Khoá luận tốt nghiệp đại học
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
**********
LÊ THỊ LAN ANH
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH SUY DINH
DƯỠNG Ở TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI TẠI
XÃ NGỌC THANH - THỊ XÃ PHÚC YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh lý người và Động vật
Người hướng dẫn khoa học:
ThS. CAO BÁ CƯỜNG
HÀ NỘI - 2013
Lê Thị Lan Anh
1
Lớp K35 B - SP Sinh
Khoá luận tốt nghiệp đại học
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Khoá luận tốt nghiệp đại học
nhân khác như : cho trẻ ăn dặm quá sớm làm cho trẻ có sức đề kháng kém, do
vệ sinh nhà ở, nguồn nước sinh hoạt không sạch…
Thực hiện tốt phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em sẽ góp phần vào phát
triển kinh tế - xã hội và cải thiện cuộc sống cho nhân dân nói chung và trẻ em
nói riêng, tham gia tích cực vào việc thực hiện Luật “Bảo vệ sức khỏe trẻ em”
Ngọc Thanh là một xã thuộc khu vực nông thôn, trình độ dân trí còn
thấp, không đồng đều, với 19 thôn, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó
khăn. Do đó công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục còn nhiều hạn chế, đặc
biệt là việc phòng, chống suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi. Điều đó ảnh
hưởng đến việc học tập, vui chơi, thể chất và trí tuệ của trẻ
Vì vậy tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu tình hình suy dinh dưỡng ở trẻ
em dưới 5 tuổi tại Xã Ngọc Thanh – Thị Xã Phúc Yên – Tỉnh Vĩnh Phúc”
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng SDD ở trẻ em dưới 5 tuổi tại Xã Ngọc Thanh –
Thị Xã Phúc Yên – Tỉnh Vĩnh Phúc”.
- Tìm hiểu một số yếu tố liên quan tới SDD ở trẻ em dưới 5 tuổi tại Xã
Ngọc Thanh – Thị xã Phúc Yên - Tỉnh Vĩnh Phúc.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Nghiên cứu này góp phần tìm hiểu, đánh giá tình hình SDD của trẻ
em dưới 5 tuổi tại xã Ngọc Thanh – Phúc Yên – Vĩnh Phúc và sự ảnh hưởng
do điều kiện sống của trẻ: vệ sinh môi trường sống, điều kiện nuôi dưỡng cho
trẻ, hiểu biết của bà mẹ tới bệnh SDD của trẻ em.
- Định hướng chương trình GD và ĐT, đặc biệt có kế hoạch trong việc
chăm sóc sức khỏe trẻ em tránh được tình trạng SDD ở trẻ. Qua đó tìm ra chế
độ dinh dưỡng tốt nhất cho sự phát triển của trẻ.
Lê Thị Lan Anh
Lê Thị Lan Anh
4
Lớp K35 B - SP Sinh
Khoá luận tốt nghiệp đại học
1.1.2. Tình hình SDD ở trẻ em tại Việt Nam
Ở Việt Nam,các điều tra dịch y tế học của Viện Dinh Dưỡng, Bộ y tế
cho thấy 51,5% trẻ dưới 5 tuổi bị thiếu dinh dưỡng, trong đó có 10,9% ở thể
nặng và 1,6% ở thể rất nặng
Năm 1999, Viện dinh dưỡng điều tra trên 52 tỉnh thành đã cho kết quả
ở trẻ em dưới 5 tuổi có tỷ lệ SDD như sau: SDD cân nặng/ tuổi là 36% trong
đó thể nặng 6,7% và thể rất nặng 0,6%. SDD chiều cao/ tuổi là 37,2% và
SDD cân nặng, chiều cao là 9,8%.
Theo thống kê của Viện dinh Dưỡng Quốc gia, mức độ SDD ở trẻ em
Việt Nam hiện nay rất cao, với tỷ lệ 31,9% ( tương đương cứ 3 bé thì có một
em bé bị thấp còi)
Tại hội thảo sữa học đường Quốc Tế lần đầu tiên được tổ chức tại Việt
Nam (trong 2 ngày 25 – 26/11), bà Lê Bạch Mai, Phó Viện trưởng Viện Dinh
Dưỡng Quốc gia Việt Nam cho biết, tỷ lệ SDD ở nước ta đứng thứ 20 trên
Thế giới – mức rất cao.
1.2. Dinh dưỡng là gì?
Dinh dưỡng là một quá trình phức hợp bao gồm việc đưa vào cơ thể
những thức ăn cần thiết qua quá trình tiêu hoá và hấp thụ để bù đắp hao phí
năng lượng trong quá trình hoạt động sống của cơ thể và tạo ra sự đổi mới các
tế bào và mô cũng như điều tiết các chức năng sống của cơ thể.
vitamin A).
Ở Việt Nam , tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng chiếm tỉ lệ vẫn còn
cao (trên 30%), trẻ sơ sinh có cân nặng dưới 2,5kg chiếm tỉ lệ 10%, tỉ lệ phụ
nữ ở tuổi sinh đẻ và đang cho con bú bị thiếu năng lượngchiếm trên
20%,...Nguyên nhân chính của các vấn đề trên là do thiếu ăn, thiếu kiến thức
về dinh dưỡng, vệ sinh môi trường kém,…( Viện Dinh dưỡng năm 2000).
Đối với trẻ mầm non, nếu thiếu dinh dưỡng, cơ thể sẽ chậm lớn, chậm
phát triển, kéo dài tình trạng trên sẽ dẫn tới sụt cân, tiêu hao tổ chức và suy
dinh dưỡng. Ngược lại nếu thừa dinh dưỡng (chủ yếu là thừa protein, song
vẫn thiếu các chất dinh dưỡng khác) sẽ ảnh hưởng không tốt đến cấu trúc,
chức phận của tế bào, làm tăng nguy cơ mắc bệnh béo phì, tim mạch, huyết
áp,…Vì vậy dinh dưỡng hợp lý là vấn đề vô cùng cần thiết đối với sức khỏe
Lê Thị Lan Anh
6
Lớp K35 B - SP Sinh
Khoá luận tốt nghiệp đại học
trẻ em. Việc cung cấp đầy đủ các yếu tố dinh dưỡng cho cơ thể trẻ em phụ
thuộc vào 2 vấn đề:
- Kiến thức hiểu biết của các bậc cha mẹ, những người làm công tác
nuôi dậy trẻ về nhu cầu dinh dưỡng trẻ em, nuôi con bằng sữa mẹ, chế độ ăn
bổ sung hợp lý,…
- Sự cung cấp thức ăn cho trẻ bao gồm số lượng, chất lượng để đáp ứng
nhu cầu cơ bản về dinh dưỡng của trẻ em.
1.4. Năng lượng và dinh dưỡng đối với cơ thể
- 3 – 6 tháng tuổi: 620 kcal/ ngày; 6 – 12 tháng tuổi: 820 kcal/ ngày
- 1 – 3 tuổi: 1300 kcal/ ngày; 4 – 6 tuổi: 1600 kcal/ ngày
1.4.2. Dinh dưỡng đối với cơ thể trẻ
1.4.2.1. Protein
Protein là yếu tố tạo hình chính, tham gia vào thành phần các cơ bắp,
máu, bạch huyết, hocmôn, men, kháng thể, các tuyến bài tiết và nội tiết. Do
vai trò này, protein có liên quan đến mọi chức năng sống của cơ thể (tuần
hoàn, hô hấp, sinh dục, tiêu hóa, bài tiết hoạt động thần kinh và tinh thần...).
Protein cần thiết cho chuyển hóa bình thường các chất dinh dưỡng
khác, đặc biệt là các vitamin và chất khoáng. Khi thiếu protein, nhiều vitamin
không phát huy đầy đủ chức năng của chúng mặc dù không thiếu về số lượng.
Protein còn là nguồn năng lượng cho cơ thể, thường cung cấp 10%15% năng lượng của khẩu phần, 1g protein đốt cháy trong cơ thể cho 4 Kcal,
nhưng về mặt tạo hình không có chất dinh dưỡng nào có thể thay thế protein.
Protein kích thích sự thèm ăn và vì thế nó giữ vai trò chính tiếp nhận
các chế độ ăn khác nhau. Thiếu protein gây ra các rối loạn quan trọng trong
cơ thể như ngừng lớn hoặc chậm phát triển, mỡ hóa gan, rối loạn hoạt động
nhiều tuyến nội tiết (giáp trạng, sinh dục), thay đổi thành phần protein máu,
giảm khả năng miễn dịch sinh học của cơ thể và tăng tính cảm thụ của cơ thể
với các bệnh nhiễm khuẩn.
1.4.2.2. Lipit
Trước tiên đó là nguồn năng lượng, 1g chất béo cho 9 Kcal. Thức ăn
giàu lipit là nguồn năng lượng đậm đặc cần thiết cho người lao động nặng,
cần thiết cho thời kì phục hồi dinh dưỡng đối với người ốm.
Lê Thị Lan Anh
8
Lớp K35 B - SP Sinh
Lê Thị Lan Anh
9
Lớp K35 B - SP Sinh
Khoá luận tốt nghiệp đại học
thể cho 4 Kcal. Ở gan, glucoza được tổng hợp thành glycogen. Gluxit ăn vào
trước hết chuyển thành năng lượng, số dư một phần chuyển thành glycogen
và một phần thành mỡ dự trữ.
Ở mức độ nhất định, gluxit tham gia tạo hình như một thành phần của
tế bào và mô. Trong cơ thể luôn luôn xẩy ra quá trình phân giải gluxit để tạo
năng lượng nhưng hàm lượng gluxit máu luôn luôn ở mức 80-120 mg%.
Ăn uống đầy đủ gluxit sẽ làm giảm phân hủy protein đến mức tối thiểu.
Ngược lại khi lao động nặng nếu cung cấp gluxit không đầy đủ sẽ làm tăng
phân hủy protein. Ăn uống quá nhiều, gluxit thừa sẽ chuyển thành lipit và đến
mức độ nhất định sẽ gây ra hiện tượng béo phệ.
1.4.2.4. Vitamin
1.4.2.4.1. Các vitamin tan trong mỡ
* Vitamin A
Dạng Retinol chỉ có ở thực phẩm động vật dưới dạng este của các axit
béo bậc cao trong gan, thận, phổi và mỡ dự trữ. Ở thực phẩm thực vật,
Vitamin A tồn tại dưới dạng provitamin A. Trong đó b -caroten có hoạt tính
vitamin A cao nhất nhưng cũng chỉ có 1/6 lượng caroten trong thực phẩm
xuất hiện trong cơ thể như là vitamin A dạng Retinol
Trong cơ thể, Vitamin A duy tri tình trạng bình thường của biểu mô.
Khi thiếu vitamin A, da và niêm mạc khô, sừng hóa, vi khuẩn dễ xâm nhập
gây viêm nhiễm. đó là các biểu hiện khô mắt, khô giác mạc. Vitamin A có vai
quan trọng làm chậm sự phát sinh của một số bệnh ung thư.
Vitanmin E ngăn ngừa bệnh tim mạch: vitamin E làm giảm các cholestrol xấu
và làm tănng sự tuần hoàn máu nên làm giảm nguy cơ mắc các bênh tim
mạch.
Vitamin E có hệ thống miễn dịch: kích thích hệ thống miễn dịch hoạt
động bình thường bằng việc bảo vệ các tế bào...
* Vitamin K
Tuy vitamin K không phổ biến như các loại vitamin khác nhưng chúng
vô cùng quan trọng với sự sống, giúp cơ thể bé khỏe mạnh và được phát triển
toàn diện. Tình trạng thiếu hụt vitamin K chỉ xảy ra ở trẻ sơ sinh không xảy ra
ở người lớn. Bởi sự vận chuyển vitamin K qua nhau thai của trẻ còn yếu
Lê Thị Lan Anh
11
Lớp K35 B - SP Sinh
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Vitamin K là một vitamin tan được trong chất béo, do đó, chúng
thường được “lưu trữ” trong mô mỡ và gan. "K" xuất phát từ tiếng Đức:
Koagulations vitamin. Vitamin K đóng một vai trò đặc biệt trong quá trình
làm đông máu, tránh xuất hiện chảy máu ở trẻ. Đông máu, hay còn gọi là tình
trạng máu vón cục và quá trình chống đông, hiện tượng này vô cùng quan
trọng, giúp duy trì trạng thái cân bằng bên trong cơ thể bé. Vitamin K cũng
giúp cho canxi được hấp thụ dễ dàng, giúp cho xương bé chắc khỏe
1.4.2.4.2. Các vitamin tan trong nước
* Vitamin B1
Ngoài ra vitamin B2 có ảnh hưởng tới khả năng cảm thụ ánh sáng của
mắt nhất là đối với sự nhìn màu. Khi thiếu vitamin B2 sẽ có tổn thương ở giác
mạc và nhân mắt. Riboflavin có nhiều trong các lá xanh, đậu đỗ, phủ tạng của
động vật
* Vitamin PP
Vitamin PP ( Nia xin, axit nieotinic).
Tất cả các tế bào sống đều cần ma xin và dẫn xuất của nó. Chúng là
thành phần cốt yếu của 2 coenzim quan trọng chuyển hóa gluxit và hô hấp tế
bào là Nicotinamit Adenin Dinucleotit (Nad-coenzim I) và Nicotinamit
Adenin Dinucleotit Photphat (NADP- Coenzim II). Vai trò chính của NAD và
NADP là chuyển H+ từ một cơ chất tới một coenzim hay một cơ chất khác.
Như vậy có sự tham gia phối hợp của riboflavin và nia xin trong các phản ứng
hô hấp tế bào.
Trong cơ thể, tryptophan có thể chuyển thành axit nicotinic. Quá trình
này xẩy ra ở ruột và gan và bị cản trở khi thiếu piridoxin. Cứ 60mg
tryptophan cho 1 mg axit nicotinic.
Thiếu nia xin và tryptophan là nguyên nhân của bệnh Pellagra. Các biểu hiện
chính của bệnh là viêm da nhất là vùng da tiếp xúc ánh nắng mặt trời, viêm
niêm mạc, ỉa chảy, có các rối loạn về tinh thần.
Thịt gia cầm, bò, lợn nhất là phủ tạng chứa nhiều vitamin PP. Lớp ngoài của
các hạt gạo, ngô, mì, đậu lạc vừng rất giàu vitamin PP.
Lê Thị Lan Anh
13
Lớp K35 B - SP Sinh
Khoá luận tốt nghiệp đại học
14
Lớp K35 B - SP Sinh
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng B6 có thể nguy hại nếu sử dụng
với liều cao, đặc biệt đối với hệ thần kinh. Ở Mỹ, người bán thuốc bắt buộc
phải yêu cầu bệnh nhân có đơn bác sĩ mới bán vitamin B6 ở liều lượng
10mg/ngày.
Theo các chuyên gia sức khỏe, tối ưu nhất là tăng cường vitamin B6
cho cơ thể qua con đường thực phẩm với các loại thức ăn như: thịt bò, pa-tê,
cá thu, trứng gia cầm, sữa, khoai tây, chuối, các cây họ đậu...
Để nhận được lợi ích vitamin B6 tốt nhất, sản phẩm hoa quả, thịt tươi
sống cần bảo quản ở nhiệt độ lạnh; sữa và ngũ cốc nên để nơi thoáng mát, khô
ráo, không ẩm ướt và tránh ánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp.
* Vitamin B9
Vai trò của vitamin B9 đối với thai phụ rất quan trọng
Nhu cầu dinh dưỡng cho cả mẹ và bé trong giai đoạn mang thai đều rất
cao. Một chế độ ăn uống hợp lý, đủ chất sẽ giúp thai phụ khỏe mạnh, thai nhi
phát triển toàn diện.
Các loại vitamin, nguyên tố vi lượng và khoáng chất như vitamin B9
(Folate), sắt, canxi, vitamin B6, vitamin B12… cần được bổ sung cho người
phụ nữ trong suốt thai kỳ, trong đó, Folate đóng vai trò đặc biệt quan trọng.
B9 là vitamin nhóm B rất quan trọng đối với quá trình hình thành tế bào mới
của cơ thể. Sau khi thụ thai, từ ngày 21 đến ngày 27 của thai kỳ, Folate góp
phần hình thành và phát triển hệ thần kinh của thai nhi. Thông thường, trong
giai đoạn này, nhiều thai phụ chưa biết mình mang thai nên đã bỏ qua "thời
điểm vàng" để bổ sung Folate.Việc thiếu hụt Folate có thể dẫn đến nguy cơ bị
ống thần kinh cho trẻ, thậm chí còn giúp phòng tránh dị tật về môi, tim, ống
tiểu và chân tay ở trẻ mới sinh.
Việc bổ sung Folate có thể thông qua chế độ ăn uống hằng ngày. Tuy
nhiên, chế độ ăn uống thông thường khó có thể đảm bảo đủ lượng Folate cần
thiết do chất này tan trong nước và dễ bị mất đi trong quá trình chế biến thức
ăn. Vì vậy, thai phụ thường được khuyên dùng thêm các loại sữa giàu Folate
dành cho phụ nữ mang thai.
Anmum Materna là nhãn hiệu sữa dành cho phụ nữ mang thai và cho
con bú được nghiên cứu và phát triển bởi Trung tâm nghiên cứu của Anmum.
Sản phẩm đã được thử nghiệm lâm sàng, giúp làm tăng hàm lượng Folate,
Lê Thị Lan Anh
16
Lớp K35 B - SP Sinh
Khoá luận tốt nghiệp đại học
giảm nguy cơ khiếm khuyết ống thần kinh ở thai nhi và ngăn ngừa thiếu máu
ở mẹ. Sữa còn chứa DHA, Ganglioside, sắt, canxi và khoảng 30 dưỡng chất
quan trọng khác giúp cơ thể và trí não bé phát triển hoàn thiện. Sản phẩm mới
còn được bổ sung Probiotics DR10 – lợi khuẩn của trung tâm nghiên cứu của
Anmum - hỗ trợ hệ tiêu hóa khỏe mạnh, giúp hấp thụ các dưỡng chất tốt hơn.
* Vitamin B12
Vitamin B12 là tên chung chỉ các cobalamin hoạt động trong cơ thể
như cyanocobalamin, hydroxocobalamin..., chúng có nhiều trong động vật
như thịt, cá, trứng, gan...
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thiếu máu như thiếu máu do dinh
dưỡng, thiếu máu do bệnh lý cơ quan tạo máu, thiếu máu do tan máu... trong
khỏe, vết thương mau lành, tăng sức bền mao mạch, tăng khả năng lao động,
sự dẻo dai và tăng sức kháng nhiễm.
Trong tự nhiên, Vitamin C có nhiều trong rau quả nhưng hàm lượng
của chúng giảm thường xuyên do các yếu tố nội tại của thực phẩm và các yếu
tố vật lý khác như ánh sáng, nhiệt độ cao, các men oxy hóa và các ion kim
loại ( Fe, Cu).
Trong tối, nhiệt độ thấp các món ăn hỗn hợp nhất là món ăn chua,
vitamin được duy trì lâu hơn.
Vitamin C rất dễ tan trong nước, do đó trong quá trình chế biến cần lưu
ý để tránh sự hao hụt không cần thiết và tận dụng các phần nước của thức ăn.
1.4.2.5. Chất khoáng
Khoáng là một nhóm các chất cần thiết không sinh năng lượng nhưng
giữ vai trò trong nhiều chức phận quan trọng đối với cơ thể. Cơ thể người ta
có gần 60 nguyên tố hóa học. Một số chất có hàm lượng lớn trong cơ thể được
xếp vào nhóm các yếu tố đa lượng (macroelements), số khác có hàm lượng
nhỏ được xếp vào nhóm các vi yếu tố (microelements). Các yếu tố đa lượng là
Ca (1,5%), P (L%), MG (0,05%), K (0,35%), NA (0,15%) ; Các yếu tố vi
lượng là I, F, Cu, Co, Mn, Zn... còn gọi là yếu tố vết. Lượng tro của một
người trưởng thành khoảng 2 kg tương đương 4% trọng lượng cơ thể. Khoảng
một nửa đường chất khoáng đó là yếu tố tạo hình của các tổ chức xương và tổ
chức mềm, phần còn lại nằm trong các dịch thể.
Lê Thị Lan Anh
18
Lớp K35 B - SP Sinh
Khoá luận tốt nghiệp đại học
19
Lớp K35 B - SP Sinh
Khoá luận tốt nghiệp đại học
sắt gáy thiếu máu. Iot với tiroxin là hormon của tuyến giáp trạng, thiếu Iot là
nguyên nhân bệnh bướu cổ địa phương. Cu, Co là các chất tham gia vào quá
trình tạo máu
Hiện nay vai trò của chất khoáng nhất là các vi yếu tố còn chưa được
biết đầy đủ
Các chất khoáng phân phối không đều trong thức ăn. Các thực phẩm
trong đó tổng lượng các ion K+, Na+, Ca++ Mg++ chiếm ưu thế được coi là
nguồn các yếu tố kiềm. Thuộc loại này gồm có phần lớn rau lá, rau củ, quả
tươi sữa và chế phẩm của các thực phẩm này
1.4.2.6. Nước
Nước có vai trò đặc biệt quan trọng với cơ thể, con người có thể nhịn
ăn được có vai trò đặc biệt quan trọng với cơ thể, con người có thể nhịn ăn
được vài ngày, nhưng không thể nhịn uống nước.
Nước chiếm khoảng 70% trọng lượng cơ thể, 65-75% trọng lượng cơ,
50% trọng lượng mỡ, 50% trọng lượng xương. Nước tồn tại ở hai dạng: nước
trong tế bào và nước ngoài tế bào. Nước ngoài tế bào có trong huyết tương
máu, dịch limpho, nước bọt… Huyết tương chiếm khoảng 20% lượng dịch
ngoài tế bào của cơ thể (3-4 lít). Nước là chất quan trọng để các phản ứng hóa
học và sự trao đổi chất diễn ra không ngừng trong cơ thể. Nước là một dung
môi, nhờ đó tất cả các chất dinh dưỡng được đưa vào cơ thể, sau đó được
chuyển vào máu dưới dạng dung dịch nước.
Nước là thành phần cơ bản của tất cả các tổ chức và dịch thể. Mọi quá
trình chuyển hóa trong tế bào và mô chỉ xây ra bình thường khi đủ nước.
1.5.1.6. Đánh giá ngăn nội bào dựa vào xét nghiệm sinh hóa: protid
máu, điện giải đồ, bilan lipid máu…
1.5.2. Các cách phân loại SDD
1.5.2.1. Theo lớp mỡ dưới da
Căn cứ vào sự mất lớp mỡ dưới da ở bụng, mặt và mông.
- SDD độ I: chỉ mất lớp mỡ dưới da bụng
- SDD độ II: mất lớp mỡ dưới da bụng + mông
- SDD độ III: mất lớp mỡ dưới da bụng + mông + má
Lê Thị Lan Anh
21
Lớp K35 B - SP Sinh
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Tiêu chuẩn chẩn đoán về phân độ này không áp dụng đúng và rộng rãi được
vì hiện tượng mất tổ chức mỡ xảy ra sớm và nhanh trong SDD do thiếu năng
lượng, còn trong SDD do thiếu đạm chủ yếu thì lớp mỡ lại ít mất hơn.
1.5.2.2. Vòng cánh tay (VCT)
- Vòng cánh tay bình thường phát triển nhanh trong năm đầu. Từ 1 – 5
tuổi hầu như không thay đổi và trên 13,5 cm. Chỉ áp dụng đo VCT cho trẻ 1 –
5 tuổi
- Trong khám sức khỏe hàng loạt, người ta làm sẵn những bản đo VCT
với 3 khoảng nhuộm màu: xanh >13,5 cm ; vàng: 13,5 – 12.5 cm; đỏ < 12,5
cm
- Vì số đo VCT phụ thuộc khối cơ và độ dày lớp mỡ dưới da nên tiêu
chuẩn này cũng có mặt hạn chế như tiêu chuẩn trên, nó có giá trị trong cộng
Kwashiorkor
SDD nhẹ, trung bình
< 60 %
Marasmus - Kwashiorkor
Marasmus
1.5.2.5. Theo Waterlow
Những cách phân loại trên chỉ cho biết tình trạng trẻ hiện có SDD
nhưng không cho biết tình trạng này kéo dài, mạn tính hay bị SDD trong quá
khứ nhưng hiện nay trẻ đang hồi phục hoặc là trẻ mới bị SDD mà trong quá
khứ không hề có tình trạng này. Vì vậy, Waterlow đã đưa thêm tiêu chuẩn
chiều cao vào để đánh giá và đề xuất 2 dang từ còi cọc ( stunting) và gầy mòn
(wasting).
CN / CC
CC / T
>90%
80%
cấp. Nếu được nhanh chóng điều chỉnh về chế độ ăn trẻ sẽ phục hồi hoàn
toàn. Ở nước ta trong 10 năm nay tỉ lệ mắc bệnh vẫn còn cao.
- Thể còi cọc – gầy còm: Biểu hiện tình trạng SDD mạn tiến triển. Trẻ
có chế độ ăn thiếu nhiều, ngày càng sụt cân và giảm chiều cao: CN/CC
ăn.
Lê Thị Lan Anh
25
Lớp K35 B - SP Sinh