Nghiên cứu tình hình suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi ở xã ea tiêu, huyện cư kuin, tỉnh đăk lăk năm 2010 - Pdf 34

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy dinh dưỡng là một bệnh phổ biến trên thế giới vẫn còn là một thách
thức quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng ở nước ta. Đặc biệt đối với trẻ
em dưới 5 tuổi ở một số nước đang phát triển trong đó có các nước Đông
Nam Châu Á và Việt Nam. Cùng với bệnh tiêu chảy, bệnh nhiễm khuẩn hô
hấp cấp, suy dinh dưỡng là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử
vong ở trẻ em [31].
Suy dinh dưỡng trẻ em là tình trạng chậm lớn, chậm phát triển do nhu
cầu dinh dưỡng bình thường của cơ thể không được đáp ứng đầy đủ, ở mức
độ nặng có thể tử vong [23], [27], [34].
Nguyên nhân của suy dinh dưỡng trẻ em là do một chế độ ăn không đầy
đủ và bất hợp lý, phối hợp với bệnh nhiễm trùng [27], [34]. Hậu quả của suy
dinh dưỡng cả thể vừa và thể nhẹ đều nặng nề, theo Tổ chức y tế thế giới có
đến 60% của 10,9 triệu ca tử vong mỗi năm, trong số trẻ em dưới 5 tuổi ở các
nước đang phát triển có liên quan đến suy dinh dưỡng [34], [40]. Những trẻ
em bị suy dinh dưỡng về sau thường học hành kém, thể lực yếu và khi trưởng
thành là những người lao động yếu đuối, những người mẹ bé nhỏ ảnh hưởng
lớn đến sức lao động xã hội và chất lượng thế hệ tương lai [27], [34]. Điều trị
suy dinh dưỡng rất phức tạp và tốn kém, làm tổn thất rất lớn đến kinh tế của
gia đình và của xã hội.
Suy dinh dưỡng gắn liền với nghèo đói, bệnh tật và thiếu kiến thức về
dinh dưỡng. Suy dinh dưỡng liên quan chặt chẽ đến các yếu tố kinh tế, văn
hoá, xã hội, môi trường sống và dịch vụ y tế. Vì vậy, suy dinh dưỡng được coi
là yếu tố hữu ích để đánh giá sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của một
cộng đồng hay một quốc gia [2], [34].


2


TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. VÀI NÉT SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU SUY DINH
DƯỠNG
Từ lâu suy dinh dưỡng trẻ em đã được đề cập tới do tình trạng thiếu
lương thực hoặc cung cấp thức ăn không đủ dẫn đến gầy còm, sút cân và
chậm phát triển về thể lực và giảm sút trí tuệ hậu quả đến tử vong [27].
Năm 1908, Cotrea gọi suy dinh dưỡng là bệnh “rắn nhỏ” vì trẻ em mắc
bệnh cơ thể nhỏ bé, da lại có lằn sẫm nâu nhạt như da rắn. Năm 1926,
Normet bác sỹ người Pháp đã mô tả căn bệnh này với tên gọi là
bouffissure, bệnh sưng phù Annam gặp nhiều ở Trung Nam Bộ Việt Nam.
Năm 1927, tác giả Keller gọi là bệnh suy thoái của trẻ ăn bột. Các tác giả
Autret và Behar gọi suy dinh dưỡng là hội chứng đa khiếm khuyết ở trẻ
em, vì thấy rằng đứa bé bị thiếu nhiều chất dinh dưỡng [8], [13], [34]. Năm
1930 Cicely Williams đã dùng thuật ngữ “Kwashiorkor” nghĩa là bệnh của
những đứa bé bị bỏ rơi” [31].
Năm 1959, một số tác giả dùng thuật ngữ “Suy dinh dưỡng protein calo” để chỉ những đứa trẻ vừa đói protein, vừa đói năng lượng. Năm 1962,
trong bảng phúc trình tại khóa họp thứ sáu, tiểu ban dinh dưỡng FAO/WHO
đã chọn từ “Suy dinh dưỡng protein - calo”. Năm 1966, Jellife đã đề nghị tên
gọi “Suy dinh dưỡng protetin - năng lượng (protein energy malnutrion =
PEM)” để chỉ suy dinh dưỡng ở mức độ nặng hơn. Thuật ngữ này được dùng
cho đến ngày nay [27], [34].


4

1.2. KHÁI NIỆM VỀ SUY DINH DƯỠNG [27], [33], [34]
Suy dinh dưỡng là trình trạng bệnh lý do nhu cầu dinh dưỡng bình
thường của cơ thể không đáp ứng được, hậu quả là thiếu hoặc thừa dinh
dưỡng.

Hiếm gặp ở người lớn, nhưng vẫn có thể gặp khi xảy ra nạn đói nặng nề, nhất
là đối với phụ nữ. Thường do chế độ ăn quá nghèo về protein và glucid tạm
đủ hoặc thiếu nhẹ (nhất là đối với chế độ ăn sam chủ yếu dựa vào khoai sắn).
Suy dinh dưỡng thể kwashiorkor thường kèm theo tình trạng nhiễm khuẩn từ
vừa đến nặng. Tình trạng thiếu các vi chất dinh dưỡng như thiếu Vitamin A,
thiếu máu do thiếu sắt nặng, thường biểu hiện khá rõ nét ở những đứa trẻ bị
kwashiorkor [34].
- Thể trung gian (marasmus - kwashiorkor): Thể này thường gặp nhiều
hơn so với hai thể trên.
1.3.2. Phân loại trên cộng đồng
Trên cộng đồng, suy dinh dưỡng thể vừa và nhẹ thường gặp và có ý
nghĩa sức khoẻ quan trọng nhất, vì ngay cả suy dinh dưỡng nhẹ cũng là tăng
gấp đôi nguy cơ bệnh tật và tử vong ở trẻ em. Người ta nhận thấy, hậu quả do
suy dinh dưỡng lúc nhỏ còn ảnh hưởng lâu dài đến khả năng lao động thể lực,
trí lực cũng như một số bệnh mãn tính ở tuổi trưởng thành.
Để xác định tình trạng suy dinh dưỡng, chủ yếu người ta dựa vào các chỉ
tiêu nhân trắc (cân nặng theo tuổi = CN/T, chiều cao theo tuổi = CC/T, cân
nặng theo chiều cao = CN/CC).


6

1.3.2.1. Một số cách phân loại trước đây
Cách phân loại của Gomez: Năm 1956, một bác sỹ người Mexico tên là
Gomez đã đề ra cách phân loại như sau: Quy cân nặng của đối tượng theo
phần trăm so với cân nặng được coi là chuẩn của quần thể tham khảo
Harvard. Theo đó suy dinh dưỡng độ I tương ứng với 75 - 90% của cân nặng
chuẩn. Suy dinh dưỡng độ III khi dưới 60% cân nặng chuẩn. Trong một thời
gian dài, cách phân loại Gomez đã được sử dụng như là cách phân loại suy
dinh dưỡng duy nhất trên cộng đồng.

nhưng chỉ song song với phía dưới của đường phát triển bình thường, hoặc có
những trẻ quá cao, nên cân nặng theo tuổi có thể bình thường, nhưng thực ra
trẻ bị suy dinh dưỡng. Chỉ số này liên quan đến tuổi và đó cũng là vấn đề khó
khăn khi thu thập số liệu để tính toán, đặc biệt ở những nơi có trình độ dân trí
thấp, bà mẹ đông con, những nơi các bà mẹ nhớ ngày sinh tháng đẻ của trẻ
theo cách riêng của họ. Thì đây quả là một vấn đề hết sức khó khăn.
Tuy nhiên, theo dõi cân nặng là việc tương đối dễ thực hiên ở cộng đồng
hơn cả, do đó tỷ lệ thiếu cân theo tuổi được sử dụng rộng rãi để tính tỷ lệ
chung của suy dinh dưỡng [1], [27], [29].
- Chiều cao/tuổi: Chiều cao/tuổi thấp được gọi là thấp còi (stunting), biểu
hiện suy dinh dưỡng trong quá khứ. Thấp còi được xem là hậu quả của tình
trạng thiếu ăn hoặc mắc các bệnh nhiễm khuẩn tái diễn. Đồng thời, nó cũng
phản ánh đó là hậu quả của vệ sinh môi trường kém và suy dinh dưỡng sớm.
Chỉ số này được dùng để đánh giá suy dinh dưỡng trong quá khứ với các
trang thiết bị rẻ tiền và dễ vận chuyển. Tuy nhiên, chỉ số này không nhạy, vì
sự phát triển chiều cao là từ từ. Như vậy, khi thấy trẻ có chiều cao thấp thì đã
muộn. Tỷ lệ trẻ em thấp còi được xem là chỉ số đánh giá tình trạng đói nghèo.


8

Đây là chỉ tiêu tốt để đánh giá sự cải thiện điều kiện kinh tế, xã hội. Thông
thường ở các nước đang phát triển, tỷ lệ thấp còi tăng nhanh sau 3 tháng tuổi,
đến 3 tuổi tỷ lệ này ổn định, sau đó chiều cao trung bình đi song song với
chiều cao tương ứng ở các quần thể tham khảo.
- Cân nặng/chiều cao:Cân nặng theo chiều cao thấp được gọi là suy dinh
dưỡng thể gầy còm (wasting), là chỉ số đánh giá suy dinh dưỡng hiện tại, hay
nói cách khác nó biểu hiện suy dinh dưỡng cấp tính, do vậy cần phải ưu tiên
can thiệp. Cân nặng/chiều cao thấp, chính là thiếu hụt cơ thể (khối nạc, khối
mỡ, xương) khi so sánh tổng số cần có của đứa trẻ có cùng chiều cao (hay

thấy khẩu phần ăn của trẻ thiếu năng lượng trầm trọng, ngay cả khi mức thiếu
protein mới ở mức đe doạ.
Sữa mẹ và thức ăn bổ sung đóng vai trò quan trọng đối với thời gian bị
suy dinh dưỡng và thể loại suy dinh dưỡng. Khi cho ăn bổ sung muộn, như
một số nước Châu Phi, các trường hợp suy dinh dưỡng nặng xảy ra vào năm
tuổi thứ hai, thứ ba hoặc thứ tư và thường là thể kwashiorkor. Maramus lại
hay xảy ra trước 06 tháng tuổi, đối với những trẻ không được bú sữa mẹ, hoặc
cho ăn bổ sung quá sớm. Ở các vùng thành phố, Maramus lại có liên quan đến
bú chai, nhất là khi số lượng sữa không đủ, đôi khi do cả các nguyên nhân sử
dụng núm vú cao su, các đầu mút không hợp vệ sinh. Cho trẻ em thức ăn đặc
quá, số lượng không đủ, năng lượng cùng protein trong khẩu phần thấp cũng
dẫn tới thể suy dinh dưỡng này.
Nhiễm khuẩn dễ đưa đến suy dinh dưỡng do rối loạn tiêu hoá và ngược
lại suy dinh dưỡng dễ dẫn đến nhiễm khuẩn do đề kháng giảm. Do đó tỷ lệ
suy dinh dưỡng có thể dao động theo mùa và thường cao trong các mùa bệnh
nhiễm khuẩn lưu hành ở mức cao (tiêu chảy, viêm hô hấp, sốt rét...).


10

Trong những năm tháng đầu tiên sau khi ra đời, những trẻ đã bị kém phát
triển trong thời kỳ bào thai (suy dinh dưỡng bào thai) có nguy cơ cao bị suy
dinh dưỡng sớm. Tình trạng kém phát triển của trẻ biểu hiện qua CN/T và
CC/T thấp, xảy ra trong khoảng thời gian tương đối ngắn, từ mới sinh đến khi
trẻ được 2 năm.
Một số nghiên cứu cho thấy, hiểu biết của phụ nữ và những người chăm
sóc trẻ cũng ảnh hưởng đến tình trạng suy dinh dưỡng [17], [21]. Hội nghị
thượng đỉnh về dinh dưỡng ở Rome 1992, đã khẳng định hai nguyên nhân gốc
rễ dẫn đến nạn suy dinh dưỡng là đói ăn và đói kiến thức [24]. Một số nghiên
cứu khác cho rằng, vào những năm 2000 yếu tố “thiếu ăn” dần trở nên ít quan

Thiếu ăn

Bệnh tật

Thiếu an ninh
lương thực - thực
phẩm hộ gia đình

Chăm sóc bà
mẹ - trẻ em
chưa tốt

Thiếu dịch vụ y
tế và vệ sinh
môi trường

Thượng tầng kiến trúc về chính trị và tư tưởng

Các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội

Nguyên
nhân cơ
bản
Cơ cấu kinh tế

Nguồn tiềm
năng


12

1.7. TÌNH HÌNH SUY DINH DƯỠNG TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI TRÊN
THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.7.1. Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi trên thế giới
Suy dinh dưỡng là một bệnh phổ biến của toàn cầu, đặc biệt là các nước
đang phát triển. Theo tổ chức y tế thế giới, năm 1990 ước tính có khoảng 500
triệu trẻ em bị suy dinh dưỡng trên phạm vi toàn cầu, trong đó khoảng 150
triệu ở các nước châu á chiếm khoảng 44% [31]. Tại hội nghị quốc tế về dinh
dưỡng họp tại Roma năm 1992 cho thấy khoảng 20% dân số các nước đang
phát triển lâm vào cảnh đói thiếu, 192 triệu người suy dinh dưỡng. Phần lớn
người dân ở các nước đang phát triển thiếu các vi chất dinh dưỡng. Khoảng
40 triệu người thiếu vitamin A, 200 triệu người thiếu máu do thiếu sắt. Theo
kết quả điều tra của 72 nước đang phát triển từ năm 1980 - 1992 cho thấy tỷ lệ
trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng là 35,8%, tỷ lệ trẻ còi cọc 42,7% tỷ lệ
gầy còm là 92%. Trong đó Châu Á có tỷ lệ cao nhất là 42% trẻ em dưới 5 tuổi
bị suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, 47,1% thể còi cọc và 10,8% thể gầy còm.
Châu Úc có 29% trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, 38,6% thể còi cọc và 7,2%
thể gầy còm. Mỹ Latinh có 11 % trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, 22,2% thể
còi cọc và 2,7% thể gầy còm [31].
Những năm gần đây suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi có xu hướng
giảm trên phạm vi toàn thế giới. Theo số liệu điều tra của 61 quốc gia năm
1998 thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng trong 15 năm qua giảm 0,54% /năm. Trong đó
các nước Đông Nam Á có tỷ lệ giảm nhanh nhất khoảng 0,9% [31]. Theo
thống kê của UNICEF cho thấy năm 1998 tỷ lệ suy dinh dưỡng của các nước
Đông Nam Á như: Lào 40%, Indonesia34 %, Mianma 43% [31].
1.7.2. Tình hình suy dinh dưỡng ở trẻ em Việt Nam
Tại Việt Nam, trong những năm qua nhờ có sự triển khai mạnh mẽ các
chương trình can thiệp, nhằm nâng cao tình trạng dinh dưỡng cho trẻ em trên


14


29,1

28,4

25,2

23,4

21,2

19,9

18,9

Do nguyên nhân suy dinh dưỡng phức tạp nên chiến lược phòng chống
suy dinh dưỡng phải là chiến lược lồng ghép. Ở Việt Nam hoạt động sau đây
gọi là can thiệp tối thiểu [31].
- Bú mẹ hoàn toàn trong vòng 6 tháng đầu.
- Ăn bổ sung hợp lý từ tháng thứ 6 và tiếp tục bú cho đến 24 tháng.
- Có đủ Vitamin A cho bà mẹ và trẻ em.
- Chăm sóc dinh dưỡng hợp lý sau khi mắc bệnh.
- Cung cấp viên sắt cho các bà mẹ khi mang thai.
- Các gia đình dùng muối tăng cường Iod.
1.8. CHIẾN LƯỢC PHÒNG CHỐNG SUY DINH DƯỠNG TRẺ EM
CỦA VIỆT NAM
Với quan điểm của Đảng ta coi trọng nhân tố con người trong chiến lược
phát triển kinh tế xã hội, vấn đề cải thiện dinh dưỡng và giảm tỷ lệ suy dinh
dưỡng trẻ em là một trong những mục tiêu quan trọng trong văn kiện Đại Hội


16

Đánh giá suy dinh dưỡng là quá trình thu thập và phân tích thông tin,
số liệu về suy dinh dưỡng và nhận định tình hình trên cơ sở các thông tin
số liệu đó.
Một phương pháp định lượng chính, thường được sử dụng trong đánh giá
suy dinh dưỡng là [3], [23], [34].
- Nhân trắc học đó là việc đo những biến đổi của các kích thước cơ thể và
các mô cấu trúc nên cơ thể. Ở các lứa tuổi và mức độ dinh dưỡng khác nhau.
Các chỉ số nhân trắc có thể thu thập trực tiếp từ các số đo hoặc từ một sự kết
hợp của các kích thước thô. Ví dụ: cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi,
cân nặng theo chiều cao...
- Điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống: Đây là phương pháp được sử
dụng để phát hiện sự bất hợp lý (thiếu hụt hoặc thừa) dinh dưỡng ngay ở giai
đoạn đầu tiên. Thông qua việc thu thập, phân tích các số liệu về tiêu thụ giữa
thực phẩm và tập quán ăn uống, cho phép rút ra các kết luận về mối liên hệ
giữa ăn uống và tình trạng sức khoẻ. Một số phương pháp thường dùng để
điều tra mức tiêu thụ thực phẩm là phương pháp hỏi ghi 24 giờ, phương pháp
hỏi ghi nhiều lần 24 giờ, phương pháp cân đong tại hộ gia đình, và phương
pháp điều tra tần suất tiêu thụ thực phẩm [33], [34].
- Các thăm khám thực thể, đặc biệt chú ý tới các triệu chứng suy dinh
dưỡng kín đáo và rõ ràng.
- Các xét nghiệm lâm sàng chủ yếu là hoá sinh ở dịch thể và các chất bài
tiết (máu, nước tiểu...) để phát hiện mức bão hoà chất dinh dưỡng.
- Các kiểm nghiệm chức phận, để xác định các rối loạn chức phận do
thiếu hụt dinh dưỡng.
- Điều tra tỷ lệ bệnh tật và tử vong: Sử dụng các thống kê y tế để tìm hiểu
mối liên quan giữa tình hình bệnh tật và suy dinh dưỡng.



18

Suy dinh dưỡng được ghi nhận khi chỉ số trên thấp hơn -2 độ lệch chuẩn
(
- Trẻ em dưới 5 tuổi (sinh từ ngày 15 tháng 07 năm 2005 đến ngày 15
tháng 07 năm 2010) và các bà mẹ có con trong diện điều tra.
- Nghiên cứu được tiến hành tại xã Ea Tiêu, huyện Cư Kuin, tỉnh
Đăk Lăk
- Thời gian nghiên cứu từ tháng 07/2010- 08/2010
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang.
2.2.2. Cỡ mẫu theo công thức tính cỡ mẫu của một nghiên cứu cắt ngang
Trong đó:

Z12/2p(1p)
n
d2

- Mức tin cậy 95%, Z = 1,96
- Tỷ lệ suy dưỡng 50%, p = 0,5
- Độ chính xác mong muốn 5%, d = 0,05
- Thay số liệu vào công thức tính được cỡ mẫu
n = 384

Lập danh sách trẻ dưới 5 tuổi của xã (trạm y tế xã quản lý
danh sách này), sau đó dùng máy vi tính chọn ngẫu nhiên từng trẻ < 5 tuổi để
khảo sát.
Tiêu chí chọn mẫu: Trẻ dưới 5 tuổi (theo danh sách của trạm y tế xã).
Tiêu chí loại ra khỏi mẫu: Sẽ loại ra những trường hợp sau:


21



- Ăn dặm.

- Tình trạng lúc sinh.

- Tiền sử bệnh tật của trẻ và mẹ.

- Nghề nghiệp mẹ.


22

- Trình độ văn hoá của mẹ.
- Hiểu biết của mẹ về cách nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ.
- Ăn uống của mẹ lúc có thai và cho con bú.
- Tuổi mang thai đầu tiên.
- Khoảng cách giữa các lần sinh.
- Điều kiện kinh tế gia đình.
2.2.4.3. Kỹ thuật thu thập số liệu
Cách tính tuổi: Tính tuổi theo quy ước của tổ chức y tế thế giới (1993)
hiện đang được áp dụng tại Việt Nam [3], [26], [34].
- Tính tuổi theo tháng (đối với trẻ em dưới 5 tuổi). Quy ước tính như sau:
Kể từ khi mới sinh tới trước ngày tròn tháng (từ 1 - 29 ngày hay còn gọi
là tháng thứ nhất) được coi là một tháng tuổi.
Kể từ ngày tròn một tháng đến trước ngày tròn hai tháng (tức 30 ngày
đến 59 ngày) được gọi là 2 tháng tuổi.
Tương tự như vậy, kể từ ngày tròn 11 tháng đến trước ngày tròn 12 tháng
(tức tháng thứ 12) được coi là 12 tháng tuổi.
Một cách ngắn gọn: Muốn biết trẻ mấy tháng tuổi theo quy ước, nghĩa là
cần biết trẻ đang thuộc tháng thứ mấy.

chính xác. Trẻ được cân cởi bỏ giày dép, mũ, mặc áo mỏng, trẻ đứng hoặc
ngồi để cân, không cử động, mặt nhìn thẳng. Trường hợp trẻ nhỏ, quậy khóc
không dỗ được, một người trong nhóm nghiên cứu sẽ bế trẻ để cân, sau đó trừ
đi cân nặng của người này để có cân nặng của trẻ. Cân nặng tính theo kg, lấy
1 số lẻ.
- Đo trẻ: Đo chiều dài nằm bằng thước đo chiều dài của UNICEF, đo
chiều cao đứng bằng thước đo MICROTOISE. Trẻ dưới 24 tháng đo chiều dài
nằm, trên 24 tháng tuổi đo chiều cao đứng.
Đo chiều dài: Trẻ nằm ngửa trên thước đo, người phụ nữ giữ đầu để mặt
trẻ nhìn thẳng lên trần nhà, mảnh gỗ chỉ số 0 của thước áp sát đỉnh đầu. Người


24

đo ấn thẳng đầu gối và đưa mảnh gỗ di động áp sát gót, khi gót chân sát mặt
phẳng nằm ngang và bàn chân thẳng đứng. Kết quả tính theo cm, lấy 1 số lẻ.
Đo chiều cao đứng: Trẻ bỏ giày dép, đi chân không, đứng quay lưng vào
thước đo, lưu ý để thước đo theo chiều thẳng đứng, vuông góc với mặt đất
nằm ngang. Gót chân, mông, vai và đầu theo một đường thẳng nằm ngang,
hai tay bỏ thẳng theo hai bên hình. Dùng thước vuông hoặc mảnh gỗ áp sát
đỉnh đầu thẳng góc với thước đo. Kết quả tính theo cm, lấy 1 số lẻ.
Thu thập các thông tin khác.
Dựa vào bộ câu hỏi đã chuẩn bị sẵn, nhằm thu thập các thông tin liên
quan đến suy dinh dưỡng của trẻ từ việc phỏng vấn bà mẹ.
2.2.5. Đánh giá suy dinh dưỡng [4], [12], [34]
2.2.5.1. Đánh giá suy dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi
Sử dụng tiêu chuẩn của TCYTTG để xác định, phân loại suy dinh dưỡng
trẻ em dưới 5 tuổi. Quần thể tham chiếu là NCHS và dựa vào 03 tiêu chuẩn
chính: là cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi và cân nặng theo chiều cao.
Phân loại như sau:

2.2.6. Phương pháp xử lý số liệu
Bộ câu hỏi đã được điền thông tin sẽ được giám sát viên kiểm tra ngay
tại thực địa để đảm bảo các sai sót, hoặc nhầm lẫn sẽ được chỉnh sửa, bổ sung
kịp thời.
Số liệu được nhập vào chương trình EPI DATA, số liệu sẽ được mã hóa
trước khi nhập vào máy và sẽ kiểm tra lại số liệu bằng các bảng chéo, nếu có
sai sót sẽ chỉnh sửa để đảm bảo số liệu sạch trước khi phân tích. Số liệu sau
khi đã được làm sạch, sẽ được chuyển sang chương trình EPI INFO 6.04
(phần phân tích số liệu về dinh dưỡng EPINUT ANTHROPOMETRY).



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status