1
ĐẶT VẦN ĐỀ
Suy dinh dưỡng protein-năng lượng ở trẻ em vẫn còn là một thách thức
quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng ở nước ta.
Suy dinh dưỡng là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong
ở trẻ em dưới 5 tuổi. Hậu quả của suy dinh dưỡng cả thể nhẹ và vừa đều nặng
nề. Theo Tổ chức Y tế Thế giới qua phân tích 11,6 triệu trường hợp tử vong
trẻ em dưới 5 tuổi trong năm 1995 ở các nước đang phát triển cho thấy có đến
54% (6,3 triệu) tử vong trẻ em dưới 5 tuổi liên quan đến thiếu dinh dưỡng.
Tổ chức Y tế thế giới và Unicef đã đưa ra mục tiêu phấn đấu giảm tỷ lệ
suy dinh dưỡng trẻ em xuống dưới 15% vào năm 2015 [18], [20], [54].
Việc giải quyết vấn đề suy dinh dưỡng phổ biến tại các nước đang phát
triển đòi hỏi cần xác định tình trạng dinh dưỡng và các yếu tố nguy cơ của
suy dinh dưỡng hiện tại của cộng đồng [57].
Phấn đấu để hạ thấp tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em là một việc làm cần
thiết và cấp bách vì con người là động lực của sự phát triển, trẻ em là tài sản
quý giá nhất của tương lai [21]. Chính vì vậy nhà nước ta đã rất quan tâm đến
vấn đề này bằng các chương trình dinh dưỡng quốc gia. Qua nhiều năm triển
khai thực hiện, nước ta đã giảm được số trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng
xuống từ 36,7% (năm 1999) còn 19,6% (năm 2008), trung bình mỗi năm giảm
2%, vượt mức đề ra là giảm 1,5% năm [1], [8], [9].
Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em
cũng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành y tế Quảng Nam
trong đó có cả huyện Thăng Bình, chỉ tiêu phấn đấu giảm trên 1,5% để đạt
dưới mức 20% vào năm 2009. Sau 10 năm triển khai hoạt động, tỷ lệ suy dinh
dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi từ 39,0% (năm 1999) xuống còn 20,6% (năm 2008)
trung bình mỗi năm giảm gần 2% [41], [42].
2
Một đứa trẻ không được ăn uống đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết
theo nhu cầu là bị thiếu dinh dưỡng, đứa trẻ thiếu dinh dưỡng sẽ ngừng lớn và
phát triển có thể trở thành SDD [45].
SDD là tình trạng bệnh lý xảy ra khi chế độ ăn nghèo protein - năng
lượng, thường kèm theo tác động của nhiễm khuẩn và ngược lại [25].
Năm 1959 Jelliffe D.B dùng thuật ngữ “Thiếu dinh dưỡng- protein
năng lượng- PEM ” vì mối liên quan giữa thể phù và thể teo đét, từ đó PEM
thay thế các thuật ngữ trước [50].
Khi từ “suy dinh dưỡng” được sử dụng nó có nghĩa là PEM [45].
Trong lịch sử y học, có rất nhiều tên được đặt ra để chỉ tình trạng thiếu
protein và năng lượng, Autret, nguyên giám đốc Phân ban dinh dưỡng cơ
quan lương nông Liên Hiệp Quốc đã ghi đến 38 tên khác nhau, sự kiện này
chứng tỏ SDD là bệnh phổ biến tại nhiều nước trên thể giới [12].
Ngày nay người ta cho rằng đây là một tình trạng bệnh lý do thiếu
nhiều chất dinh dưỡng hơn là thiếu đơn thuần protein và năng lượng
[20],[24],[50].
4
1.2. TẦM QUAN TRỌNG CỦA VẤN ĐỀ
Ước tính toàn thế giới hiện nay còn khoảng 150 triệu trẻ em trước tuổi
đi học bị SDD.
SDD vẫn còn là một vấn đề lớn nhất ở các quốc gia đang phát triển [44]
Việt nam sau 20 năm thực hiện chương trình quốc gia phòng chống
SDD, tình hình SDD có chiều hướng giảm 51,5% năm 1985 xuống 33,8%
năm 2000, tuy nhiên nước ta vẫn thuộc những nước có tỷ lệ SDD ở mức cao
trong khu vực [9].
Hậu quả của SDD thể nặng không còn là vấn đề bàn cãi nữa nhưng đối
với thể vừa và nhẹ, các hậu quả cũng không kém phần quan trọng. SDD làm
cho trẻ em dễ mắc các bệnh nhiễm trùng hơn và khi mắc bệnh tiến triển xấu
hơn. Do đó SDD là yếu tố làm tăng tỷ lệ tử vong, bệnh tật và ảnh hưởng xấu
kém hơn rõ rệt so với lô bình thường.
1.3.5. Hệ thống miễn dịch
Ở trẻ thiếu dinh dưỡng, có hiện tượng teo tuyến ức, hạnh nhân, lách và
các tổ chức lympho bào khác. Sự suy giảm miễn dịch trung gian tế bào chủ
yếu do thiếu protein, thiếu cả kẽm, folat và các chất dinh dưỡng khác.
1.3.6. Rối loạn chuyển hóa
- Chuyển hóa glucid: Ở trẻ thiếu dinh dưỡng, có thể xuất hiện tình trạng
hạ đường huyết, do đó cần chú ý khi theo dõi điều trị.
- Chuyển hóa lipid: hấp thu lipid thường kém gây ảnh hưởng tới sự hấp
thu các vitamin tan trong lipid. Người ta thấy ở trẻ thiếu dinh dưỡng, sự hấp
thu lipid thực vật tốt hơn lipid động vật. Đó là lý do để dùng dầu thực vật như
là nguồn năng lượng trong điều trị thiếu dinh dưỡng.
- Chuyển hóa protein: tiêu hóa protein kém do tiết trypsin của tuyến tụy
giảm, nhưng không ảnh hưởng nhiều đến khả năng sử dụng và tích chứa
protein khi áp dụng chế độ ăn hồi phục. Do tổng hợp protein ở gan bị ảnh
6
hưởng nên lượng protein huyết thanh giảm. Hàm lượng albumin trong huyết
thanh ở trẻ thiếu dinh dưỡng nếu dưới 2,5g / 100ml là bệnh lý [22], [42], [50].
- Chuyển hóa nước, điện giải: Thiếu kali xảy ra do ỉa chảy. Phù là hiện
tượng thường gặp ở trẻ thiếu dinh dưỡng, cơ chế chưa hoàn toàn sáng tỏ [11].
1.4. TÌNH HÌNH SDD TRẺ EM TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
1.4.1. Tình hình SDD trẻ em dƣới 5 tuổi trên thế giới
Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về trẻ em vào những năm đầu thập kỷ 90,
đã đề ra mục tiêu giảm một nữa tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em vào năm 2000. Chỉ
có khu vực Nam Mỹ đạt được mục tiêu này với tỷ lệ suy dinh dưỡng chung
giảm được 50% Riêng các nước đang phát triển trong cả thập kỷ qua tỷ lệ suy
dinh dưỡng giảm được 4%- từ 32% xuống còn 28%, trong đó tiến trình giảm
SDD mạnh nhất là ở các nước khu vực Đông Á và Thái Bình Dương. Năm
2004 tỷ lệ SDD trẻ em nước ta là 26,6%, tuy còn ở mức cao nhưng theo đánh
< 10
10-19
20-29
30
Gầy còm (wasting)
< 5
5-9
10-14
15
1.4.2. Các nghiên cứu trong nƣớc về tỷ lệ SDDTE dƣới 5 tuổi ở Việt Nam
Trong những năm qua, công cuộc đổi mới toàn diện Việt nam đã đạt
được những thành tựu to lớn. Đồng thời các hoạt động chăm sóc sức khỏe và
phòng chống SDD đã và đang được đẩy mạnh, những cải thiện toàn diện đó
cũng có tác động mạnh mẽ đến tiến triển của SDD trẻ em.
TCYTTG nhận định Việt Nam nằm trong số các nước có tỷ lệ SDD trẻ
em đang giảm nhanh nhưng do điểm xuất phát của chúng ta thấp nên hiện nay
tỷ lệ SDD TE vẫn còn cao [8].
Bảng 1.2. Tỷ lệ SDD qua 5 cuộc điều tra (1990-2004) [9]
Thể SDD
1990
1994
2000
2002
2004
SDD cân nặng/tuổi
45
44,9
33,8
30,1
44,4
9,2
47,5
60,1
14,2
54,7
61,8
16,8
2004
SDD cân/tuổi
SDD cao /tuổi
SDD cân/cao
21,2
23,4
4,8
30,8
35,7
7,6
39,7
42,3
8,9
Tình hình SDD trẻ em trên toàn quốc, Quảng Nam và Huyện Thăng
Bình từ 2000-2008
Bảng 1.4: Tỷ lệ SDD thể nhẹ cân ở Quảng Nam và Huyện Thăng
Bình[42]
Năm
Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân/tuổi (%)
Quốc gia
Tỉnh Quảng Nam
Huyện Thăng Bình
22,0
20,2
2008
19,6
20,6
18,8
Tỷ lệ SDD thể nhẹ cân của trẻ <5 tuổi Toàn quốc và của địa phương từ
2000 -2008 đều giảm dần; năm 2008 tỷ lệ chung toàn quốc 19,6% và Quảng
9
Nam 20,6%; như vậy khả năng đạt được chỉ tiêu của Chiến lược Quốc gia về
dinh dưỡng vào cuối năm 2010 là hoàn toàn thực hiện được.
1.4.3. Một số đặc điểm của SDD trẻ em Việt Nam
Trong những tháng đầu tiên sau khi sinh, cân nặng và chiều cao của trẻ
thường ở mức giữa - 2Z- score và giá trị trung vị của quần thể NCHS. Sau 3-
4 tháng, tỷ lệ trẻ có cân nặng theo tuổi và chiều cao theo tuổi thấp tăng lên
nhanh chóng, đến khoảng sau một năm tuổi SDD theo cả 2 chỉ tiêu trên đều
đạt đến mức cao. Tỷ lệ trẻ em gầy còm tăng nhanh sau 5 - 6 tháng tuổi và cao
nhất vào khoảng 13 -17 tháng tuổi. Điều này cho thấy có những vấn đề về
nuôi dưỡng trong giai đoạn nuôi trẻ bằng thức ăn bổ sung ngoài sữa mẹ. Sau 2
năm tuổi, tỷ lệ trẻ gầy còm giảm dần, trong khi đó mức SDD cân nặng theo
tuổi và cao theo tuổi vẫn duy trì ở mức cao- thực chất đó là SDD tích lũy [40].
1.5. NGUYÊN NHÂN SDD – PROTEIN NĂNG LƢỢNG
Thiếu dinh dưỡng protein năng lượng thường xảy ra do:
- Chế độ ăn thiếu về số lượng và kém về chất lượng.
- Tình trạng nhiễm khuẩn: bệnh đường ruột, sởi, nhiễm khuẩn hô hấp
cấp Các bệnh này làm tăng nhu cầu và giảm sự hấp thu [24], [25], [27].
SDD là hậu quả tác động của nhiều yếu tố. Theo các chuyên gia
UNICEF, nguyên nhân SDD được chia 3 nhóm:
1.5.1. Nguyên nhân trực tiếp
1.5.2. Nguyên nhân tiềm tàng
Sự thiếu hụt khẩu phần có thể xảy ra do thiếu thực phẩm hoặc người
mẹ có ít thời gian dành cho chế biến thức ăn hoặc cho trẻ ăn.
Nhiễm khuẩn là hậu quả của dịch vụ y tế kém, thiếu nước sạch, vệ sinh
kém, trẻ không được chăm sóc đầy đủ, được xếp 3 nhóm:
- Thiếu an ninh thực phẩm hộ gia đình
Suy dinh dưỡng + tử vong
Thiếu ăn
Bệnh tật
An toàn thực
phẩm hộ gia đình
không đảm bảo
Chăm sóc bà
mẹ và trẻ em
chưa được quan
tâm
Dịch vụ y tế
chưa đầy đủ,
vệ sinh môi
trường kém
Các tổ chức nhà nước
và đoàn thể
Cấu trúc chính trị
kinh tế - xã hội
Biểu hiện
Nguyên nhân
tiềm tàng
Nguyên nhân
trực tiếp
Nguyên nhân
- Thể nặng có phù hoặc teo đét, hiện nay rất hiếm gặp
12
1.6.1.2. Cỏc ch s nhõn trc [3], [23], [38], [59].
S phỏt trin ca tr c theo dừi bng cỏc s o v kớch thc trờn c
th, l mt s phn ỏnh khỏch quan TTDD ca nú. o lng cỏc kớch thc
trờn c th tr, so sỏnh cỏc kớch thc ú vi qun th chun (qun th tham
kho - QTTK) s ỏnh giỏ c TTDD ca tr.
Vit nam hin nay, ỏnh giỏ TTDD tr em di 5 tui, cỏc tỏc gi s
dng qun th tham kho NCHS (National Center for Health Statistics). Qun
th NCHS c chn bi vỡ nú ỏp ng hu ht cỏc tiờu chun ngh ca
hi khoa hc dinh dng quc t [38].
Mt s khỏi nim.
Bỏch phõn v (percentile)
Mt bỏch phõn v tng ng vi v trớ ca mt giỏ tr kớch thc o
c trong mi tng quan vi tt c cỏc giỏ tr o c (100%) ca QTTK
c phõn ranh gii theo th t v ln.
lch chun (Standard Deviation - SD)
õy l cỏch tớnh toỏn da theo lut phõn phi chun
- SD ca ch s cõn nng theo tui tng ng 10% giỏ tr trung v
- SD ca ch s chiu cao theo tui tng ng 5% giỏ tr trung v
- SD ca ch s cõn nng theo cao tng ng 10% giỏ tr trung v
Z-score
Vic s dng Z-score c khuyn cỏo bi Waterlow v cng s t
nm 1977. õy l phng phỏp tớnh im lch ca cỏc kớch thc nhõn
trc o c so vi trung v ca QTTK [37].
Cỏch tớnh Z- score nh sau [3], [48], [58].
QTTK cuớachuỏứn lóỷch õọỹ trởGiaù
QTTK cuớa vở trung trởGiaù - thóứ caù cuớa õổồỹc õo trởGiaù
score-Z
giá trị đo được trên đứa trẻ đạt bao nhiêu phần trăm so với trung vị.
14
Phân loại của GOMEZ
- Nguyên tắc: Dựa trên chỉ số cân nặng theo tuổi so với trung vị của
quần thể tham khảo Harvard.
- Cách phân loại SDD [49]
90% : Bình thường
75 - 89 % : SDD nhẹ (độ 1)
60 - 74 % : SDD vừa (độ 2)
< 60% : SDD nặng (độ 3)
Hạn chế: không phân biệt được giữa marasmus và kwashiorkor, giữa
SDD cấp hay mãn bởi vì không để ý tới chiều cao, nếu trẻ SDD bị phù thì sử
dụng chỉ số WFA lại khó đưa ra quyết định chính xác.
Phân loại theo Welcome (1970) [38], [50].
Bảng 1.5. Phân loại SDD của Welcome
% cân nặng mong đợi
theo tuổi
Phù
Có
Không
80 - 60%
Kwashiorkor
Thiếu cân
< 60%
Marasmus và kwashiorkor
Marasmus
Phân loại theo WATERLOW (1972)
Sử dụng cả chỉ số cân nặng theo chiều cao và chiều cao theo tuổi so với
trung vị của quần thể tham khảo Harvard.
Suy dinh dưỡng là vấn đề dinh dưỡng cộng đồng quan trọng nhất trên
thế giới hiện nay. Trẻ em là đối tượng chính của SDD, nếu không can thiệp
kịp thời thì quãng thời gian phát triển nhanh nhất và quan trọng nhất (thời kỳ
bào thai và 5 năm đầu tiên) sẽ trôi qua và hậu quả do SDD không có cơ hội
phục hồi được. Do nguyên nhân phức tạp nên chiến lược phòng chống SDD
phải là một chiến lược lồng ghép trong đó vai trò của phụ nữ hộ gia đình rất
quan trọng. Tổ chức UNICEF đã đề ra chiến lược GOBIFF (theo dõi tăng
trưởng, tiêm chủng theo lịch, nuôi con bằng sữa mẹ, bù nước và điện giải, kế
hoạch hoá gia đình và tạo nguồn thực phẩm) [18].
Thời kỳ có nguy cơ cao về SDD là thời gian nằm trong bụng mẹ và 2
năm đầu tiên. Đỉnh cao của SDD trẻ em thường ở lứa tuổi 24- 36 tháng,
nhưng đó là đỉnh tập hợp của SDD ở các thời kỳ trước đó vì SDD là một bệnh
16
mãn tính chứ không tiến triển nhanh như một số bệnh nhiễm khuẩn. Vì vậy
chiến lược phòng chống SDD cần tập trung vào các thời kỳ sớm [22].
SDD bắt đầu từ biểu hiện chậm lớn cho đến các thể nặng là marasmus,
kwashiorkor. Trong hoạt động chăm sóc sức khỏe ban đầu, việc nhận biết các
thể nhẹ và vừa có ý nghĩa quan trọng đặc biệt [5], [45].
Tình trạng sức khỏe, dinh dưỡng của mẹ liên quan chặt chẽ tới thai nhi
và con của họ, cho nên cần theo dõi cả tình trạng dinh dưỡng của người mẹ.
Đối với trẻ:
- Phải cân trẻ ngay sau khi sinh, cân đều đặn, theo dõi biểu đồ tăng
trưởng, nếu có một sự bất thường phải tìm nguyên nhân và can thiệp kịp thời.
Trẻ chậm lớn là biểu hiện sớm nhất của bệnh. Ý nghĩa của việc sử dụng biểu
đồ phát triển là phát hiện sớm dấu hiệu trì trệ về tăng trưởng để có biện pháp
can thiệp kịp thời, có hiệu quả nhất [4].
Hai thời điểm cần chú ý nhất là lúc bắt đầu cho ăn bổ sung và lúc thôi
cho bú mẹ, rất dễ là điểm khởi đầu của SDD.
- Nuôi con bằng sữa mẹ được coi là một trong những biện pháp quan
Vị trí địa lý:
Bình Trị phía tây giáp xã miền núi Bình Lãnh, phía nam giáp xã Tiên
Sơn, huyện Tiên Phước, phía bắc giáp Quế Minh, huyện Quế Sơn, phía đông
giáp xã Bình Định Bắc.
Diện tích tự nhiên 50km2 phân bố dân số khoảng 150 người/km2. Địa
hình đi lại khó khăn chủ yếu là đường đất, bê tông hóa giao thông nông thôn
chưa nhiều nên việc đi lại càng khó khăn hơn nhất là về mùa mưa lũ.
18
Chƣơng 2
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1. Đối tƣợng
Tất cả trẻ em dưới 5 tuổi (những trẻ sinh từ ngày 1 tháng 4/2004 đến
ngày 1 tháng 7 năm 2009) và các bà mẹ có con trong diện điều tra.
Tất cả các đối tượng trên phải có hộ khẩu quản lý tại địa phương.
2.1.2. Thời gian và địa điểm
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 1/4/2009-1/7/2009.
2.2. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
2.2.1. Phƣơng pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang trên mẫu ngẫu nhiên
có phân tích nhằm xác định tỷ lệ hiện mắc suy dinh dưỡng và một số yếu tố
nguy cơ.
2.2.2. Cỡ mẫu
Vì số trẻ dưới 5 tuổi của xã Bình Trị là không lớn nên ở đây chúng tôi
nghiên cứu toàn bộ trẻ <5 tuổi của xã, tổng số trẻ điều tra là 417.
2.2.3. Phƣơng pháp chọn mẫu
Chọn toàn bộ số trẻ của xã dựa theo danh sách được quản lý tại trạm Y
tế xã trước khi điều tra.
- Tương tự, kể từ ngày tròn 11 tháng đến trước ngày tròn 12 tháng (tức
tháng thứ 12) được coi là 12 tháng tuổi.
Lấy ngày sinh làm mốc, trẻ đang ở tháng thứ bao nhiêu thì bấy nhiêu
tháng tuổi.
Tính tuổi theo năm (theo quy ước của TCYTTG) được tính như sau:
20
- Từ sơ sinh đến trước ngày đầy năm: 0 tuổi hay dưới 1 tuổi.
- Từ ngày tròn năm đến trước ngày sinh nhật lần thứ 2 gọi là 1 tuổi.
Tóm lại, kể từ ngày sinh nhật thứ bao nhiêu thì trẻ bấy nhiêu tuổi.
Dùng lịch âm dương để quy đổi khi đối tượng không nhớ ngày sinh của
trẻ là dương lịch [3],[23].
2.3.2. Xác định cân nặng và chiều cao của trẻ
- Cân nặng: Sử dụng cân điện tử của UNICEF có độ chính xác 0,01 kg.
Đối trẻ dưới 2 tuổi dùng cân lòng máng cho trẻ
nằm. Đối với trẻ trên 2 tuổi thì tự đứng trên
cân để cân. Kết quả được ghi theo kilogam với
1 số lẻ.
- Chiều cao: sử dụng thước đo chuyên
dụng do Viện Dinh dưỡng Hà Nội cấp.
Đo chiều cao của trẻ< 5 tuổi theo 2 cách
sau:
+ Cách thứ nhất đo chiều cao đứng đối
với trẻ từ 24 tháng tuổi trở lên: Trẻ bỏ giày
dép, đi chân không, đứng quay lưng vào thước
đo. Thước đo theo chiều thẳng đứng, vuông góc với mặt đất nằm ngang. Gót
chân, mông, vai và đầu tạo thành một
đường thẳng áp sát vào thước, mắt nhìn
thẳng ra phía trước theo đường nằm
ngang vuông gốc với thước đo, hai tay
- Các biến định lượng
+ Trọng lượng lúc sinh của trẻ: tính bằng gam
+ Thứ tự của trẻ trong gia đình
22
+ Thời gian bắt đầu bú sau sinh: là thời gian từ khi trẻ lọt lòng đến lần
bú đầu tiên, tính bằng số giờ.
+ Thời gian bắt đầu ăn sam: là thời gian trẻ bắt đầu ăn các thức ăn khác
ngoài sữa mẹ, tính bằng số tháng.
+ Thời gian cai sữa hoàn toàn: là thời gian trẻ hoàn toàn không còn bú
sữa mẹ, tính bằng số tháng.
+ Tuổi của mẹ.
+ Trình độ văn hóa của mẹ
+ Số con: là số con hiện còn sống, kể cả số con hiện ở trong nhà, đi
học hay đi làm xa hoặc đã lấy vợ lấy chồng.
- Các biến định tính:
+ Giới của trẻ
+ Nghề nghiệp của mẹ.
+ Tình hình ăn uống của mẹ lúc có thai và cho con bú.
+ Tình hình bệnh tật của trẻ: Hỏi kết hợp quan sát, có thể thăm khám để
xác định tình hình bệnh tật của trẻ trong 2 tuần qua.
+ Hiểu biết của bà mẹ về các vấn đề nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ: Trẻ
được dùng thức uống gì khi chưa cho bú sau sinh, tình trạng bú mẹ, ăn sam
sớm, cai sữa sớm, chăm sóc trẻ khi ốm, tiêm chủng,
+ Kinh tế gia đình:
2.4. NHẬN ĐỊNH KẾT QUẢ
2.4.1. Đánh giá tình trạng dinh dƣỡng của trẻ dƣới 5 tuổi
3 chỉ số được dùng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ là: cân
nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi và cân nặng theo chiều cao. Sử dụng quần
thể tham chiếu NCHS (National Center for Health Statistic) của Hoa Kỳ.
2.4.4. Tiêu chuẩn đánh giá mức kinh tế hộ gia đình [5]
+ Hộ nghèo: Thu nhập bình quân ≤ 200.000 đồng/người/tháng
+ Cận nghèo: Thu nhập bình quân 201.000-260.000 đồng/người/tháng
+ Hộ trung bình: Thu nhập 261.000 - 649.000 đồng/người/tháng
+ Hộ trên trung bình: Thu nhập ≥650.000 đồng/người/tháng
24
Đơn vị phối hợp để tiến hành điều tra gồm:
- Trạm y tế xã Bình Trị
- Khoa chăm sóc SKSS thuộc Trung tâm y tế dự phòng Thăng Bình.
2.5. PHƢƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU
Số liệu được làm sạch trước khi nhập vào máy tính, sử dụng phần mềm
EPI INFO 6.04 để nhập và xử lý số liệu.
Phân tích số liệu được tiến hành bằng chương trình SPSS 13.0 và
STATA. Xác định các tỷ lệ hiện mắc bằng cách hiệu chỉnh theo tuổi và giới.
- Sử dụng test
2
khi so sánh các tỷ lệ
Để đánh giá các yếu tố liên quan với suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi
chúng tôi phân tích từng yếu tố với tỷ lệ hiện mắc suy dinh dưỡng thể nhẹ
cân. Nhận định có mối liên quan với suy dinh dưỡng có ý nghĩa thống kê khi
giá trị p<0,05 [38]. 25
Chƣơng 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. PHÂN BỐ SỐ TRẺ ĐIỀU TRA
Bảng 3.1. Phân bố số trẻ theo tuổi và giới
37-48
43
20,1
40
19,7
83
19,9
49-60
42
19,6
39
19,2
81
19,4
Tổng
214
51,3
203
48,7
417
100
22
21,7
17,8
17,2
20,6
22,2
20,1
19,7
19,6