Tiểu luận Nhập môn công tác xã hội: Công tác xã hội với người cao tuổi - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC
----------  ---------

TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
MÔN: NHẬP MÔN CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỀ TÀI: CÔNG TÁC XÃ HỘI
VỚI NGƯỜI CAO TUỔI

Hà Nội, tháng 4/2012
1


I. MỞ ĐẦU
Với sự gia tăng của tuổi thọ và sự phát triển của xã hội, mỗi người đều
được tận hưởng một cuộc sống lâu dài hơn, đầy đủ hơn, hạnh phúc hơn. Có thể
thấy rằng, trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, người cao tuổi là lớp
người “cây cao, bóng cả”, có vai trò quan trọng trong việc kết nối các giá trị
truyền thống về đạo đức, lịch sử và văn hoá giữa các thời đại; là lớp người đã có
những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp đổi mới, phát triển quê hương, đất
nước. Trong đời sống hiện đại, không thể phủ nhận rằng người cao tuổi có
những ưu thế về những đóng góp của họ với gia đình, xã hội, về kinh nghiệm
sống và khả năng tiếp tục đóng góp vào quá trình phát triển.
Ngày nay già hoá dân số là một vấn đề toàn cầu đang được nhiều quốc
gia trên thế giới quan tâm. Xu hướng già hoá dân số mang tính tất yếu và không
thể đảo ngược. Tình trạng già hoá dân số đang diễn ra mạnh mẽ, kéo theo nhiều
vấn đề kinh tế - xã hội cần phải giải quyết. Vấn đề người cao tuổi và an sinh tuổi
già đang là một thách thức lớn của nhân loại, việc cải thiện chất lượng cuộc sống
cho những người cao tuổi là yêu cầu rất chính đáng của xã hội. Trong điều kiện
già hóa dân số, nhiều vấn đề đặt ra đối với người cao tuổi, cần sớm nhận thức về

thiếu người chăm sóc, người nhân viên xã hội là người tổ chức cuộc
sống cho họ, giúp họ tăng thêm khả năng tự chăm sóc sức khỏe và tự
túc trong những sinh hoạt thường ngày.
 Tổ chức các công việc phù hợp để họ có thể tham gia, tạo niềm vui
trong lao động, mặt khác tạo thêm thu nhập làm giảm bớt cảm giác lệ
thuộc.
 Khi có những khó khăn mà người cao tuổi không thể tự đáp ứng được
thì cần phải có các dịch vụ hỗ trợ cần thiết (nhất là đối với người cao
tuổi độc thân không gia đình) như: dịch vụ phụ việc nội trợ tại nhà
(dọn dẹp nhà cửa, đi mua bán, nấu nướng), dịch vụ chăm sóc tại nhà
3


(khám chữa bệnh tại nhà, giúp đỡ khi tắm giặt, chăm sóc khi bị ốm
đau,…). Khuyến khích trẻ em hàng xóm đến trò chuyện.
 Công tác xã hội cho người cao tuổi tại nhà an dưỡng:
 Nhà an dưỡng cho người cao tuổi chủ yếu duy trì ở các nước phương
Tây, giờ đây đã có những thay đổi về hình thức tập trung như: người
cao tuổi đã hết cảm giác cô đơn, cảm giác bị ruồng bỏ, cảm giác lo sợ
triền miên khi phải chứng kiến cái chết của những người bạn già ở nhà
an dưỡng bởi vì họ đã được sống ở những căn hộ kề cận với những hộ
gia đình trẻ.
 Tại nhà an dưỡng, nhân viên xã hội đồng thời là thành phần của êkíp
quản lý, họ đóng vai trò cung cấp dịch vụ xã hội cho những người cao
tuổi và gia đình họ. Nhân viên xã hội giúp giải quyết những vấn đề
như: sự tùy thuộc ỷ lại, các hành vi gây hấn và cả những vấn đề không
kiềm chế được như việc tiểu tiện do tâm lý người cao tuổi.
 Nhân viên xã hội còn là cầu nối quan hệ giữa người cao tuổi và gia
đình, khuyến khích sự thăm hỏi của gia đình và đóng góp vào sinh
hoạt của nhà an dưỡng. Tổ chức các câu lạc bộ dành riêng cho người

sinh hoạt trong cộng đồng.
 Vai trò tư vấn cho người cao tuổi và gia đình họ: Về các vấn đề tình cảm,
tâm lý, công ăn việc làm, ý nghĩa mới trong cuộc sống, vấn đề về sức
khỏe, về cái chết,…
 Vai trò nhận diện và cung cấp dịch vụ cho người cao tuổi có nhu cầu: trợ
giúp về tài chính, nơi ở tốt hơn, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, dịch vụ vui
chơi giải trí, dịch vụ du lịch, thăm viếng bạn bè,…
 Vai trò biện hộ, bảo vệ quyền lợi cho người cao tuổi:
 Trong tiến trình tiếp cận với người cao tuổi, yêu cầu đối với nhân viên
xã hội phải giữ thái độ tôn trọng, tế nhị, những hành động, cử chỉ thích
hợp – chẳng hạn trong cách xưng hô, khoảng cách khi ngồi nói
chuyện,… Tuy nhiên việc kính trọng người cao tuổi không có nghĩa
phải hoàn toàn chiều theo ý muốn của một số người cao tuổi vì tính
5


tình của họ dễ thay đổi thất thường làm cho công việc chăm sóc họ gặp
khó khăn hoặc đôi khi bị gián đoạn.
 Với những người cao tuổi đang có vấn đề cá nhân cần giải quyết, đòi
hỏi nhân viên xã hội phải dành thời gian để tham vấn và lắng nghe họ
– lắng nghe những nỗi niềm, tâm trạng họ trong nhiều lúc và tỏ ra thấu
hiểu, cảm thông. Thậm chí nếu cần thiết, còn phải theo dõi, ngăn cản
và giúp đỡ người cao tuổi giảm bớt ý muốn tự vẫn. Ở những trường
hợp như thế này thì đòi hỏi ở nhân viên xã hội không những kỹ năng
về tham vấn mà cả lòng nhiệt tình và sự kiên trì hơn là những hoạt
động chăm sóc sức khỏe. (Mai Thị Kim Thanh, Giáo trình nhập môn
công tác xã hội)
2. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Có thể thấy chăm sóc người cao tuổi đang là vấn đề nhận được sự quan
tâm của nhiều quốc gia trên thế giới. Tuổi thọ của con người ngày càng cao

2025, các nước phát triển thì tỉ lệ người cao tuổi sống ở thành thị sẽ tăng lên
82%, còn các nước đang phát triển chỉ chiếm 50% số người cao tuổi sống ở
thành thị. Từ sự khác nhau về phân bố dân số sẽ dẫn đến sự khác nhau về chính
sách đối với người cao tuổi ở các nước phát triển và đang phát triển.
Trên thế giới, nhất là ở các nước phát triển, ngành công tác xã hội đóng
vai trò trọng trong việc tham gia vào xây dựng chính sách và điều hành các hoạt
động an sinh cho người cao tuổi thông qua hai hình thức sau:
 Hình thức thứ nhất: Chăm sóc người cao tuổi trong các cơ sở chăm sóc
người già hoặc trung tâm dưỡng lão ở các nước cũng giống như hình thức
chăm sóc người cao tuổi cô đơn trong các cơ sở Bảo trợ xã hội tại Việt
Nam nhưng các dịch vụ chăm sóc phong phú. Việc thực hiện các dịch vụ
ngoài nhân viên công tác xã hội còn có sự tham gia của nhiều nhân viên
chuyên nghiệp khác như bác sĩ, cán bộ điều dưỡng, cán bộ dinh dưỡng,
chuyên viên tham vấn tâm lý...
7


 Hình thức thứ hai là cung ứng dịch vụ chăm sóc người cao tuổi tại gia
đình và cộng đồng. Gần đây xu hướng thứ hai được quan tâm nhiều hơn.
Trong các dịch vụ này thường là cơ sở xã hội tiếp nhận người cao tuổi và
cử nhân viên công tác xã hội đến gia đình họ để trực tiếp thực hiện các
dịch vụ như vãng gia, đánh giá, xác định vấn đề, giúp xây dựng kế hoạch
thiết lập mối quan hệ giữa những người cao tuổi và các thành viên gia
đình, giúp họ gắn bó và tự giác tham gia các sinh hoạt cộng đồng; tham
vấn, điều chỉnh các mối quan hệ giữa người già với các thành viên trong
gia đình, giúp họ sống hoà thuận, biết yêu thương và kính trọng lẫn nhau;
cung cấp các dịch vụ tập huấn, nâng cao kiến thức, kỹ năng chăm sóc
người cao tuổi cho các thành viên trong gia đình để họ tạo ra môi trường
hỗ trợ tốt nhất cho người cao tuổi. Nhân viên công tác xã hội cũng tư vấn,
hướng dẫn các công việc phù hợp với tuổi già, tạo niềm vui, tạo thu nhập,

2004

Nam

15,49

18,4

24,32

18,84

Nữ

84,51

81,6

75,68

81,16

Nông thôn

80

82,91

82,85




trong những lời nói như: ông khốt, bà bô,… Tất cả những điều đó làm cho người
cao tuổi chạnh lòng hoặc phẫn nộ, cảm giác bị xúc phạm.
Trong một số gia đình, nhiều người đã quên đi nếp ứng xử kính trên
nhường dưới của con cái đối với ông bà, cha mẹ và anh chị em. Cùng với sự
tước bỏ lề thói gia trưởng và sự áp đặt tư tưởng phục tùng, cúi đầu cam chịu của
người bề dưới, nhiều người cũng đã vứt luôn những quy phạm trong ứng xử
giữa người với người – một biểu hiện của văn hóa, văn minh. Trong gia đình đã
vậy, ngoài xã hội cũng có không ít những biểu hiện làm người cao tuổi chạnh
lòng.
Chúng ta đều biết với độ tuổi già thì sức khỏe kém là điều dễ hiểu. Vì vậy
nhu cầu chữa bệnh của họ là khá cao. Nhưng họ vẫn cảm thấy ngại ngùng không
muốn đi chữa trị. Đối với những người cao tuổi về hưu, tuy đã có thẻ bảo hiểm y
tế nhưng thái độ phục vụ của các nhân viên y tế khiến cho người cao tuổi cảm
thấy nản lòng. Đối với những người cao tuổi không đi làm trong các cơ quan, xí
nghiệp thì họ lại càng ngại đến bệnh viện hơn khi mắc bệnh tật bởi tiền chi trả
cho việc khám, chữa bệnh và tiền viện phí, tiền thuốc men… quá cao. Chính vì
lẽ đó người cao tuổi có xu hướng hoặc mặc kệ tự cho bệnh phát triển không
muốn chữa trị, hoặc tự chữa lấy, không dám nói, ngại phiền hà đến con cháu.
Chỉ đến khi bệnh tình đã trầm trọng họ mới tìm đến sự giúp đỡ của gia đình, của
xã hội,…
 Nguồn sống chính của người cao tuổi
Nguồn sống của người cao tuổi nước ta khá đa dạng, đó là các nguồn: từ
lao động của chính bản thân người cao tuổi, từ lương hưu trợ cấp và của cải tích
lũy từ khi còn trẻ và do con cháu chu cấp.
Đồ thị 1. Nguồn sống chính của người cao tuổi chia theo thành thịnông thôn, 2006 (%)

10


tổng số hộ người cao tuổi, có một sự chênh lệch lớn về mức sống của hộ gia
đình người cao tuổi đô thị và nông thôn.
Bảng 1. Mức sống của hộ gia đình người cao tuổi theo hoàn cảnh sống, 2007
Mức sống

Tình trạng hôn nhân
Độc thân

Chỉ có 2 vợ

Sống cùng

chồng

con cháu

Chung

Giàu

0.0

2.1

1.6

1.7

Khá


100,0

100.0

100.0

100,0

Nguồn: Bộ LĐ-TB-XH, “Khảo sát thu thập, xử lý thông tin về người cao tuổi ở
Việt Nam”, 5/2007.
Số liệu Bảng 1 cho thấy phần lớn hộ gia đình người cao tuổi (57%) có
mức sống trung bình. Chỉ có 18,3% hộ gia đình người cao tuổi có khá hơn và
đặc biệt vẫn còn 23% hộ gia đình người cao tuổi cho rằng mức sống của bản
thân là nghèo đói. Trong đó người già cô đơn có mức sống kém nhất, gần một
nửa có cuộc sống ở mức nghèo khó. Có sự chênh lệch rất lớn giữa mức sống của
hộ gia đình người cao tuổi khu vực đô thị và khu vực nông thôn. Tỷ lệ hộ người
cao tuổi có mức sống giàu ở nông thôn bằng 1/2 so với thành thị (1,1% và

12


2,5%), còn đối với tỷ lệ hộ người cao tuổi có mức sống nghèo thì ngược lại
(13.6% và 27,6%).
 Điều kiện sống của người cao tuổi
Còn 18,3% các hộ có người cao tuổi đang sống trong nhà tạm và nhà dột
nát. Đặc biệt 34,6% hộ người cao tuổi độc thân đang sống trong nhà tạm, những
người sống cùng chồng/vợ hoặc sống cùng con cháu thì tỷ lệ hộ có nhà tạm đều
thấp hơn tỷ lệ chung. Các điều kiện sống khác cũng còn rất khó khăn, cụ thể:
5,7% số hộ người cao tuổi chưa được sử dụng điện lưới để thắp sáng, trong đó
2,26% ở thành thị và 7,39% ở nông thôn; 63% người cao tuổi sử dụng nước hợp


Nam

Nữ

60 – 64

44.5

22.1

22.4

65 – 69

22.7

14.8

12.8

70 – 74

15.0

6.7

8.3

75+



muốn có thêm thu nhập, sau đó là cho tinh thần thoải mái và cuối cùng là để rèn
luyện sức khoẻ.
 Công tác xã hội với người cao tuổi tại Việt Nam
Việt Nam đã có trường đào tạo nhân viên xã hội từ trước năm 1975 ở phía
Nam và sau thống nhất đất nước, bắt đầu phát triển lại Công tác xã hội từ đầu
những năm 90 của thế kỷ 20. Có thể nói, sau gần hai thập kỷ phát triển, Công tác
xã hội cho thấy những ưu điểm của nó:



Giúp những người trợ giúp các đối tượng khó khăn dần có cách nhìn nhận
khác hơn về đối tượng mà mình trợ giúp;



Hiểu hơn các vấn đề của người mình trợ giúp với cách tiếp cận hệ thống
từ phân tích môi trường sống và các đặc điểm trong quá trình phát triển;



Có cách làm (kỹ năng trợ giúp) mang tính chất nhân văn đem đến hiệu
quả bền vững hơn;



Bước đầu đào tạo được đội ngũ cán bộ xã hội chuyên nghiệp có trình độ
cử nhân và những người làm việc trược tiếp với các đối tượng khó khăn;


kinh phí để thực hiện các họat động nhằm chăm sóc hỗ trợ người cao tuổi.
Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm chăm sóc người cao tuổi,
điều này thể hiện rõ qua Hiến pháp (1992), các bộ Luật: Hôn nhân gia đình, Luật
bảo vệ chăm sóc sức khoẻ nhân dân, Luật Lao động, Bộ luật hình sự và nhiều
chỉ thị, nghị định, thông tư… đã được ban hành nhằm thực hiện chủ trương của
Đảng và Nhà nước về chăm sóc người cao tuổi.
Chương trình xóa đói giảm nghèo cùng với việc trợ cấp tiền hàng tháng
và tiền bảo hiểm cho người cao tuổi - Người từ đủ 80 tuổi trở lên được ưu tiên
khám trước người bệnh khác, trừ bệnh nhân cấp cứu, trẻ em dưới 6 tuổi, người
khuyết tật nặng; các bệnh viện, trừ bệnh viện chuyên khoa nhi, có trách nhiệm tổ
chức khoa lão khoa hoặc dành một số giường để điều trị người bệnh là người
cao tuổi; Trạm y tế xã, phường, thị trấn nơi cư trú, có trách nhiệm chăm sóc sức
khoẻ ban đầu cho người cao tuổi.
Xây dựng cơ sở chăm sóc người già cô đơn: Mô hình cơ sở chăm sóc
người cao tuổi công lập dành cho người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa
thuộc diện chính sách, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, mất khả năng tự chăm sóc
do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động. Mô hình cơ sở
chăm sóc người cao tuổi ngoài công lập dành cho người cao tuổi cô đơn không
nơi nương tựa có điều kiện kinh tế, có nhu cầu được trông nom, giúp đỡ trong
sinh hoạt và khám chữa bệnh tự nguyện đóng góp các khoản phí để được hưởng
các dịch vụ chăm sóc thường xuyên.
Người đủ 80 tuổi trở lên không có lương hưu và bảo hiểm xã hội sẽ được
trợ cấp hàng tháng, được hưởng bảo hiểm y tế, được hỗ trợ chi phí mai táng khi
16


chết. Riêng đối với người cao tuổi thuộc hộ gia đình nghèo không có người có
nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, có
nguyện vọng và được tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội thì được hưởng các chế
độ như: trợ cấp nuôi dưỡng hằng tháng bằng mức nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ

1) Đẩy mạnh việc nghiên cứu quá trình già hoá dân số ở nước ta để làm cơ
sở cho việc xây dựng và thực thi chính sách, chiến lược nhằm đối phó với
xu hướng già hoá dân số đang diễn ra ngày càng nhanh về cả số lượng và
tỷ lệ ở nước ta.
2) Khi xây dựng các chính sách đối với người cao tuổi, cần đặc biệt chú ý
đến phụ nữ, nhất là phụ nữ đơn côi, không nơi nương tựa khi tuổi già, khi
ốm đau. Đối với các xã thực hiện dự án cần có giải pháp can thiệp cụ thể
đến các đối tượng này nhằm đáp ứng các nhu cầu này về tinh thần và vật
chất đối với người cao tuổi.
3) Khi xây dựng các chính sách đối với người cao tuổi cần chú ý khu vực
nông thôn (vì còn nhiều khó khăn). Đề nghị Nhà nước cho triển khai chế
độ, chính sách bảo hiểm xã hội cho nông dân. Khuyến khích nông dân "lo
cho tuổi già khi còn trẻ" để họ tích cực tham gia đóng bảo hiểm xã hội khi
Nhà nước cho triển khai chế độ bảo hiểm.
4) Đẩy mạnh việc nghiên cứu các hình thức hoạt động kinh tế phù hợp với
người cao tuổi nhằm tăng nguồn thu nhập cho người cao tuổi. Động viên
và sử dụng các tiềm năng lao động của người cao tuổi, đặc biệt cần
khuyến khích các hoạt động kinh tế, tạo điều kiện cho người cao tuổi
được làm việc tăng thu nhập và tạo nên sự thoải mái về tinh thần, vật chất
cho người cao tuổi.
5) Đề xuất với Nhà nước ban hành chính sách khuyến khích gia đình nhiều
thế hệ, để người cao tuổi được sống trong gia đình, vui chơi cùng con
cháu. Nâng cao tính tự lực của người cao tuổi, phổ biến kiến thức sống

18


hoà hợp giữa các thế hệ trong gia đình. Bảo vệ và chăm sóc người cao
tuổi.
6) Đề nghị các cấp chính quyền tạo điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất cho Hội

và được mọi người chấp nhận, quý mến. Cho dù họ không còn trực tiếp
đóng góp cho xã hội nữa nhưng họ vẫn cần có sự chấp nhận của xã hội,
của gia đình về những kinh nghiệm trong quá khứ của họ, về khả năng và
tính tự lập rằng, họ không phải là những người thừa vô ích trong xã hội
mà ngược lại, họ vẫn còn quan trọng đối với xã hội, nhất là đối với những
người thân.
Hơn bao giờ hết, người cao tuổi rất cần mối quan hệ mật thiết với những
người thân trong gia đình như: con, cháu, vợ, chồng,… và với xã hội là bạn bè.
Nếu thiếu những mối quan hệ và tình cảm này, người già dễ nảy sinh cảm giác
cô đơn và đôi khi có thể làm tăng thêm quá trình lão hóa.
4. MỘT SỐ LƯU Ý
4.1. Một số đặc điểm sinh lý của người cao tuổi
Người cao tuổi là một người bình thường như bao người khác, tuy nhiên
họ có thêm một số những dấu hiệu đi kèm theo do sự suy thoái tự nhiên của các
tế bào như: tóc bạc, da nhăn nheo, khả năng tình dục giảm, khả năng nghe nhìn
kém, gân cốt suy nhược khiến việc ngồi, đi đứng khó khăn; phản ứng chậm làm
cho thân thể mất thăng bằng, dễ bị té ngã; mất trí nhớ tạm thời trong ngắn hạn,
giảm tốc độ trong học tập và thường mắc một số bệnh về hô hấp, tim mạch, tiểu
đường, tai biến mạch máu não, Parkinson, phong thấp, cao huyết áp. Nhận thức
của người cao tuổi suy giảm, trí nhớ thay đổi: trí nhớ ngắn hạn giảm sút, họ sống
nặng về nội tâm; tư duy kém năng động và kém linh hoạt; người cao tuổi thường
khó chấp nhận cái mới và không thích phải thay đổi thói quen.
Theo các chuyên gia về sức khỏe cho người cao tuổi thì những người cao
tuổi nào bình thường, không cảm thấy bị đe dọa về sức khỏe,… lại là những
người dễ bị nguy hiểm hơn là những người cao tuổi bị bệnh vì những người cao
tuổi này lúc nào cũng cảm thấy cơ thể mình khỏe mạnh nên chủ quan không
phòng bệnh tật.
20




5. LỰA CHỌN VÀ GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG
5.1. Tình huống
Bà A năm nay 62 tuổi, hiện đang sống cùng với gia đình con trai cả gồm
con trai, nàng dâu và cháu trai. Chồng bà đã qua đời. Bà hiện nay đang tham gia
các câu lạc bộ cho người cao tuổi và được hưởng chế độ lương hưu cho những
người có công với cách mạng theo tháng của trung tâm thương binh và bệnh
binh. Bà A rất thương cháu trai và hay chiều chuộng cháu. Bình thường, con trai
bà do bận nhiều công việc hay đi công tác xa nhà nên không có thời gian chăm
sóc gia đình. Dường như mọi công việc gia đình đều do mỗi vợ của anh đảm
nhiệm. Ở nhà, giữa nàng dâu và bà A do tính cách không hợp nhau nhất là
chuyện đi nhà trẻ của cháu trai: Khi cháu trai 3 tuổi, con dâu cho cháu đi mẫu
giáo, vừa rèn cho con tính tự lập, vừa được học chữ và hoà đồng cùng các bạn.
Nhưng bà A một mực phản đối: "Thằng bé mới nứt mắt ra mà đã bắt tội nó. Hay
anh chị chê tôi cổ lỗ, ít học, không biết dạy cháu nên phải cho nó đến lớp sớm?".
Giải thích đủ kiểu bà cũng không nghe, người con dâu vẫn kiên quyết cho con đi
học.
Mấy hôm đầu, cháu chưa quen nên toàn khóc và đòi về, đến bữa lại lười
ăn. Xót cháu, bà A càng bảo vệ lý lẽ của mình. Đã thế, cứ những hôm mưa gió
hay cháu kêu mệt, bà A nhất định cho cháu ở nhà. Cháu được thể, lúc nào cũng
bám lấy bà, liên tục viện cớ đau bụng, nhức đầu để trốn lớp. Càng ngày, cháu
càng hay vòi vĩnh và không chịu nghe lời mẹ. "Cứ thế này thì đến hư mất",
người vợ than thở với chồng và nằng nặc đòi anh phải ra ở riêng. Điều này, làm
cho bà A cảm thấy buồn khi nghe con dâu nói như vây nên bà quyết định bỏ nhà
đi rồi tìm đến nhân viên công tác xã hội nhờ giúp đỡ giải quyết vấn đề này.
5.2. Tiếp cận công tác xã hội với cá nhân qua quá trình làm việc và can
thiệp bà A:
Qua tình huống trên ta có sơ đồ sinh thái sau:

22


ban đầu đối với bà A, tạo cho bà A sự tin tưởng. Bước đầu nhân viên công tác xã
hội sẽ thực hiện việc làm quen và trò chuyện với bà A để gây dựng niềm tin,
đồng thời hiểu rõ hơn nguyên nhân vấn đề của thân chủ.
 Bước 2 : Nhận diện về vấn đề:
 Xác định thân chủ thực sự cần phải giúp đỡ: Bà A
 Xác định trọng tâm vấn đề cần giải quyết: Sự bất đồng quan điểm giữa bà
A và con dâu về quan niệm, phương pháp giáo dục con cái, mà cụ thể ở
đây là sự bất đồng quan điểm về việc có cho cháu đi học mẫu giáo hay
không.
 Xác định nhu cầu, nguyên nhân, điểm mạnh, điểm yếu của bà A:
Điểm mạnh

Điểm yếu

 Thương con cháu

 Đôi khi còn nuông chiều cháu

 Có mối quan hệ tốt với mọi

 Mâu thuẫn với con dâu
 Chồng mất, sức khỏe yếu

người xung quanh
 Có trung tâm thương binh và
bệnh binh, câu lạc bộ sự giúp
đỡ từ nhiều phía

 Qua đó, vấn đề quan trọng nhất cần phải giải quyết là quan niệm khác biệt

định chức năng xã hội, nguyên nhân thông tin tiềm ẩn mà quan sát bình
thường không có được.
Các công cụ thu thập thông tin:
 Đàm thoại
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status