các vùng, lãnh thổ, ngành kinh tế, cung cấp hàng hoá dịch vụ công
cho xã hội một cách tốt nhất trong trường hợp khu vực tư nhân không đảm bảo được.
Nền kinh tế thị trường với đặc trưng cơ bản là cạnh tranh và hiệu quả. Một mặt
kinh tế thị trường khuyến khích cạnh tranh tự do của hãng tư nhân vì mục tiêu lợi
nhuận và đó là động lực thúc đẩy tăng trưởng, chỉ có như vậy mới tạo ra cho xã hội
một lượng hàng hoá phong phú đáp ứng mọi nhu cầu không ngừng tăng lên của đời
sống xã hội. Song nếu chỉ có hoạt động của các hãng tư nhân thì ơ một số lĩnh vực
nhất là khu vực sản xuất hàng hoá công cộng không có nhà sản xuất và không có
cạnh tranh bởi không mang lại lợi nhuận hoặc các hãng tư nhân không đủ điều kiện
để thu hồi lại chi phí bỏ ra để cung cấp một thứ hàng hoá công cộng nào đó. Đây
chính là cơ sở cho việc xuất hiện vai trò của Chính phủ mà cụ thể hơn là vai trò của
chi NSNN.
Vì vậy, chúng ta thấy trên thế giới không có một nền kinh tế thị trường hoàn
hảo, hoàn toàn chỉ có hoạt động của các hãng tư nhân với mục tiêu hiệu quả. Nền
kinh tế thị trường hiện đại ngày nay bao gồm các hoạt động đan xen nhau: Một số
hoạt động kinh tế do khu vực công đảm nhận, còn các hoạt động khác do khu vực tư
thực hiện. Có thể nói đây là nền kinh tế hỗn hợp. Trong nền kinh tế đó, rất nhiều hàng
hoá dịch vụ công cộng do Chính phủ bỏ tiền ra mua hoặc trực tiếp cung cấp thông
qua bộ máy của mình để đảm bảo hoạt động của các cơ quan đơn vị thuộc bộ máy
22



thực hiện, hoặc có thể thu tài sản của công dân vì lợi ích công cộng và chỉ bồi thường
trong giới hạn chứ không làm hài lòng các cá nhân công dân bằng sự thoả thuận.
Chính phủ có thể bắt buộc mọi thanh niên làm nghĩa vụ quân sự với mức tiền công
thấp hơn mức họ đòi hỏi…
Như vậy, khác với nguyên tắc trao đổi của thị trường là tự nguyện, ngang giá,
Chính phủ được sử dụng quyền năng để làm những việc mà tư nhân không thể làm
được. Đó là điểm khác biệt và cũng là lý đo Nhà nước dùng tiền ngân sách tham gia
vào các hoạt động để theo đuổi mục đích của mình, cũng chính là ưu việt của chi
ngân sách trong cơ chế thị trường.
Trong cơ chế thị trường, Chính phủ như người chỉ huy dàn nhạc để đảm bảo sự
phát triển ăn khớp, đồng đều, thúc đẩy tương tác lẫn nhau cùng phát triển của các lĩnh
vực; quản lý toàn diện từ kinh tế, giáo dục, y tế, văn hoá, các lĩnh vực xã hội yêu cầu
phát triển cao của nền kinh tế thị trường tạo ra nhiều dịch vụ hết sức phong phú trên
tất cả các lĩnh vực. Theo một xu hướng mang tính phổ biến thì đối với các nước càng
phát triển thì tỷ trọng chi đầu tư hạ tầng và phát triển kinh tế giảm, tăng chi cho giáo
dục, y tế, văn hoá, trợ cấp xã hội trong đó điển hình là các nước Bắc Âu.
23


Vai trò của Ngân sách Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam

Chính phủ các nước này chủ trương thoả mãn ở mức cao các nhu cầu phúc lợi
xã hội cho mọi công dân, chủ yếu là dựa vào nguồn lực từ NSNN. Do tỷ lệ động viên
từ GDP trên 40%, đã tạo nguồn lực dồi dào dành cho giáo dục, y tế, an sinh và trợ
cấp xã hội (khoảng 50 – 60% NSNN).
Nhìn chung, tỷ trọng chi cho giáo dục y tế an sinh và trợ cấp xã hội ngày càng
lớn lên cả về quy mô và tỷ trọng. Tuy nhiên, chi cho những lĩnh vực này không chỉ từ
ngân sách. Các nhà cung cấp dịch vụ đưa ra hàng hoá công cộng ở lĩnh vực giáo dục
y tế và thu lại từ NSNN và một phần là từ người được hưởng dịch vụ. Tức là song
song tồn tại hai phương thức, dịch vụ do Nhà nước trả tiền. và dịch vụ do người được

tăng đầu tư chiều sâu cho các doanh nghiệp, góp phần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, tạo
cho thị trường lao động sôi động lên. Khi ngân sách đạt được quy mô nhất định, thì
ngoài nhu cầu thiết yếu phải đảm bảo, những vấn đề xã hội cho người nghèo, người
có thu nhập thấp, người thất nghiệp phải được hưởng phúc lợi từ ngân sách trực tiếp
thông qua các chính sách trợ cấp xã hội. ở quốc gia phát triển, thu nhập bình quân
24


Vai trò của Ngân sách Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam

đầu người lớn, tỷ lệ động viên GDP vào ngân sách cũng thường lớn, chi đầu tư từ
ngân sách lại thường chiếm tỷ trọng nhỏ, từ đó cho phép trong cơ cấu trong ngân
sách, tỷ lệ chi cho bộ máy nhà nước và trợ cấp xã hội có cơ hội càng lớn, quỹ trợ cấp
và phúc lợi xã hội cho người nghèo, người đông con, người có hoàn cảnh đặc biệt có
thể chiếm tỷ lệ cao trong ngân sách.
Vấn đề chênh lệch giữa các vùng miền về phát triển kinh tế xã hội cũng được
giải quyết có hiệu quả thông qua các công cụ điều tiết, trong đó chi NSNN đóng vai
trò thu hút đầu tư, thu hút nguồn nhân lực: như chính sách tiền lương, phụ cấp ưu đãi
để thu hút nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng đến những vùng xa, khó
khăn, kém phát triển, mật độ dân số thấp. Chính phủ tài trợ đầu tư công trình hạ tầng
kinh tế như đường cao tốc, sân bay, công trình công cộng, thậm chí hệ thống nhà ở
tạo nên sức hấp dẫn đối với các thành phần dân cư từ các địa phương khác. Công cụ
hỗ trợ ngân sách cho các vùng liền có điều kiện kém hấp dẫn trên có thể dưới dạng
trợ cấp trọn gói hoặc trợ cấp có mục tiêu ở một số quốc gia trong thời gian qua cũng
làm thay đổi đáng kể diện mạo những vùng xa trung tâm, vùng khó khăn về điều kiện
tự nhiên, xã hội và giảm bớt sự chênh lệch giữa các vùng miền trong một quốc gia,
góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế các vùng lãnh thổ, giảm bớt sự chênh lệch phát
triển giữa thành thị và nông thôn. Bảo vệ môi trường và phòng trừ các dịch bệnh
nguy hiểm là những vấn đề thời sự hiện nay. Trong cơ chế thị trường, khi kinh tế phát
triển mạnh mẽ, toàn cầu hoá đang trở thành xu thế tất yếu thì môi trường và dịch


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status