Nghiên cứu tình hình tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi tại xã triệu long, huyện triệu phong, tỉnh quảng trị - Pdf 18

ĐẶT VẤN ĐỀ
Tiêu chảy, đặc biệt tiêu chảy cấp là một vấn đề sức khỏe đang được
quan tâm rộng rãi trên thế giới [16).tiêu chảy là một bệnh hay gặp nhất ở trẻ
em dưới 5 tuổi, bệnh lây qua đường tiêu hóa. Bệnh thường gặp ở các khu dân
cư có điều kiện sống không đảm bảo, trình độ dân trí thấp, kiến thức về phòng
chống tiêu chảy còn hạn chế. Tiêu chảy là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật
và tử vong cho trẻ em các nước đang phát triển. Ở những nước này, người ta
ước tính hàng năm có tới 1,3 ngàn triệu lượt trẻ em <5 tuổi mắc bệnh tiêu
chảy và 4 triệu trẻ chết vì bệnh này. Trên toàn thế giới, hàng năm, mỗi trẻ
mắc 3,3 lượt tiêu chảy, nhưng ở một số vùng, mỗi năm trung bình mắc vượt
quá 9 đợt
Ở Việt Nam, nhiều năm trở lại đây tình hình bệnh tiêu chảy đã có nhiều
cải thiện, tuy nhiên tiêu chảy vẫn là vấn đề sức khỏe cộng đồng cần được
quan tâm. Theo thông báo dịch năm 2002, tiêu chảy vẫn là một trong 5 bệnh
truyền nhiễm có số người mắc cao nhất [20]; [21]. Ngoài vấn đề tỉ lệ mắc và
tử vong cao, bệnh tiêu chảy còn là nguyên nhân hàng đầu gây suy dinh
dưỡng, chậm phát triển về cả thể chất và tinh thần, tạo điều kiện thuận lợi cho
sự xâm nhập của các bệnh nhiễm trùng khác. Các chi phí thuốc, trang thiết bị
và nhân lực cho vấn đề sức khỏe này là rất lớn, chưa tính đến thời gian sức
lực mà mỗi gia đình phải mất. Như vậy tiêu chảy vẫn còn là gánh nặng cho
nền kinh tế quốc gia, gia đình và xã hội phải chi một khoản kinh phí không
nhỏ để chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ khi bị tiêu chảy.
Hiện nay với các phương pháp điều trị tiêu chảy đơn giản và hiệu quả có
thể làm giảm rõ rệt số lượng tử vong do tiêu chảy đồng thời làm giảm sự nhập
viện không cần thiết của hầu hết các trường hợp. Các phương pháp này ngày
càng được phổ biến rộng hơn tại cộng đồng, đã đóng góp thành công đáng kể
1
vào việc khống chế các bệnh tiêu chảy, làm giảm tỉ lệ mắc, tỉ lệ tử vong do
tiêu chảy gây ra.
Mọi hành vi về sức khỏe đều có giá trị rất lớn đến việc giảm tỷ lệ mắc và
chết của một bệnh. Việc điều trị một bệnh chỉ được giải quyết một cách triệt

quyết định: Phân có 85% nước gọi là nhão; phân có 88% nước gọi là lỏng:
phân có 90% nước gọi là lỏng như nước [32]. Theo OMS, tiêu chảy được
định nghĩa là đi ngoài phân lỏng hoặc tóe nước trên 3 lần trong 24 giờ, phân
lỏng là phân không thành khuôn. Tuy nhiên rất khó đưa ra một định nghĩa
chính xác về bệnh tiêu chảy, bởi vì số lần ỉa, khối lượng phân phụ thuộc nhiều
vào chế độ ăn uống và thay đổi tập quán của mỗi nước. Các bà mẹ còn có thể
dùng các từ ngữ khác nhau để mô tả tiêu chảy, chẳng hạn như: phân lỏng tóe
nước, có máu hoặc mũi, hoặc có nôn. Điều lưu ý là đối với trẻ bú mẹ thường
đi mỗi ngày một vài lần phân nhão thì không thể xem là tiêu chảy, đối với
những trẻ này, xác định tiêu chảy thực tế là phải dựa vào tăng số lần hoặc
tăng mức độ lỏng của phân mà các bà mẹ cho là bất thường.
Có hai khái niệm cần phân biệt với tiêu chảy, đó là:
- Phân bình thường được tống nhanh không phải là tiêu chảy.
- Trẻ sơ sinh được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ thường có phân mềm, không
phải là tiêu chảy [theo WHO-1993].
1.1.2. Tại sao tiêu chảy nguy hiểm
Hai mối nguy hiểm chính của tiêu chảy là suy dinh dưỡng và tử vong.
Tử vong do tiêu chảy hầu hết thường gây ra bởi vì mất một lượng lớn muối và
nước từ cơ thể. Mặt khác, khi trẻ bị tiêu chảy, trẻ ăn ít đi và khả năng hấp thu
1
các chất dinh dưỡng bị giảm, trong khi đó nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể lại
tăng do nhiễm trùng, chính những yếu tố đó góp phần làm cho trẻ bị suy dinh
dưỡng và bệnh cảnh lâm sàng càng trở nên phức tạp hơn tạo thành một vòng
xoắn bệnh lý: Suy dinh dưỡng - Tiêu chảy - Suy dinh dưỡng. Chưa kể việc
các bà mẹ không nuôi dưỡng con của họ một cách bình thường khi chúng bị
tiêu chảy, ngay cả những ngày sau khi tình trạng tiêu chảy của chúng đã được
cải thiện [WHO-1993].
1.1.3. Phân loại tiêu chảy
Tiêu chảy được phân loại tùy thuộc vào thời gian của nó, một đợt tiêu
chảy kéo dài ít hơn 2 tuần là tiêu chảy cấp, tiêu chảy kéo dài 2 tuần hay hơn là

mẹ. Vai trò của sữa mẹ rất quan trọng trong việc bảo vệ trẻ nhỏ đối với bệnh
tiêu chảy. Sữa mẹ có chứa Globulin miễn dịch chủ yếu là IgA (95%) và các
loại thuốc khác IgM, IgG có tác dụng bảo vệ cơ thể chống các bệnh đường
ruột và một số bệnh do virus [35].
- Tập quán cai sữa sớm (trước 1 tuổi): Cho trẻ bú sữa mẹ kéo dài sẽ làm
giảm chỉ số mắc và sự trầm trọng của một số bệnh tiêu chảy như lỵ trực trùng
và tả [32];[39]. Theo Phan Thị Kim Ngân, tỷ lệ tiêu chảy cấp của trẻ em
ngưng bú mẹ là 3,6% trong khi đó tỷ lệ tiêu chảy kéo dài là 15,46%,vậy có
thể xem việc ngưng bú mẹ sớm là nguy cơ của tiêu chảy kéo dài [28]. Đối với
những tiêu chảy cấp trở thành tiêu chảy kéo dài ở nhóm không bú mẹ là
1,27%, nhóm cai sữa dưới 10 tháng tuổi là 12,76% [29].
- Cho trẻ bú sữa bình: Khi cho sữa vào một bình không sạch thì sẽ bị ô
nhiễm, nếu trẻ không bú hết sữa trong bình thì sự phát triển của vi khuẩn sẽ
xảy ra. Theo nghiên cứu của Bùi An Bình cho thấy trẻ bú bình có nguy cơ
3
tiêu chảy hơn trẻ ăn bằng chén thìa là 26,66% [3].
-Tập quán cho ăn sam sớm trước 4 tháng tuổi: Cho ăn sam không đúng,
quá sớm hay quá muộn đều dễ dẫn đến tiêu chảy suy dinh dưỡng. Nghiên cứu
của Nguyễn Thanh Sơn tại một phường của thành phố Thái Nguyên cho kết
quả: Ăn bột dưới 4 tháng là yếu tố nguy cơ của tiêu chảy trẻ em [30].
- Trữ thức ăn đã nấu ở nhiệt độ phòng: Khi thức ăn nấu xong được trữ
để dùng, sau đó thức ăn có thể dễ dàng bị ô nhiễm do tiếp xúc ở bề mặt hoặc
vật chứa đựng. Nếu thức ăn được trữ vài giờ ở nhiệt độ phòng thì vi khuẩn
trong đó sẽ nhân lên nhiều lần [33]. Theo GS Đỗ Gia Cảnh, nguy cơ mắc
bệnh tả là không ăn thức ăn ngay sau khi nấu chín, ăn các loại thức ăn để quá
3 giờ không đun lại [9].
- Dùng nước uống đã bị nhiễm vi khuẩn đường ruột: Nước có thể bị
nhiễm bẩn ngay tại nguồn của nó hoặc trong suốt quá trình dự trữ tại nhà. Sự
ô nhiễm tại nhà là do bảo quản hoặc sử dụng không hợp vê sinh [40]. Theo
thống kê của Tổ Chức Y Tế Thế Giới năm 1995, tỉ lệ mắc tiêu chảy trên toàn

bất thường và bệnh cũng có thể kéo dài.
- Tuổi: Hầu hết tiêu chảy xảy ra trong hai năm đầu cuộc đời. Chỉ số mắc
bệnh cao nhất là ở nhóm trẻ 6-11 tháng, khi mới tập ăn sam [7];[40];[32].
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh cho điều này, một nghiên cứu cộng đồng trẻ
dưới 5 tuổi tại thành phố Hố Chí Minh của Lê Thế Thự cho thấy số mắc tiêu
chảy ở trẻ dưới 2 tuổi là 87%, ở trẻ dưới 5 tuổi là 69%. Theo Lê Hoàng Ninh
và cộng sự đã xác định tỉ lệ chết do tiêu chảy ở nhóm trẻ dưới 1 tuổi là 14,7%,
nhóm trẻ từ 1- 4 tuổi 12%, nhóm dưới 5 tuổi là 13,55% [33].
1.1.4.4. Các yếu tố thuộc về bà mẹ và mức sống hộ gia đình
- Nghiên cứu của Nguyễn Thành Quang cho rằng: Bà mẹ chưa có kiến
thức về phòng chống bệnh tiêu chảy là một trong các nguyên nhân quan trọng
5
làm tăng nguy cơ mắc tiêu chảy ở trẻ em [37].
- Trình độ học vấn của bà mẹ có ảnh hưởng đến việc tiếp thu kiến thức
phòng bệnh tiêu chảy, cách chăm sóc trẻ từ đó ảnh hưởng tới nguy cơ mắc
tiêu chảy. Nghề nghiệp của mẹ có ảnh hưởng tới thời gian cho trẻ bú, thời
gian và cách chăm sóc trẻ, mức thu nhập hộ gia đình từ đó có ảnh hưởng khả
năng mắc tiêu chảy.
1.1.4.5. Tính chất mùa
Người ta nhận thấy tình trạng tiêu chảy trẻ em có sự khác biệt theo mùa
ở nhiều địa dư khác nhau. Ở những vùng ôn đới, tiêu chảy do vi khuẩn thường
xảy ra vào mùa nóng, ngược lại tiêu chảy do virus, đặc biệt là Rota virus lại
xảy ra cao điểm vào mùa đông. Ở những vùng nhiệt đới, tiêu chảy do Rota
virus xảy ra quanh năm nhưng tăng vào các tháng khô và lạnh, ngược lại tiêu
chảy do vi khuẩn lại xuất hiện cao điểm vào giao điểm giữa mùa mưa và
nóng. Tỷ lệ mắc tiêu chảy kéo dài cũng dao động theo mùa giống như tiêu
chảy cấp [45]. Ở Việt Nam, trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Đào cho thấy tỉ
lệ mắc tiêu chảy trẻ em ĐakLak từ 1994-1995 xảy ra cao điểm vào tháng 4, 5,
6 trong năm [14].
1.1.4.6. Các nhiễm trùng không triệu chứng

các nước phát triển có 35-52% trẻ em bị tiêu chảy cấp do Rotavirus. Ở các
nước đang phát triển Rotavirus là nguyên nhân hàng đầu gây tiêu chảy cấp và
tử vong cho trẻ em dưới 1 tuổi [17]. Khoảng 1/3 số trẻ dưới 2 tuổi bị ít nhất 1
đợt tiêu chảy do Rotavirus, nó có khả năng lây lan trực tiếp từ người sang
người [45].
1.1.5.2. ETEC (Enterotoxigenic Escherichia coli)
ETEC chiếm 10-20% các trường hợp [40];[45]. Nó là tác nhân quan
7
trọng gây tiêu chảy cấp phân toé nước cả trẻ em và người lớn tại các nước
đang phát triển, ETEC lây lan chủ yếu qua nước và thực phẩm bị ô nhiễm
[40].
1.1.5.3. Shigella
Shigella chiếm 5-15% các trường hợp [41];[45]. Nó là tác nhân quan
trọng nhất gây bệnh lỵ, đã được tìm thấy trong khoảng 60% các đợt lỵ do
Shigella lây lan chủ yếu trực tiếp từ người. Trong hầu hết các đợt lỵ nặng, có
thể xuất hiện phân tóe nước.
1.1.5.4. Campylobacter jejuni
Campylobacter jejuni chiếm 10-15% các trường hợp [41];[45]. Nó lây
lan qua tiếp xúc phân,nước uống bẩn, dùng thực phẩm bị ô nhiễm. C.Jejuni có
thể gây tiêu chảy tóe nước (chiếm 2/3 trường hợp) hoặc hội chứng lỵ (chiếm
1/3 các trường hợp).
1.1.5.5. Vibrio cholerae 01
Vibrio cholerae chiếm 5-10% ở những vùng lưu hành dịch [41];[45]. Có
hai typ sinh vật và hai typ huyết thanh. V.Cholerae 01 gây tiêu chảy không
qua xâm nhập mà qua trung gian độc tố tả, làm xuất tiết ồ ạt nước và điện giải
ở ruột non. Tiêu chảy có thể nặng dẫn tới tình trạng mất nước và trụy mạch
trong vòng vài giờ nếu không bồi phụ nước và điện giải kịp thời. Trong
những vùng lưu hành dịch, trẻ em cũng bị tả nhiều như người lớn [45].
1.1.5.6. Salmonella
Salmonella (non typhoid) chiếm 1-5% các trường hợp [41]. Hầu hết

phẩy khuẩn tả 01 hoặc virus như Rotavirus lên niêm mạc ruột.
- Tiêu chảy thẩm thấu: Niêm mạc ruột non được lót bởi lớp liên bào bị
”rò rĩ”, muối và nước vận chuyển qua lại rất nhanh để duy trì sự cân bằng
thẩm thấu giữa lòng ruột và dịch ngoại bào. Vì vậy tiêu chảy thẩm thấu xảy ra
9
khi ăn một chất có độ hấp thu kém và độ thẩm thấu cao.
Nếu chất đó là dung dịch đẳng trương, nước và điện giải qua lòng ruột
không được hấp thu lại gây tiêu chảy, thuốc tẩy như Magiêsium Sulphat có cơ
chế tác dụng như vậy. Cơ chế này cũng xảy ra với trẻ thiếu men Lactoza hoặc
ở trẻ không dung nạp Glucose.
Nếu trẻ uống dung dịch hấp thu kém như loại dung dịch ưu trương thì
nước và điện giải sẽ từ dịch ngoại bào vào lòng ruột cho đến khi độ thẩm thấu
ở lòng ruột bằng dịch ngoài tế bào và máu. Hiện tượng trên làm tăng khối
lượng phân và điều quan trọng hơn là gây kiệt nước cơ thể do mất nước. Vì
lượng nước mất nhiều hơn điện giải nên gây hiện tượng tăng Natri máu.
1.1.7. Điều trị tiêu chảy trẻ em
1.1.7.1. Điều trị tiêu chảy tại nhà
Phương pháp điều trị tiêu chảy trong những năm gần đây đã có nhiều sự
thay đổi. Ngày nay, tiêu chảy tự nó không được xem như một bệnh mà là biểu
hiện của một tình trạng rối loạn chức năng tiêu hoá. Tiêu chảy thường là do
sự rối loạn tiết dịch và các chất điện giải quá mức vào lòng ruột như trong các
trường hợp tiêu chảy do độc tố hay tiêu chảy do tăng áp lực thẩm thấu trong
lòng ruột; sự tiết dịch vào lòng ruột có tác dụng tẩy sạch, đẩy độc tố, tác nhân
gây bệnh ra ngoài, vì vậy có tác dụng làm giảm bệnh.
Có thể nói rằng, sau Hội nghị Alma Ata ở Liên Xô (cũ) năm 1978 có
một cuộc cách mạng thực sự trong lĩnh vực nhi khoa, nhất là với trẻ em dưới
5 tuổi. Với chăm sóc sức khỏe ban đầu người ta có thể hướng dẫn các bà mẹ
tự chăm sóc con mình tránh ba bệnh chủ yếu gây tử vong trẻ em (suy dinh
dưỡng, tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp cấp). Các trường hợp tiêu chảy được
chăm sóc tại nhà dựa theo 3 nguyên tắc mà WHO đã hướng dẫn như sau:

đặc nửa lỏng. Nói chung, các loại thức ăn này phải cung cấp ít nhất ½ năng
11
lượng của khẩu phần ăn. Cho ăn ít nhưng nhiều lần trong ngày thì tốt hơn cho
ăn nhiều nhưng ít lần. Sau khi hết tiêu chảy, tiếp tục cho trẻ ăn thêm ít nhất
một bữa mỗi ngày trong 2 tuần, cho ăn những thức ăn giàu chất dinh dưỡng
như đã cho ăn trong khi tiêu chảy. Trẻ suy dinh dưỡng, cần phải cho ăn chế
độ ăn này trong thời gian dài hơn.
* Các bà mẹ cần biết khi nào đưa trẻ đến cơ sở y tế.
Để thực hiện được điều này cần hướng dẫn người mẹ theo dõi biết tiêu
chảy, mất nước đang nặng thêm hoặc những vấn đề nghiêm trọng khác. Các
dấu hiệu cho biết tiêu chảy đang nặng hay mất nước đang tiến triển mà bà mẹ
có thể nhận ra với các dấu hiệu như là:
+ Khi trẻ đi ngoài phân tóe nước.
+ Nôn liên tục.
+ Khát nước gia tăng.
+ Trẻ ăn uống kém hơn bình thường.
+ Trẻ sốt cao.
+ Có máu trong phân.
Và cần phải đem trẻ đến cơ sở y tế để được điều trị.
1.1.7.2. Điều trị tiêu chảy trẻ em tại cơ sở y tế
LIỆU PHÁP BÙ DỊCH
Mục đích của liệu pháp bù dịch khi tiêu chảy là nhanh chóng bù lại sự
thiếu hụt nước, điện giải đã mất và sẽ mất thêm cho đến khi tiêu chảy ngừng
hẳn [17];[39];[42]. Liệu pháp bù dịch được tiến hành kết hợp với việc sử dụng
cả thuốc điều trị tiêu chảy trẻ một cách hợp lý.
* Bù dịch bằng đường uống: Bù dịch bằng đường uống dựa trên
nguyên tắc hấp thu Natri cùng với nước và các chất điện giải khác của ruột
tăng lên do sự hấp thu chủ động của một số chất như glucose[6];[7];[45].Để
cho việc bù dịch bằng đường uống thành công thì nên cho uống thường xuyên
12

Trong chương trình CDD của WHO cho rằng; không dùng thuốc cầm tiêu
chảy và thuốc chống nôn cho trẻ, vì nó không có tác dụng mà còn gây nguy
hiểm [42].
1.2. PHÒNG BỆNH TIÊU CHẢY TRẺ EM
1.2.1. Các biện pháp phòng chống tiêu chảy trẻ em
Công tác phòng chống tiêu chảy trẻ em phần lớn các biện pháp nhằm vào
các cách nuôi trẻ, vệ sinh cá nhân, vệ sinh thực phẩm, cung cấp nước sạch, xử
lý phân an toàn, gây miễn dịch dự phòng[40];[45]. Các biện pháp hiện nay
nhằm vào xây dựng hành vi có lợi đối với phòng bệnh tiêu chảy cho các bà
mẹ đang nuôi con dưới 5 tuổi trong cộng đồng, đó là những biện pháp có kết
quả lâu dài [38];[41].
- Nuôi con bằng sữa mẹ: trên thực tế gần như tất cả các bà mẹ đều có thể
thực hiện nuôi con bằng sữa mẹ. Qua các nghiên cứu về bệnh tiêu chảy trẻ
em, tỉ lệ nuôi con bằng sữa mẹ luôn luôn ở mức độ cao hơn [3];[11];[28]. Trẻ
được nuôi bằng sữa mẹ thì ít bị tiêu chảy hơn, nếu có mắc thì cũng nhẹ hơn và
ít nguy cơ tử vong hơn so với trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ. Theo nghiên
cứu của Bùi An Bình, trên 68 trẻ bú mẹ hoàn toàn, có 63 trẻ không mắc bệnh
tiêu chảy chiếm 92,64%, chỉ có 5 trẻ mắc tiêu chảy với tỉ lệ 7,35% trong khi
đó tỉ lệ không mắc của nhóm không bú sữa mẹ là rất thấp 2,08% [3].
- Cải thiện tập quán cho trẻ ăn sam: ăn sam là quá trình tập cho trẻ quen
dần với chế độ ăn của người lớn, là quá trình nuôi trẻ tập cho trẻ thích ứng với
sự chuyển đổi chế độ ăn từ một khẩu phần hoàn toàn dựa vào sữa mẹ sang
một chế độ ăn sử dụng đều đặn các thực phẩm có sẵn trong bữa ăn gia đình.
Ăn sam thường bắt đầu khi trẻ được 4-6 tháng tuổi, vì thời kỳ này nhu cầu
dinh dưỡng của trẻ cao hơn và lượng sữa mẹ có hạn không đáp ứng nhu cầu.
Đây là giai đoạn khó khăn nhất của trẻ, nếu cho ăn sam không đúng qui cách
14
thì trẻ dễ bị mắc tiêu chảy, suy dinh dưỡng. Ăn sam đúng phụ thuộc vào nhiều
vấn đề: thời điểm cho ăn sam, ăn các loại thức ăn, cách chế biến bảo quản…
[28]. Trẻ được ăn sam từ tháng thứ 5, vì đến tháng tuổi đó trẻ mới có hệ thống

Trường hợp trẻ đang bị tiêu chảy hay bị nhiễm trùng không triệu chứng thì
phân trẻ lại càng nguy hiểm hơn [7];[41].
- Tiêm phòng sởi: những trẻ đang mắc bệnh sởi hay vừa khỏi bệnh trong
vòng 4 tuần đầu thì dễ bị mắc tiêu chảy hoặc lỵ nặng và dễ tử vong. Tiêm
vacxin phòng sởi cho trẻ lúc 9 tháng tuổi có thể phòng ngừa được 25% số tử
vong liên quan tới tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi [7];[40].
1.2.2.Các biện pháp phòng bệnh không đặc hiệu
Đinh Sĩ Hiển và Đặng Đức Trạch đã nghiên cứu và đề xuất các biện
pháp dự phòng không đặc hiệu để khống chế các bệnh tiêu chảy và cho rằng:
- Cải thiện môi trường là biện pháp cơ bản và lâu dài nhằm giải quyết
nguồn truyền nhiễm, đường truyền nhiễm, khống chế tối đa tỉ lệ mắc bệnh
đường ruột nói chung và tiêu chảy nói riêng. Trước mắt cần vệ sinh nguồn
nước, xử lý phân, chất thải, vệ sinh nhà ở, vệ sinh thực phẩm… Phát động và
duy trì các phong trào vệ sinh phòng bệnh, phòng dịch tốt trong cộng đồng.
- Khống chế bệnh dịch đường ruột: Tăng cường hệ thống giám sát, dự báo
phát hiện dịch. Khi có dịch xảy ra kịp thời cứu chữa người bệnh, làm giảm tử
vong, xử lý nguồn lây và bảo vệ khối cảm thụ làm hạn chế mắc và dập tắt dịch.
- Triển khai chiến dịch truyền thông về 3 công trình vệ sinh (nhà tắm, hố
xí, giếng nước) một cách thường xuyên tại cộng đồng, đặc biệt là vùng sâu
vùng xa và vùng dân tộc thiểu số
Theo đề xuất của tổng kết 5 năm triển khai chương trình phòng chống
tiêu chảy tại Việt Nam là đẩy mạnh giáo dục tuyên truyền nuôi con bằng sữa
mẹ, cho ăn sam đúng cách, các tập quán vệ sinh cá nhân, cải thiện nước uống.
16
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Các cặp bà mẹ và con dưới 5 tuổi đang sinh sống tại xã Triệu
Long,huyện Triệu Phong,tỉnh Quảng Trị.
2.2. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

- Định nghĩa về tiêu chảy
- Hiểu biết về phòng tiêu chảy
- Hiểu biết về hành vi có hại làm tăng mắc tiêu chảy
- Hiểu biết xử trí tại nhà khi trẻ bị tiêu chảy
+ Thái độ đối với bệnh tiêu chảy
- Thái độ đối với xử trí tiêu chảy
+ Thực hành của các bà mẹ khi trẻ bị tiêu chảy
- Nuôi con bằng sữa mẹ
- Thời gian cho ăn dặm
- Chăm sóc dinh dưỡng khi trẻ bị mắc tiêu chảy
- Rửa tay thường xuyên
- Sử dụng hố xí hợp vệ sinh
- Các yếu tố liên quan đối với tiêu chảy của trẻ
- Số con trong gia đình
- Tình trạng suy dinh dưỡng
- Tuổi của trẻ
18
- Kinh tế gia đình
- Liên quan giữa hiểu biết, thái độ và thực hành phòng tiêu chảy
2.4.5. Phương pháp thu thập thông tin
Sử dụng bộ câu hỏi đã chuẩn bị trước để điều tra qua phỏng vấn các bà
mẹ về các thông tin, kiến thức có liên quan đến tiêu chảy đồng thời quan sát
các hành vi thực hành các kiến thức đó.
Bảng điều tra cá nhân được thiết lập sẵn, gồm 3 phần: thông tin chung,
kiến thức liên quan đến tiêu chảy và việc thực hành các kiến thức đó.
Sử dụng phương pháp phỏng vấn và quan sát tại nhà, các thông tin thu
được chúng tôi đánh dấu vào phiếu điều tra, hỏi đến đâu phải ghi vào phiếu
điều tra đến đó để tránh nhầm lẫn hoặc bỏ sót.
Để cho các bà mẹ hợp tác tốt với điều tra viên thì phải chọn thời điểm bà
mẹ rảnh rỗi.

hiểm thì được xem là thái độ tích cực (tốt), nếu ngược lại thì được xem là không
tích cực (không tốt), nếu trả lời không biết thì xem là không đánh giá được
- Thái độ của bà mẹ đối với xử trí tiêu chảy: nếu bà mẹ xác định tiêu
chảy có lây lan thì được xem là tích cực, nếu bà mẹ xác định ngược lại thì
được xem là không tích cực, bà mẹ trả lời không biết thì xem là không đánh
giá được.
- Đánh giá thực hành của bà mẹ về bệnh tiêu chảy trẻ em
- Kỹ năng thực hành: bà mẹ thực hành đúng thì tính: 1 điểm/hành vi, nếu thực
hành sai thì tính: – 1 điểm/hành vi, nếu không thực hành được thì tính: 0 điểm.
20
- Xếp loại thực hành: nếu bà mẹ được ≥ 5điểm thì xem là thực hành tốt,
nếu bà mẹ được < 5 điểm thì được xem là thực hành không tốt.
2.5. XỬ LÝ SỐ LIỆU
+ Các bộ câu hỏi sau khi được phỏng vấn xong sẽ được kiểm tra tính phù hợp,
sự hoàn tất của bộ câu hỏi. Dữ kiện sẽ được mã hoá và nhập vào máy tính, sử
dụng phần mềm EXELL.
+ Phân tích kết quả:
- Thống kê mô tả tình hình chung của quần thể nghiên cứu thông qua
các biến số, chỉ số, số liệu có được từ chương trình Analysis, dùng biểu đồ.
- Test thống kê trong phân tích số liệu: Trong luận văn này được sử
dụng χ
2
test, bảng 2 hàng, 2 cột. Test χ
2
được áp dụng khi so sánh nhiều (>2)
tỷ lệ quan sát, nhiều (>2) phân phối quan sát.Trong trường hợp này, khi so
sánh ta cần áp dụng χ
2
test.
- Test χ

α
: sự

khác biệt không có ý nghĩa thống kê.
Bảng hai hàng cột: χ
2
α
= 3,841
Sử dụng χ
2
test cho bảng 2 x 2
21
Thường sử dụng công thức tính nhanh (chỉ cho bảng 2 x 2):
χ
2
= n (ad – bc)
2
/ efgh
Điều kiện áp dụng test χ
2
cho bảng 2 x 2 là tất cả 4 giá trị mong đợi
của bảng phải > 5. Trong trường hợp điều kiện này không được áp dụng
(thường xảy ra khi nghiên cứu với mẫu nhỏ mà tỷ lệ quan sát thấp), ta phải
dùng công thức χ
2
hiệu chỉnh của Yates (Yates correction for continuity) ký
hiệu là χ
2
c
:

Công chức 1 0,5
Thất nghiệp 0 0
Khác 0 0
Tổng cộng 200 100
23

Trích đoạn Tình trạng dinh dưỡng của trẻ với tiêu chảy
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status