Xây dựng mô hình can thiệp phối hợp giữa thực hành nuôi dưỡng trẻ và tạo nguồn thức ăn tại cộng đồng nhằm cải thiện tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi tại các xã khó khăn có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao tại hà nội - Pdf 13


Trờng đại học Y Hà nội
Bộ môn dinh dỡng - An toàn thực phẩm

Báo cáo khoa học tổng kết đề tài
Xây dựng mô hình can thiệp phối hợp giữa thực hành
nuôi dỡng trẻ và tạo nguồn thức ăn tại cộng đồng
nhằm cải thiện tình trạng suy dinh dỡng ở trẻ em dới 5 tuổi
tại các xã khó khăn có tỷ lệ suy dinh dỡng cao tại Hà Nội

M số: TC-MT/10-06-2

Chủ nhiệm đề tài : PGS.TS. Phạm Duy tờng
Đơn vị thực hiện : Trờng đại học Y Hà nội
Cơ Quan đợc giao kế hoạch: Sở khoa học công nghệ Hà nội

8993
Năm - 2008

MC LC
2.4.7. Biện pháp khống chế sai số 28
2.4.8. Xử lý và phân tích số liệu 29
2.4.9. Các khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu. 29
Chơng 3. Kết quả nghiên cứu 31
3.1. Thực trạng tình trạng dinh dỡng trẻ dới 5 tuổi Và kiến thức và thực hành nuôi

dỡng trẻ của các bà mẹ 31
3.1.1. Thực trạng tình trạng dinh dỡng trẻ dới 5 tuổi 31
3.1.2. Thực trạng kiến thức và thực hành nuôi trẻ của các bà mẹ. 32
3.1.3. Yếu tố kinh tế hộ gia đình 39
3.1.4. Yếu tố bệnh tật 39
3.1.5. Yếu tố chất lợng bữa ăn 40
3.1.6. Tiếp cận giáo dục - truyền thông dinh dỡng 42

3.1.7. Phân tích khả năng khai thác thực phẩm sẵn có tại Việt long 43
3.1.8. So sánh nguy cơ ở trẻ SDD và bình thờng ở hai xã Việt Long và Phù Ninh 45
3.2. Xây dựng và thực hiện mô hình can thiệp phối hợp giữa thực hành nuôi dỡng trẻ và tạo
nguồn thức ăn tại cộng đồng 56
3.2.1. Xác định vai trò các thành phần tham gia vào mô hình can thiệp 56
3.2.2 Các giải pháp và hoạt động cụ thể của mô hình can thiệp 58
3.3. Đánh giá hiệu quả bớc đầu việc áp dụng thử nghiệm mô hình can thiệp sau 12 tháng 64
3.3.1. Hiệu quả thay đổi về kiến thức, thực hành chăm sóc trẻ 64
3.3.2. Những thay đổi về chất lợng bữa ăn 72
3.3.3. Thay đổi tỷ lệ suy dinh dỡng trẻ dới 5 tuổi tại 2 xã. 75
3.3.4. Thay đổi về tỷ lệ mắc bệnh 77
3.3.5. Tiếp cận giáo dục - truyền thông dinh dỡng 78
3.3.6. Đánh giá hiệu quả hoạt động chơng trình phòng chống SDD ở 2 xã 79
Chơng 4 : Bàn luận 82
4.1. Thực trạng tình trạng dinh dỡng của trẻ dới 5 tuổi và kiến thức và thực hành nuôi
con của các bà mẹ 82

vong ở trẻ nhỏ. Những ảnh hởng do nuôi dỡng sai lầm trong thời kỳ này kéo dài trong suốt cuộc đời
của đứa trẻ biểu hiện qua kém trí tuệ trong học hành, giảm khả năng lao động, thiệt thòi trong cuộc sống
xã hội, cộng đồng
Sóc sơn một huyện ngoại thành Hà Nội, trong những năm qua công tác chăm sóc sức khoẻ và
phòng chống suy dinh dỡng đã có nhiều kết quả, tuy nhiên tốc độ giảm suy dinh dỡng còn chậm,
nhiều xã còn có tỷ lệ suy dinh dỡng cao trên 25% nh : Hồng Kì, Phù Ninh, Bắc sơn, Việt
Long

Chính vì vậy việc triển khai nghiên cứu xây dựng mô hình phòng chống suy dinh dỡng ở các xã
ngoại thành có tỷ lệ suy dinh dỡng cao trong giai đoạn hiện nay thực sự cần thiết, để có thể áp dụng và
triển khai cho tất cả các xã ở ngoại thành có tỷ lệ suy dinh dỡng cao. Từ những l

ý

do trên chúng tôi
nghiên cứu đề tài nhằm mục tiêu sau:
Mục tiêu chung :
Cải thiện tình trạng suy dinh dỡng ở trẻ dới năm tuổi tại các xã khó khăn và có tỷ lệ suy dinh
dỡng cao ở Hà Nội thông qua mô hình can thiệp phối hợp giữa hớng dẫn thực hành nuôi dỡng trẻ và
tạo nguồn thực phẩm sẵn có tại cộng đồng. xMục tiêu cụ thể:
1.

Đánh giá thực trạng dinh dỡng của trẻ dới 5 tuổi và thực hành nuôi con của các bà mẹ tại các
xã khó khăn và tỷ lệ suy dinh dỡng cao ở Hà nội.

1. Hiệu quả cải thiện về kiến thức, thực hành của bà mẹ
2. Cải thiện tình trạng dinh dỡng trẻ
3. Cải thiện cách chăm sóc trẻ
VI. Kiến nghị và đề xuất
xx
Kết quả đạt đợc:
1. Sau thời gian can thiệp tỷ lệ SDD trẻ dới 5 tuổi
tại Việt Long và Phù Ninh đều
giảm đi so với lúc trớc khi triển khai, tuy nhiên cha có sự khác biệt rõ rệt giữa hai xã.
Hiệu quả giảm tỷ lệ suy dinh dỡng ở chỉ tiêu Cân nặng theo tuổi giảm đi có ý nghĩa đối
với xã Việt long ở lứa tuổi thứ 2 (29,0% và 17,7%) và tuổi thứ 3 (30,3% và 18,5%) (P<0,05),
chênh lệch có ý nghĩa so với xã đối chứng Phù Ninh ở lứa tuổi thứ 3 (36,3% và 25,4%) và tuổi
thứ 4 (34,3% và 23,7%) (P<0,05).

chỉ tiêu chiều cao theo tuổi thì tỷ lệ trẻ suy dinh dỡng giảm đi có ý nghĩa đối với xã
Việt long ở lứa tuổi thứ 2 (28,3% và 19%); đối với Phù Ninh ở lứa tuổi thứ 4 (38,4 % và
25,3%)(P<0,05). Nếu tính theo chỉ tiêu cân nặng theo chiều cao thì tỷ lệ trẻ suy dinh dỡng có
giảm đi nhng cha có sự khác biệt trớc sau can thiệp.
Kết quả sau can thiệp cho thấy đã cải thiện đợc tình trạng dinh dỡng theo chỉ tiêu Cân
nặng/ tuổi là 15,9%, Chiều cao theo tuổi là 20,4%, nhng chỉ tiêu cân nặng theo chiều cao chỉ
đạt 11,8%.

2
. Một số yếu tố về chăm sóc trẻ của bà mẹ:
Chơng trình can thiệp với hoạt động hớng dẫn thực hành và t vấn chăm sóc nuôi
dỡng trẻ trớc tiên là nân cao kiến thc của bà mẹ nên cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau
khi sinh trớc và sau can thiệp là cao nhất, các bà mẹ biết sự cần thiết cho trẻ bú sữa non ở Việt
Long trớc can thiệp là 58,6%, tỷ lệ này đã tăng lên (69,9%). Tỷ lệ bà mẹ biết nên cai sữa cho
trẻ sau 12 tháng ở Xã Việt long cao hơn so với bà mẹ ở xã Phù Ninh. Các bà mẹ ở Việt Long
cũng biết thời điểm ăn bổ sung hợp lý không sớm quá hoặc muộn quá đã nâng lên rõ rệt sau khi


Vit Long vi i ng cng tỏc viờn s lng v c tp hun tt ó thỳc y
vic hng dn thc hnh dinh dng cho cỏc b m cao hn.

Thời gian và Kinh phí thực hiện đề tài

-
Thời gian thực hiện đề tài : Từ tháng 01 năm 2006 Đến tháng 6 năm 2007 (ĐC)
Từ tháng 01 năm 2006 Đến tháng 12 năm 2007 (thực tế)
- Kinh phí thực hiện
Tổng số : 450.000.000 đ
( Bốn trăm năm mơi triệu đồng chẵn )

Trong đó, từ ngân sách SNKH : 450.000.000 đ
Đã quyết toán : 440.000.000
ixCác tổ chức/cá nhân tham gia thực hiện đề tài

TT Tên tổ chức Địa chỉ
1
Bộ môn Dinh dỡng & ATTP- Khoa YTCC
Trờng Đại học Y Hà Nội

5 6

7

Cán bộ tham gia nghiên cứu

Ts. Trần Thị Phúc Nguyệt Ts. Phạm Văn Phú Ths Trịnh Bảo Ngọc Ts. Lê Thị Hơng CN Nguyễn Thị Ninh Ths. Trần Văn Hà

Cán bộ y tế tại địa phơng BM Dinh dỡng&VSATTP - KhoaYTCC- ĐHY Hà

thấy hơn 1/3 trẻ em dới 5 tuổi ở các nớc đang phát triển có chiều cao/tuổi thấp hơn -2SD
của quần thể tham chiếu NCHS (National Centre for Health Statistic) và nhiều năm trở lại đây
tỷ lệ SDD nói chung cha giảm đáng kể, ở nhiều nơi gần nh không thay đổi.
Qua thực tế, càng ngày ngời ta càng thấy SDD trẻ em không đơn thuần chỉ là hậu
quả của sự thiếu thức ăn hoặc thiếu chăm sóc y tế - vệ sinh môi trờng, mà chất lợng chăm
sóc và nuôi nấng trẻ còn phụ thuộc nhiều vào kiến thức và thời gian của ngời mẹ trong việc
chăm sóc trẻ. Nhiều trẻ em, bố mẹ có thu nhập khá vẫn SDD, vì nhiều bà mẹ cha biết cách
chăm sóc con cái, (đó là cha kể đến các tập quán cũ, lạc hậu).
Chiến lợc toàn cầu cho sự nuôi dỡng trẻ đợc dựa trên bằng chứng quan trọng của
dinh dỡng trong những tháng đầu, những năm đầu của cuộc sống và dựa trên vai trò của thực
hành nuôi dỡng phù hợp trong việc phấn đấu tới một sức khoẻ tốt nhất. Nuôi con bằng sữa
mẹ không đúng, đặc biệt là không nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu tiên,
cho ăn bổ sung không phù hợp là những yếu tố nguy cơ cao làm tăng tỷ lệ bệnh tật và tử vong
ở trẻ nhỏ. Những ảnh hởng do nuôi dỡng sai lầm trong thời kỳ này kéo dài trong suốt cuộc
đời của đứa trẻ biểu hiện qua kém trí tuệ trong học hành, giảm khả năng lao động, thiệt thòi
trong cuộc sống xã hội, cộng đồng
Thực hành nuôi dỡng không đúng và hậu quả của nó là những cản trở chính đối với
việc phát triển kinh tế xã hội bền vững và xoá bỏ đói nghèo. Chắc chắn rằng: Một đất nớc sẽ
không thể thành công trong sự nỗ lực để thúc đẩy phát triển kinh tế cho tới khi nào sự tăng
trởng và phát triển của trẻ em đạt tới mức tốt nhất.
Nuôi dỡng trẻ phù hợp là cần thiết để đạt tới và duy trì tình trạng dinh dỡng, sức
khỏe tốt cho đứa trẻ, trong đó cho ăn bổ sung hợp lý đóng một trong những vai trò quyết định.
Sóc Sơn một huyện ngoại thành Hà Nội, trong những năm qua công tác chăm sóc sức
khoẻ và phòng chống suy dinh dỡng đã có nhiều kết quả, tuy nhiên tốc độ giảm suy dinh

2
dỡng còn chậm, nhiều xã còn có tỷ lệ suy dinh dỡng cao trên 25% nh : Hồng Kì, Phù
Ninh, Bắc sơn, Việt Long, Xuân giang. Chính vì vậy việc triển khai nghiên cứu xây dựng mô
hình phòng chống suy dinh dỡng ở các xã ngoại thành có tỷ lệ suy dinh dỡng cao trong giai
đoạn hiện nay thực sự cần thiết, để có thể áp dụng và triển khai cho tất cả các xã ở ngoại
3
Chơng 1. Tổng quan
1.1. Tình hình Suy Dinh Dỡng thế giới và Việt Nam những năm gần đây
Theo tổ chức lơng thực và nông nghiệp thế giới FAO (2002): Thế giới hiện có trên
840 triệu ngời không đủ ăn [49]. Theo Quĩ nhi đồng liên hiệp quốc UNICEF (2002): Vì đói
nghèo và thiếu sự tiếp cận với những dịch vụ xã hội cơ bản, hàng năm hơn 10 triệu trẻ em
dới 5 tuổi - trong đó một nửa trong giai đoạn chu sinh - đã chết vì suy dinh dỡng và các
bệnh có thể phòng chống đợc. Hàng năm những biến chứng liên quan đến thiếu máu, suy
dinh dỡng bà mẹ và trẻ sơ sinh đã dẫn tới nửa triệu phụ nữ và trẻ vị thành niên bị tử vong,
đồng thời số ngời khác bị di chứng thơng tổn, mất năng lực còn nhiều hơn thế; 150 triệu trẻ
em dới 5 tuổi bị suy dinh dỡng; hơn 2 tỷ ngời thiếu sự tiếp cận với những điều kiện vệ
sinh đầy đủ;100 triệu trẻ em thất học trong đó 60% là trẻ gái; HIV/AIDS đang phát triển với
một tốc độ nhanh chóng [77].
Báo cáo lần thứ 4 về tình hình dinh dỡng toàn cầu năm 2000 của ACC/SCN/IFPRI
cho thấy: hàng năm có khoảng 30 triệu trẻ em đợc sinh ra ở các nớc đang phát triển có lệch
lạc về tăng trởng vì hậu quả của suy dinh dỡng bào thai. Trẻ đẻ đủ tháng có cân nặng sơ
sinh thấp rất phổ biến và trầm trọng ở Miền Nam Trung
á
(khoảng 21%) Trung Phi (15%)
Tây Phi (11%). Khoảng 182 triệu trẻ em trớc tuổi đi học hoặc 33% trẻ dới 5 tuổi ở các nớc
đang phát triển bị suy dinh dỡng thể thấp còi, ớc lợng vào năm 2005 sẽ còn khoảng 29%
trẻ bị suy dinh thể này trên toàn cầu nhng con số thực sẽ là rất cao [40].
Bảng 1.1. ớc lợng tỷ lệ và con số trẻ bị suy dinh dỡng thể thấp còi 1995-2003 [40]
Tỷ lệ %


Con số 33,0% trẻ em dới 5 tuổi bị SDD thể còi cọc (chỉ số chiều cao/tuổi thấp) phản
ánh hậu quả của tình trạng thiếu ăn và sức khoẻ kém kéo dài [59][66].

Việt Nam, với thực trạng tình hình dinh dỡng hiện nay còn rất nhiều vấn đề đáng
quan tâm: Trên 1 triệu hộ gia đình còn đói ăn; 20% phụ nữ bị thiếu nhiệt lợng trờng diễn
(chỉ số BMI<18,5), đặc biệt ở những bà mẹ đang nuôi con tỷ lệ này còn cao hơn
(24,8%)[33][34[35].
Qua các cuộc điều tra và tổng điều tra dinh dỡng, tỷ lệ SDD ở trẻ dới 5 tuổi theo 3 chỉ
số cân nặng/tuổi, Chiều cao/tuổi,Cân nặng/chiều cao diễn biến nh sau[32][34][36][39][54]
[68][69]:
Bảng 1.2. Kết quả điều tra dinh dỡng trẻ dới 5 tuổi theo năm.
Tỷ lệ SDD (%)
Năm điều tra
Cân/Tuổi Cao/Tuổi Cân/Cao
1985 51,5 59,7 7,0
1995 44,9 46,9 11,6
1996 43,9 44,2 14,8
1997 40,6 44,1 14,3
1998 39,8 35,9 10,3
1999 36,7 38,7 -
2000 33,8 36,5 -
2001 31,9 34,8 -
2002 30,1 33,0 7,9
2003 28,4 32,0 -
2004 26,6 30,7 7,7
2005 25.2 29.6 6.9
2006 24.0 32.0 7.0
2007 21.2 33.9 7.6
Mặc dù có chiều hớng giảm khi tính chung toàn quốc trong những năm gần đây
nhng ở các khu vực Miền núi phía Bắc, Miền Trung, Tây Nguyên, tỷ lệ SDD vẫn còn rất cao.

1.2.1. Nguyên nhân suy dinh dỡng
Hiện nay, theo UNCEF, nguyên nhân SDD có thể đợc chia thành 3 mức độ: trực tiếp,
tiềm tàng và cơ bản [74]. Mô hình đó đã chỉ ra nguyên nhân trực tiếp dẫn đến suy dinh dỡng
là do thiếu ăn, bệnh tật, nguyên nhân tiềm tàng là thiếu an ninh lơng thực thực phẩm, thiếu
dịch vụ chăm sóc y tế và vệ sinh môi trờng kém, chăm sóc bà mẹ và trẻ em cha tốt. Nguyên
nhân cơ bản của suy dinh dỡng hiện nay liên quan đến hệ thống cơ quan nhà nớc, tổ chức
xã hội, kiến trúc cơ cấu chính trị, cơ cấu kinh tế, nguồn lực và tài nguyên.

6
Điều tra về nguyên nhân trực tiếp dẫn đến SDD, Viện Dinh dỡng đã đa ra con số là
1/3 do thiếu ăn kể cả SDD ở bà mẹ trong thời kỳ có thai và trẻ sơ sinh có cân nặng dới 2500
gam, 1/3 do các bệnh nhiễm khuẩn đặc biệt là tiêu chảy, viêm phổi và sởi, 1/3 do bà mẹ
không biết cách nuôi con và do tập tục kiêng khem không hợp lý. Viện bảo vệ bà mẹ trẻ em
đã đi đến kết luận là hơn 60% trẻ em bị SDD là do gia đình thiếu hiểu biết về cách nuôi con
và các bà mẹ thiếu thời gian chăm sóc trẻ [11].
Đối với các yếu tố nguy cơ gây cân nặng sơ sinh thấp, các nghiên cứu thờng đi đến
kết luận là do: Tình trạng dinh dỡng kém của bà mẹ trớc khi có thai (cân nặng dới 40 kg,
chiều cao thấp hơn 145 cm), ít tăng cân trong thời kỳ có thai (dới 6 kg), bà mẹ bị thiếu máu,
khẩu phần ăn không đáp ứng nhu cầu, lao động nặng nhọc trong thời kỳ thai nghén [24].
Thiếu ăn:
Thiếu ăn - hay nói rộng hơn là đói nghèo - là một trong những nguyên
nhân trực tiếp của SDD. Ngày nay, những nguyên nhân của đói nghèo đã đợc xác định rõ
ràng đó là do sự bùng nổ dân số, thất nghiệp, bất ổn về chính trị, thiếu t liệu sản xuất nh
đất, vốn, dụng cụ Những đứa trẻ đợc sinh ra trong những gia đình nghèo thờng có nguy
cơ cao đối với bệnh tật vì sống trong môi trờng thiếu vệ sinh, nhà cửa chật chội, đông đúc,
điều kiện sống nghèo nàn, phơi nhiễm cao với các véc tơ gây bệnh [47].
Nhiễm trùng và ký sinh trùng:
Đây là nguyên nhân trực tiếp thứ 2 của SDD:
Nhiễm trùng:
Hầu hết các kết quả nghiên cứu đều cho thấy ảnh hởng của nhiễm

đứa trẻ bắt đầu ăn bổ sung và dần từng bớc chuyển đổi để đến giai đoạn tiếp cận và ăn những
thức ăn thông thờng nh mọi thành viên trong gia đình. Đây là một giai đoạn đặc biệt quan
trọng với nhiều nguy cơ tác động có hại đến sức khoẻ và tình trạng dinh dỡng của trẻ. Do
nuôi dỡng không đúng, ở giai đoạn từ 6-18 tháng, tỷ lệ mắc mới SDD tăng rất nhanh ở hầu

8
hết các nớc, sự thiếu hụt dinh dỡng mắc phải trong độ tuổi này rất khó khắc phục, bù đắp ở
những năm tiếp sau [44].
1.2.2.

nh hởng của SDD đến sức khoẻ, bệnh tật, kinh tế-xã hội:
Cho đến nay, tầm quan trọng của dinh dỡng nh một nền tảng đối với sự phát triển
khoẻ mạnh vẫn còn đợc đánh giá thấp. Dinh dỡng tồi sẽ dẫn đến sức khoẻ ốm yếu và sức
khoẻ ốm yếu dẫn đến một tình trạng dinh dỡng tồi tệ hơn. Trẻ em chính là đối tợng bị SDD
nhiều nhất và chịu những hậu quả nặng nề nhất của SDD [44].
Những đứa trẻ bị SDD, thiếu các vi chất cần thiết nh vitamin A, sắt, kẽm, có khả
năng chống đỡ các bệnh nhiễm trùng kém. Ngời ta ớc tính 50 - 60% trẻ dới 5 tuổi tử vong
do nguyên nhân tiềm ẩn là SDD [47]. Và có thể nói: cho đến nay (2004) - sau một thời gian
dài - tỷ lệ này vẫn không có xu hớng giảm [85].
Trong đó, 50-70% gánh nặng bệnh tật của tiêu chảy, sởi, sốt rét, nhiễm trùng đờng
hô hấp ở trẻ em toàn thế giới là do sự góp mặt của SDD [84].
Ngân hàng Thế giới ớc tính thiệt hại do mất sức sản xuất nói chung trên toàn cầu
trong 1 năm do sự chồng chéo của 4 dạng SDD: Gày còm và thấp còi, rối loạn và thiếu hụt
iod, thiếu sắt, thiếu vitamin A gây ra tơng đơng với 46 triệu năm lao động của một ngời
khoẻ mạnh [66].
Ngời ta cũng thấy có một mối liên quan chặt chẽ giữa SDD thể nhẹ cân (W/A thấp)
và tỷ lệ tử vong, qua theo dõi một số nghiên cứu theo chiều dọc, WHO ớc tính 54% số trẻ
em chết dới 5 tuổi ở các nớc đang phát triển có kèm theo SDD thể nhẹ cân [59].
Năm 2000, ACC/SCN đã khái quát hoá ảnh hởng của SDD theo chu kỳ vòng đời
(Undernutrition throughout the life cycle) một cách hoàn chỉnh hơn so với mô hình Chu

Caribê và Mỹ Latinh: 10%, Nam á-Thái Bình Dơng: 8%. Tỷ lệ SDD gầy còm (cân
nặng/chiều cao thấp) đợc dự đoán tăng lên ở tất cả các vùng thuộc Châu Phi. Tình trạng
thiếu cân ở trẻ em và phụ nữ vẫn đợc ớc lợng làm mất tới 138 triệu DALYs hoặc góp phần
vào 9,5% gánh nặng bệnh tật chung. Gần 2 tỷ ngời (35,2% dân số thế giới) thiếu iốt. Hàng
năm có khoảng 140 triệu trẻ em trớc tuổi đi học và trên 7 triệu phụ nữ mang thai bị thiếu
vitamin A. Thiếu máu do thiếu sắt liên quan đến cái chết của khoảng 111.000 phụ nữ mang
thai mỗi năm [75].

10
Việt Nam, trong 5 mục tiêu của các chơng trình dinh dỡng đến năm 2010 có 3 mục
tiêu đầu đợc tập trung cho việc cải thiện tình trạng dinh dỡng [16][33]: Nâng nâng cao kiến
thức và thực hành dinh dỡng hợp lý của ngời dân, giảm tỷ lệ SDD ở trẻ em và bà mẹ, giải
quyết về cơ bản tình trạng thiếu vitamin A, thiếu Iod và giảm đáng kể tình trạng thiếu máu
dinh dỡng
1.3.2 Giải pháp phòng chống suy dinh dỡng
Nạn đói và SDD ảnh hởng nặng nề đến sự phát triển thể chất, trí tuệ, sức khoẻ của
mỗi cá thể nhng cũng là ảnh hởng đến lực lợng lao động, sự phát triển của mỗi quốc gia.
Do đó, sự nỗ lực tập trung để xoá bỏ đói nghèo và SDD không chỉ đem lại lợi ích cho mỗi cá
nhân, mỗi quốc gia mà còn đem lại lợi ích cho toàn thế giới [66].
Cải thiện tình trạng dinh dỡng là giải pháp can thiệp chống đói nghèo có hiệu quả
đặc biệt vì nó có thể đạt đợc với chi phí thấp và kết quả bền vững. Nhng muốn có hiệu quả,
một chơng trình can thiệp dinh dỡng phải đợc thiết kế dựa trên mô hình nguyên nhân phù
hợp, nhằm tác động vào những căn nguyên tiềm tàng để giải quyết một hay nhiều vấn đề then
chốt nh thực phẩm, chăm sóc và sức khoẻ ở ngay tại gia đình và cộng đồng.
Theo những dữ liệu của Lindsay H. Allen: Vào cuối những năm 1970, những chơng
trình can thiệp dinh dỡng chính đã tập trung vào nuôi con bằng sữa mẹ, ăn bổ sung
(complementary feeding) và bổ sung thực phẩm (supplementary feeding). UNICEF đã phát triển sáng
kiến GOBI (GOBI Initiative: gồm theo dõi tăng trởng, bù nớc bằng đờng uống, nuôi con bằng sữa
mẹ, tiêm chủng mở rộng) nhằm cải thiện tình trạng sức khoẻ, bảo vệ trẻ [61].
Theo WHO/UNICEF (2001): cải thiện sức khoẻ của trẻ em không nhất thiết phải phụ

chị, cô nuôi dạy trẻ
Theo định nghĩa của UNICEF (1997): Chăm sóc dinh dỡng ngụ ý nói tới những thực
hành của ngời chăm sóc trẻ tại gia đình mà những thực hành đó chuyển đổi an ninh thực phẩm và
những nguồn chăm sóc sức khoẻ thành sự phát triển và tăng trởng của đứa trẻ [71][88].
Chăm sóc đóng một vai trò rất quan trọng nhng nó đòi hỏi ngời chăm sóc phải đủ
nguồn lực nh thời gian, sức lực và tiền bạc
Bổ sung vi chất liều cao:
Đây là một giải pháp nhằm đa một liều lớn vi chất đến trực tiếp cho những cá thể cụ
thể, ví dụ bổ sung viên sắt cho phụ nữ có thai, bổ sung viên nang vitamin A liều cao cho trẻ

12
em 6-36 tháng tuổi và cách này cho hiệu quả nhanh. Chơng trình bổ sung vitamin A đã
thành công ở mức độ rộng rãi trong việc cải thiện tình trạng vitamin A của trẻ trớc tuổi đi
học ở những cộng đồng thiếu vitamin A. Tuy vậy, giải pháp này thờng rất hạn chế trong việc
bổ sung tất cả các chất dinh dỡng cần thiết, những ngời không thuộc nhóm đích thờng bị
bỏ sót, sự tuân thủ của ngời nhận bổ sung không cao, đặc biệt trong trờng hợp liều dùng
phải đợc nhận thờng xuyên và thời gian can thiệp kéo dài (nh bổ sung viên sắt, a.folic cho
phụ nữ có thai ), tính bền vững của chơng trình [3]
Ngoài ra, giải pháp này thờng đợc áp dụng theo hớng từ trên xuống dới (top-
down) để giải quyết vấn đề dinh dỡng, do đó có thể sẽ có tác dụng ngợc: Làm giảm sự chú
ý tới những giải pháp tiếp cận dựa trên thực phẩm có khả năng bền vững hơn [61].
Đồng thời không phải chơng trình nào cũng hiệu quả: Bổ sung đa vi chất đã cải thiện
tốc độ tăng trởng ở trẻ em Việt Nam và trẻ dới 12 tháng tuổi ở Mexico nhng ở Peru hoặc
Guatemala lại không có đợc kết quả tơng tự [46][59].
1.3.3. Phòng suy dinh dỡng thông qua cải thiện chất lợng thức ăn bổ sung
Cải thiện chất lợng thức ăn bổ sung là một trong những hớng đi đang đợc nhiều
tác giả quan tâm hiện nay. Từ 6 tháng trở đi, TĂBS của trẻ cần đợc tăng dần về số lợng và
đa dạng hoá nhằm cung cấp không những năng lợng mà còn cung cấp cả những chất dinh
dỡng cần thiết gồm protein, vitamin và khoáng.


thiếu hụt các vi chất dinh duỡng trong khẩu phần. Chẳng hạn, chỉ cần 100 gam thịt bò đã có
thể thoả mãn nhu cầu protein, vitamin B12, kẽm của cả ngày và thoả mãn phần lớn nhu cầu
B2, sắt. 100 gam sữa cũng đã có thể thoả mãn phần lớn nhu cầu can xi, vitamin A, B12, B2.
Gan động vật là một nguồn vitamin A và sắt có giá trị sinh học cao và đợc cơ thể sử dụng
hiệu quả hơn nhiều so với bổ sung đơn độc các chất này [76].
Về triển vọng lâu dài, tăng lợng chất dinh dỡng ăn vào thông qua tạo nguồn thực
phẩm, cải thiện chất lợng khẩu phần là một cách tiếp cận lý tởng. Tiêu thụ những thực
phẩm có giá trị dinh dỡng cao (gồm cả ASF: animal source foods) sẽ giúp cơ thể nhận đợc
nhiều loại chất dinh dỡng và mang lợi ích cho tất cả mọi thành viên trong gia đình. Phần
đông các nhà dinh dỡng cũng nh một số nhà hoạch định chính sách, những nhà hỗ trợ
chơng trình đều nhận thức rõ ràng việc sử dụng thức ăn có nguồn gốc động vật sẽ cải thiện
chất lợng khẩu phần [61].
Cũng đã có một số chơng trình thành công trong việc tạo nguồn thực phẩm tại hộ gia
đình nh chơng trình VAC ở Việt nam là một ví dụ điển hình. Số liệu đợc tổng hợp từ tác giả Lê Thị
Hợp cho thấy ảnh hởng của VAC cải thiện dinh dỡng và kinh tế gia đình rất rõ rệt [60].
Bảng 1.4. Số hộ gia đình cải thiện tình trạng dinh dỡng trẻ em và kinh tế thông qua VAC
Biến số
Số hộ đợc
điều tra
Gia đình
có VAC
Gia đình
không có
VAC
Nguồn
26.000 +++ - Gs. Từ Giấy và cs 1991
268 ++ - Từ Ngữ và cs 1991

Cải thiện kinh tế
304 ++ - Phan V Huân và cs 1996

Tăng cờng vi chất vào thực phẩm:
Cho đến những năm gần đây, tăng cờng vi chất vào một số thực phẩm đợc coi nh
bắt buộc ở nhiều nớc [41]. Rất nhiều chơng trình thức ăn bổ sung đã không chú ý đúng
mức để tránh việc thay thế quá mức sữa mẹ bằng các thức ăn khác. Mặc dù thông điệp tiếp
tục cho bú mẹ sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ nhng bà mẹ không
đợc chỉ dẫn rõ, làm thế nào để có thể duy trì việc cho bú tối đa. Đứa trẻ có khả năng tự điều
chỉnh năng lợng ăn vào để đáp ứng nhu cầu năng lợng của chúng khá tốt, chúng sẽ giảm bú
mẹ khi đợc cho ăn một lợng lớn các thức ăn khác. Vì vậy, ở bất cứ cộng đồng nào, thức ăn
bổ sung chế biến sẵn cũng đều không nên đợc coi nh một giải pháp duy nhất của chơng
trình thức ăn bổ sung [55].
Tiếp cận với thức ăn bổ sung đầy đủ là điều kiện cần thiết để cải thiện nuôi dỡng.
Những chơng trình nhằm cải thiện ăn bổ sung nên bao gồm những giải pháp để cải thiện sự

15
tiếp cận đối với thức ăn đầy đủ, sử dụng những nguồn đòi hỏi tối thiểu đối với sự chi trả,
chuẩn bị. Chúng có thể bao gồm những kỹ thuật mà có thể áp dụng ở gia đình hay ở
cộng đồng hoặc sản xuất công nghiệp qui mô lớn đối với thức ăn chế biến có tăng cờng
vi chất [45].
Cải thiện thực hành cho ăn bổ sung đòi hỏi sự chú ý đến khía cạnh thực phẩm cũng
nh hành vi ứng xử của ngời cho ăn. Thái độ cho ăn không phù hợp là một yếu tố quan trọng
góp phần vào SDD. Những ngời cho trẻ ăn thờng không nhận thấy điều quan trọng đó. Họ
cần sự trợ giúp từ những chuyên gia y tế hoặc nhân viên cộng đồng để đạt đợc những kỹ
năng và kiến thức cần thiết trong lĩnh vực này [45].
Giải pháp dựa và nguồn thực phẩm (food-based solutions) cho đến nay vẫn cha trở
thành một giải pháp phổ biến vì nó đòi hỏi thời gian, phức tạp vì đòi hỏi sự tham gia đa
ngành nhng chắc chắn sẽ là một giải pháp hiệu quả nhất trong việc giải quyết những vấn
đề dinh dỡng.
GDDD cũng đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện bữa ăn của ngời dân Một
cách đơn giản nhất là giúp ngời ta hiểu đợc những tơng tác của các chất dinh dỡng trong
tiêu hoá, chẳng hạn nh uống trà hay cà phê ngay sau bữa ăn sẽ làm giảm hấp thụ sắt GDDD

chống và cải thiện tình trạng dinh dỡng này có 5 hoạt động cơ bản: [ 81 ]
-

Khuyến khích sản xuất thực phẩm ở gia đình và cộng đồng
-

Giáo dục dinh dỡng cho bà mẹ và phụ nữ.
-

Hỗ trợ các gia đình vay vốn để sản xuất cải thiện kinh tế gia đình
-

Tăng cờng và bổ sung vi chất vào thực phẩm
-

Hỗ trợ thực phẩm
Mô hình cải thiện tình trạng dinh dỡng ở trẻ em dới 5 tuổi ở Inđônêsia từ năm 1993
dựa trên cách tiếp cận giải quyết vấn đề suy dinh dỡng ở cộng đồng trên cơ sở tăng cờng
năng lực cho mạng lới tình nguyện viên dinh dỡng, biết đánh giá tình trạng dinh dỡng của
trẻ, tìm hiểu nguyên nhân suy dinh dỡng và tìm các biện pháp cải thiện tình trạng dinh
dỡng. [ 81]
Những mô hình can thiệp dinh dỡng ở Bănglađét nơi có tỷ lệ suy dinh dỡng cao cho
đến nay vẫn tới 60%, đã triển khai nhiều mô hình phòng chống suy dinh dỡng. Đã có trên
100 chơng trình triển khai bởi các tổ chức quốc tế và NGOs để nhằm phát triển cộng đồng
và hạ thấp tỷ lệ suy dinh dỡng ví dụ chơng trình của tổ chức PPRDP, CCDB triển khai mô
hình hình hỗ trợ ngời dân vay vốn nhỏ phát triển kinh tế hộ gia đình ở 785 làng nhằm hạ
thấp tỷ lệ suy dinh dỡng. [57]

17
Những nớc ở châu Phi nh Ethiopia, Tanzania các mô hình can thiệp tập trung vào


giới.
Chính vì vậy trong trong tổng quan Những thách thức và triển vọng hạ thấp tỷ lệ
suy dinh dỡng trẻ em Việt Nam trong thời gian tới đã cho thấy tỷ lệ suy dinh dỡng ở nớc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status