1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y DƢỢC HUẾ
ĐẶNG VĂN TUẤN NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH Ở
TRẺ EM DƢỚI 5 TUỔI TẠI XÃ PHÚ XUÂN, HUYỆN PHÚ VANG
TỈNH THỪA THIÊN - HUẾ NĂM 2007
LUẬN VĂN CỦA BÁC SỸ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH : Y TẾ CÔNG CỘNG Mã số :
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học :
THẠC SỸ, BS CK II ĐOÀN PHƢỚC THUỘC HUẾ -2007
1.4.Nguyên nhân.
1.5. Một số yếu tố nguy cơ liên quan đến NKHHCT.
1.6.Tầm quan trọng của NKHHCT.
CHƢƠNG II. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.Đối tượng nghiên cứu.
2.2.Phương pháp nghiên cứu.
2.3. Nội dung nghiên cứu
2.4. Phương pháp thu thập số liệu
2.5. Tổ chức thực hiện
2.6. Sai số và kiểm soát sai số
CHƢƠNG III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1.Tình hình NKHHCT trẻ dưới 5 tuổi .
3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến NKHHCT.
CHƢƠNG IV. BÀN LUẬN
3.1.Tình hình NKHHCT trẻ dưới 5 tuổi .
3.2. Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến NKHHCT.
KẾT LUẬN
KIẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
4
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) ở trẻ em, đã và đang là một
trong những vấn đề mang tính chất toàn cầu, thu hút sự quan tâm của mọi
quốc gia, là một trong những vấn đề mà tổ chức y tế thế giới quan tâm, nhất là
tại các nước đang phát triển ở châu Á , châu Phi , châu Mỹ -La tinh.
NKHHCT là tình trạng viêm nhiễm đường hô hấp cấp do virus hoặc vi
khuẩn gây ra, là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em
dưới 5 tuổi [3,9,11,30], nhất là ở trẻ em dưới 1 tuổi .Cùng với suy dinh dưỡng
Xã Phú Xuân, huyện Phú Vang là một xã nghèo thuộc vùng đầm phá,
đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, trong nhiều năm qua đã được
sự quan tâm của Đảng và nhà nước, nhất là trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe.
Tuy nhiên tình hình bệnh tật vẫn còn là mối đe dọa lớn đối với sức khỏe và
đời sống của nhân dân ,nhất là đối với trẻ em dưới 5 tuổi, đặt biệt là bệnh
NKHHCT, mặc dù tỷ lệ tử vong đã giảm rỏ rệt nhưng tỷ lệ mắc bệnh vẫn còn
tương đối cao.
Xuất phát từ tầm quan trọng trên, nhằm góp phần tìm hiểu nguyên
nhân và một số yếu tố nguy cơ liên quan đến NKHHCT trẻ em dưới 5 tuổi
tại xã Phú Xuân, huyện Phú Vang sau nhiều năm triển khai chương trình,
chúng tôi tiến hành đề tài Nghiên cứu tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp
tính ở trẻ em dƣới 5 tuổi tại xã Phú Xuân, Huyện Phú Vang tỉnh Thừa
Thiên - Huế năm 2007 với các mục tiêu :
1. Xác định tỷ lệ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi tại
xã Phú xuân, huyện Phú Vang .
2. Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh NKHHCT ở trẻ em dưới
5 tuổi tại xã Phú Xuân, huyện Phú Vang.
6 7
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình bệnh NKHHC ở trẻ em dƣới 5 tuổi trên thế giới, tại
năm tại Việt Nam có khoảng hơn 30 triệu lượt trẻ mắc nhiễm khuẩn hô hấp
cấp tính các thể, trong đó có khoảng hơn 6 triệu lượt trẻ bị viêm phổi hoặc
viêm phổi nặng [17 ]
Tại viện bảo vệ sức khỏe trẻ em (Nguyễn Thu Nhạn và Nguyễn Văn
Lộc,1981), tỷ lên bệnh đường hô hấp so với bệnh nhân chung là 44%[23]
.Theo Thái thành Nhơn 1991 , tại Thành phố Hồ Chí Minh : số trẻ đến khám
bệnh do hô hấp 138.020, do tiêu chảy 31.092, vào điều trị do hô hấp 24.258
và ỉa chảy 12.182, tại Huế tỷ lệ mắc NKHHCT trong tổng số trẻ em vào điều
trị ở bệnh viện là 54,52% ( theo báo cáo của chương trình NKHHC năm
1998).
Theo Nguyễn Tấn Viên và cộng sự , viêm phổi chủ yếu xảy ra ở trẻ nhỏ
dưới 12 tháng tuổi, trẻ càng nhỏ tỷ lệ tử vong càng cao 67,95%, trẻ có thể mắc
bệnh nhiều lần trong năm.
Trên cơ sở thu thập số liệu của một số nghiên cứu , Phạm Quốc Vượng
đưa ra số lượt mắc của trẻ em là :
Bảng 1.1 Số lƣợt mắc NKHHC tại Việt Nam
Người nghiên cứu
Năm nghiên
cứu
Lượt mắc NKHHC ở trẻ dưới 5
tuổi
Đỗ Hứa và cộng sự
1989
1,6 lượt/trẻ/ năm ( trẻ <2 tuổi )
Hoàng Thị Hiệp và cộng sự
1995
3,3 lượt/trẻ/ năm
Lê Văn Nhi
1995
7,8 lượt/trẻ/ năm
bà mẹ về các vấn đề chăm sóc sức khỏe còn nhiều hạn chế, do đó tỷ lệ trẻ mắc
các bệnh, nhất là tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị NKHHCT còn khá cao.
1.2 Khái niệm và định nghĩa NKHHCT :
1.2.1 Khái niệm về NKHHCT:
Theo quy định của TCYTTG, NKHHC ở trẻ em dưới 5 tuổi là bao gồm
các trường hợp nhiễm trùng ở :
- Đường hô hấp trên, bao gồm :
10
* Tai giữa
* Mũi Họng
* Nắp thanh quản , mốc chia đường hô hấp trên và dưới.
- Đường hô hấp dưới, bao gồm :
* Thanh quản
* khí quản
* Hệ phế quản
* Phế nang
Nhiểm khuẩn hô hấp trên thường gặp các bệnh như ho, cảm lạnh, viêm
họng, viêm VA, viêm Amidn, viêm tai giữa cấp v.v Nhiểm khuẩn đường hô
hấp trên thường nhẹ và ít gây tử vong. Nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới bao
gồm cac bệnh như viêm thanh quản, viêm thanh khí phế quản , viêm tiểu phế
quản, viêm phổi. NKHHC dưới thường nặng và dể gây tử vong, đặt biệt là
chết do viêm phổi cấp tính chiếm 90% [4].
1.2.2 Định nghĩa NKHHC :
NKHHC là một nhóm bệnh rất đa dạng do vi khuẩn hoặc do víut gây ra
trên toàn bộ đường hô hấp bao gồm từ mũi, họng , thanh khí phế quản đến
nhu mô phổi. Một số bệnh thường gặp như cảm cúm, đau họng, đau tai, viêm
phế quản và viêm phổi.
1.3 Một số phân loại NKHHCT :
1.3.1. Phân loại theo vị trí giải phẫu :
+ Co giật
+ Sốt hoặc hạ nhiệt (đối với trẻ dưới 2 tuổi )
+ Ngủ li bì khó đánh thức
+ Thở rít khi nằm yên
+ Suy dinh dưỡng nặng
1.3.3 Ho:
12
Ho là một phản xạ của cơ quan hô hấp để tống đờm giải ra ngoài làm
thông thoáng đường thở khi bộ phận hô hấp bị viêm nhiểm. Phản xạ bắt đầu
bằng sự kích thích thụ thể ho nằm dọc đường hô hấp. Nếu có vật lạ kích thích
đường thở hoặc đường thở bị viêm nhiểm thì những thụ thể này bị kích thích
và truyền lên trung tâm điều khiển ho ở vỏ não( hành tủy) bởi dây thần kinh
phế vị và nhánh thần kinh thanh quản gây ho. Như vậy về mặt nào đó thì ho là
có lợi ( tống đờm giải ra ngoài làm thông thoáng đường thở ). Các thụ thể ho
phần lớn nằm ở vị trí có khả năng tiếp xúc lớn các ngã ba đưồng thở có kích
thước lớn và vừa nằm ở đường hô hấp trên. Vì vậy trong viêm phổi thường ho
không nhiều. Trên cơ sở đó có thể dựa vào ho dể phát hiện sớm các trường
hợp NKHH khi trẻ bị viêm nhiểm đường hô hấp trên [5 ]
1.3.4.Thở nhanh:
Thở nhanh là một phản ứng sinh lý đối với hiện tượng thiếu ôxy trong
viêm phổi đồng thời khi phổi bị viêm lâu sẽ mất tính mềm mại và sự giãn nở
của phổi kém, vì vậy buộc phải tăng nhịp thở.
Muốn xác định nhịp thở nhanh phảo dựa trên cơ sở nhịp thở bình thường
của trẻ tùy theo lứa tuổi. Trẻ càng nhỏ tuổi nhịp thở càng nhanh, lúc thức thở
nhanh hơn lúc ngủ [7].
Từ nhịp thở bình thường của trẻ tùy theo lứa tuổi cộng thêm 10 nhịp ta sẽ
có ngưỡng thở nhanh của 3 độ tuổi theo TCYTTG như sau :
+ Trẻ dưới 2 tháng tuổi : Trên 60 lần / phút
+ Trẻ từ 2 tháng - 12 tháng tuổi : Trên 50 lần / phút
thời để đưa trẻ đến bệnh viện ngay, chưa cần chẩn đoán chính xác là bệnh gì.
1.4. Nguyên nhân :
1. 4.1.Vi rus:
Phần lớn NKHHCT ở trẻ em là do do nguyên nhân vius, chiếm 70 % ,
virus gây nhiểm khuẩn hô hấp chủ yếu là NKĐHHT trên, phổ biến là vào mùa
14
đông, loại và mức độ trầm trọng của bệnh chịu ảnh hưởng bởi một vài yếu tố
bao gồm : tuổi, mùa trong năm, tình trạng miễm dịch của vật chủ, yếu tố môi
trường.
Hơn 200 virut có thể gây nên NKHHCT và Rhinoviruses chiếm hơn 1/3
của tất cả các loại virut. Những virut thường gặp gây bệnh NKHHCT ở trẻ em
là :
Virut hợp bào hô hấp hay gặp nhất (RSV) [9]
Virut cúm, á cúm
Virut sởi
Adeno virus
Rhino virus, Entero virus, Corrna virus và các loại virus khác.
1. 4.2. Vi khuẩn:
Các loại Vi khuẩn thường gây nhiểm khuẩn hô hấp cấp tính thứ phát sau
virut [4].Nhất là các nứoc đang phát triển thì khả năng bội nhiễm vi khuẩn có
tỷ lệ rất cao, nhất là đối với trẻ dưới 3 tuổi NKHHCT do vi khuẩn thứ phát
sau nhiễm virus ,trong đó hai nhóm vi khuẩn thường gặp là Hemophilus
influenzae, Streptococcus pneumoniae. Tuy nhiên các yếu tố nguy cơ là
những điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn xâm nhập gây viêm phổi ở trẻ em[4].
Theo nghiên cứu của nhiều nước phát triển và cả Việt nam thì vi khuẩn gây
viêm phổi ở trẻ em dưới 5 tuổi thường gặp là : Hemophilus influenzae,
Streptococcus pneumoniae, Staphylococcus aureus, Bordella, Klebsiella
pneumoniae, Chlamidia trachomatis và các vi khuẩn khác [6 ].
1.5.Một số yếu tố ảnh hƣởng đến NKHHCT
62,5%, ối vỡ sớm 53,6%, trong đó tỷ lệ này thấp hơn 33,2% ở nhóm chứng
[22].
Kết quả các nghiên cứu cho thấy chết do NKHHCT ở trẻ dưới 1 tuổi nếu
khi sinh nặng dưới 2500g chiếm 2,64% của trẻ sống, trong khi nếu sinh nặng
trên 2500g chỉ là 0,68% ( Trần Quỵ,2001)[25].
16
1.5.3 Suy dinh dƣỡng
Trẻ bị SDD rất dễ bị nhiễm trùng và làm cho tình trạng này ngày càng
nặng.
Hoàng Minh Thu, Trần Thị Biền ( 1994) nghiên cứu trên 200 bệnh nhân
viêm phổi và 100 bệnh nhân không viêm phổi ở trẻ dưới 12 tháng cho thấy
SDD là một yếu tố nguy cơ cao nhất trong viêm phổi [27] Chương trình ARI
tỉnh Lạng Sơn tại hội nghị sinh hoạt khoa học Bộ y tế 1994 trẻ SDD mắc
NKHHCT chiếm 40, 60 % [5].
SDD dễ bị viêm phổi và thời gian viêm phổi kéo dài hơn trẻ không bị
SDD (Tạ Thị Anh Hoa, 1997), (Nguyễn Trung Trực, 1999) SDD làm tăng
nguy cơ NKHHCT [28].
1.5.4 Thiếu sữa mẹ:
Một nghiên cứu ở Brazin (1985) cho thấy nếu nguy cơ tương đối của tử
vong do viêm phổi ở trẻ được nuôi bằng sữa mẹ là 1 thì trẻ được nuôi bằng
sữa mẹ và sữa bò là 1,2 và trẻ chỉ được nuôi bằng sữa bò là 3,3 [25]. Bú sữa
mẹ trong thời gian ngắn (0-6 tháng ) làm tăng nguy cơ NKHH dưới và nhiểm
trùng tại bệnh viện so với trẻ bú sữa mẹ dài hơn.
Hoàng Minh Thu, Trần Thị Biền (1994) nghiên cứu thiếu sữa mẹ là yếu
tố nguy cơ cao cho NKHHCT ở trẻ em dưới 12 tháng tại khoa nhi bệnh viện
Xanhphôn - Hà Nội [27].
1.5.5 Ăn dặm sớm:
Ăn dặm sớm là ăn dần dần những thức ăn của người lớn kèm thêm với
Gia đình đông con từ 3 con trở lên mác NKHHCT 38,20% [5]. Gia đình
có từ 5con trở lên mắc NKHHCT cao 2,47 lần hơn gia đình có 1 con và 2,06
lần hơn gia đình có 2 con (Bùi Đức Dương , Tô Anh Toàn, 2001) [12].
1.5.9. Các yếu tố chăm sóc trẻ:
18
Nhà trẻ là một giai đoạn quyết định của sự phát triển nhân cách trẻ trong
mức độ nó phủ kín các thời kỳ nhạy cảm như Montessori đã nói, những thời
kỳ cho phép tiếp xúc với thế giới bên ngoài một cách đặt biệt mãnh liệt với trẻ
, mọi cái đều hứng thú và sống động. Nhưng nhà trẻ cũng là môi trường đông
đúc cho nên sự chăm sóc trẻ tại nhà trẻ cũng làm tăng nguy cơ NKHHCT.
Đối với những trường hợp trẻ không được mẹ chăm sóc ( do mẹ đi làm
việc ngoài gia đình ) thì nguy cơ NKHHCT tăng lên. Nguy cơ NKHHCT
tăng lên theo thời gian người mẹ vắng nhà kể từ lúc sinh trẻ , thời gian ít hơn
25% so với thời gian trong ngày.
Ngoài ra, môi trường chung quanh làng mạc, khu phố, nơi trẻ sinh hoạt,
tuổi và kiến thức của bà mẹ, điều kiện kinh tế gia đình cũng đều ảnh hưởng
đến sức khỏe trẻ em và trẻ dễ bị các bệnh nhiễm khuẩn đặc biệt là NKHHCT.
Suy dinh dưỡng
Kinh tế gia đình
Tiếp xúc với không khí Trẻ đẻ non, sinh
khó,
bị ô nhiễm : Khói thuốc lá, Yếu tố nguy cơ của thiếu sữa mẹ.
khói bếp NKHHCT Cân nặng lúc đẻ
thấp
Thiếu kiến thức nuôi dưỡng
trình quốc gia phòng chống NKHHCT trẻ em.
Việc điều trị các trường hợp viêm phổi nặng khá phức tạp và tốn kém,
trong khi đó việc phát hiện sớm viêm phổi cũng như việc phòng chống
20
NKHHCT có thể thực hiện được ngay tại cộng đồng nhờ các biện pháp chăm
sóc sức khỏe ban đầu.
Chương trình ARI tại Việt Nam ,có thể nói là đã đạt được những kết quả
nhất định trong việc giảm tỷ lệ cho trẻ em mắc NKHHCT qua hàng năm, mặc
dù cho đến nay tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 5 tuổi do NKHHCT vẫn chiếm tỷ lệ
cao trong tử vong chung ở trẻ em. Số liệu tổng kết năm 2001, toàn quốc có
7.345.835 trẻ dưới 5 tuổi được bảo vệ, trong đó mắc bệnh NKHHCT là
2.350.227 với tần suất 0,3/ trẻ và tử vong do NKHHCT là 625/1700 tử vong
chung[17].
Chiến lược hoạt động của chương trình để đạt các mục tiêu gồm các hoạt
động sau: huấn luyện cho cán bộ y tế các tuyến về khả năng xữ trí NKHHC
theo phát đồ của tổ chức y tế thế giới , truyền thông giáo dục cho các bà mẹ
để nhận biết các dấu hiệu của bệnh cũng như chăm sóc trẻ bệnh tại nhà , giám
sát các hoạt động của chương trình, cung cấp thuốc và các trang thiết bị tại
các tuyến y tế cơ sở. Trong những năm trở lại đây chương trình đã thực hiện
được cơ bản các hoạt động trên một cách khá tốt , góp phần đem lại những kết
quả khả quan Một vấn đề hiện nay là cần đi sâu vào việc loại bỏ các yếu tố
nguy cơ liên quan đến NKHHCT đối với trẻ em, đây là một vấn đề có ý nghĩa
trước mắt cũng như lâu dài , đó là việc xác định cụ thể từng loại nguy cơ tại
từng vùng , dựa vào điều kiện , hoàn cảnh từng nơi mà có các biện pháp giãi
quyết triệt để các yếu tố nguy cơ để phòng bệnh và góp phần làm giảm tỷ lệ
mắc cũng như tỷ lệ tử vong do NKHHCT ở trẻ em, nhất là ở trẻ em dưới 5
tuổi.
CHƢƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
N = Z P (1-P) / e
Trong đó :
22
- N : Cỡ mẫu
- : Mức ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 95% ( = 0,05 )
- Z = 1,96
- P : Là tỷ lệ ước tính ( tỷ lệ đã điều tra, hoặc diều tra thử với mẫu
nhỏ) P = 0,26 ( theo tài liệu [26] ), theo báo cáo năm 2006 của trạm y tế xã
Phú Xuân tỷ lệ này là 26,3%.
- e : sai số ước đoán, chọn e = 0,5
Như vậy cỡ mẫu cần lấy trong nghiên cứu như sau:
(1,96 ) x 0,26 (1- 0,26 )
N = = 306
( 0,5 )
2.2.3 Phƣơng pháp chọn mẫu:
Tiến hành chọn mẫu theo cách chọn mẫu hệ thống, theo các bước sau:
- Lập danh sách các bà mẹ có con dưới 5 tuổi. Có được 612 bà mẹ có
con từ 0 đến 5 tuổi, sau đó đánh số thứ tự từ 1 đến 612 .
- Lập khoảng cách K = N / n = 612 / 306 = 2
- Dựa vào bảng số ngẫu nhiên, tôi chọn cột thứ 3, hàng thứ 2 từ phải
sang trái, chọn chữ số đầu tiên từ phải sang trái của dãy số để lấy một giá trị T
sao cho 1 < T < K, ở đây giá trị T =2. Các phần tử được chọn là 3, 5,7,9 ,
chọn đủ số bà mẹ theo yêu cầu.
2.3 Nội dung nghiên cứu :
2.3.1 Nghiên cứu tỷ lệ NKHHCT:
- Tần suất NKHHCT theo số lần mắc / năm,
- Tỷ lệ NKHHCT với các bệnh khác.
- Tỷ lệ NKHHCT theo giới, tỷ lệ theo tuổi.
- Nhà gỗ: Là nhà được dựng chung quanh bằng gỗ, mái lợp tôn.
24
- Nhà bán kiên cố: Là nhà có nửa dưới xây, nửa trên dựng bằng gỗ, mái
lợp bằn tôn hoặc ngói.
- Nhà kiên cố: Là nhà xây.
2.3.2.2.2 Tiếp xúc khói bếp:
Là trẻ ở trong gia đình mà bếp nấu ăn được đặt trong nhà chính và sử
dụng loại bếp có khói, bụi như bếp củi, bếp than , bếp được xem là không
có khói như bếp ga, bếp dầu.
2.3.2.2.3 Khói thuốc lá: Trẻ em phơi nhiễm với khói thuốc lá được xác
định khi khói thuốc lá tiếp xúc với bề mặt nhạy cảm của cơ thể ( biểu mô mũi,
miệng, họng và đường hô hấp).
2.3.2.3 Yếu tố kinh tế:
Yếu tố kinh tế dựa vào mức tính thu nhậpbình quân đầu
người/tháng/hộ/năm, dựa vào thông tư số 1751/ LĐTBXH về việc thông báo
định mức hộ nghèo của Bộ lao động thương binh xã hội Việt Nam ban hành
gồm:
- Nghèo là thu nhập bình quân đầu người/tháng/hộ/năm dưới 100.000
đồng.
- Trung bình là thu nhập bình quân đầu người/tháng/hộ/năm từ 100.000
đến 200.000 đồng.
- Khá, giàu là thu nhập bình quân đầu người/tháng/hộ /năm lớn hơn
200.000đ.
2.3.2.4 Suy dinh dƣỡng:
Cân nặng theo tuổi của mỗi đứa trẻ được so sánh với cân nặng của trẻ
cùngtuổi cùng giới của quần thể tham chiếu quốc tế NCHS(Trung tâm thống
kê sức khỏe quốc gia Hoa Kỳ ), lấy điểm ngưỡng ở dưới 2 độ lệch chuẩn để
coi là SDD : - SDD nhẹ : cân nặng - 2 SD đến - 3 SD.
- SDD vừa : cân nặng - 3 SD đến - 4 SD
Số con đông trong gia đình : Gia đình có từ 3 con trở lên.