BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-----------------
CÔNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
“NHÀ KINH TẾ TRẺ – NĂM 2010”
TÊN CÔNG TRÌNH:
NGÂN HÀNG CHO NGƯỜI NGHÈO - HƯỚNG ĐI CẦN
THIẾT NHẰM XÓA BỎ CHÊNH LỆCH GIÀU - NGHÈO
TẠI VIỆT NAM
THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ
2
TÓM TẮT CÔNG TRÌNH
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới. Đó là tin mừng đối
với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam. Tuy nhiên điều đó cũng dẫn đến một thực
trạng đáng lo ngại là sự mất cân bằng giàu - nghèo ngày càng cao. Và như vậy sẽ có một tỷ lệ
lớn người nghèo không được tiếp cận với hệ thống tài chính Việt Nam đang trong giai đoạn
phát triển. Sự chuyển dịch của lực lượng lao động từ nông thôn về khu trung tâm kinh tế lớn
cũng có xu hướng tiếp tục gia tăng. Chính vì vậy hệ thống TCVM ngày càng phát triển rộng
khắp toàn quốc nhưng phần lớn quy mô còn nhỏ, chưa đáp ứng nhu cầu của hầu hết người
nghèo. Việc đòi hỏi một hệ thống TCVM hoàn hảo là yêu cầu tất yếu của nền kinh tế phát
triển của Việt Nam vì hoạt động TCVM được xem là một công cụ hữu hiệu trong chiến lược
quy nạp, phương pháp nghiên cứu từ thực tiễn để khái quát những vấn đề mà đề tài nghiên
cứu. Về thu thập số liệu chúng tôi sử dụng 2 phương pháp:
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp thông qua thu thập các nguồn thông tin từ internet,
sách, báo, tạp chí chuyên ngành, các đề tài, dự án có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp thông qua phỏng vấn trực tiếp cơ sở tín dụng CEP và
chính quyền địa phương, phỏng vấn hộ gia đình có thu nhập thấp bằng bảng câu hỏi có sẵn
câu trả lời.
5. Đóng góp của đề tài:
Với sự phát triển của những hình thái kinh tế như hiện nay thì sự phân biệt giàu nghèo ngày
càng tăng. Đề tài của chúng tôi nghiên cứu và khảo sát tới thực trạng cho vay người nghèo của
các tổ chức tín dụng Việt Nam, cũng như nhu cầu của người dân nghèo đối với nguồn vốn tín
dụng. Như vậy, thứ nhất đề tài của chúng tôi sẽ mang tới cái nhìn khái quát nhất về sự cần
thiết phải có một định chế tài chính nhằm giúp người nghèo thoát nghèo một cách bền vững.
Thứ hai, chúng tôi cung cấp những giải pháp cùng những kiến nghị nhằm hiện thực hóa hơn
đề tài của mình. Chúng tôi hy vọng, nếu đề tài này được áp dụng một cách rộng rãi, khoa học
thì sẽ có tác dụng to lớn trong công cuộc xóa đói giảm nghèo hiện nay.
6. Hướng phát triển của đề tài
Chúng tôi sẽ nghiên cứu thêm những mô hình cho vay người nghèo khác trên thế giới nhằm
tích hợp những lợi điểm của những mô hình này cùng với việc mở rộng thêm phạm vi khảo sát
nhu cầu vốn tín dụng của người nghèo để hoàn thiện hơn nữa mô hình Grameen Bank khi áp
dụng tại Việt Nam.
4
MỤC LỤC
Tóm tắt công trình ..........................................................................................................2
Danh mục từ viết tắt ........................................................................................................6
Chương 1: Cơ sở lý luận................................................................................................7
2.2.3.1 Quỹ trợ vốn CEP. ..........................................................................30
2.2.3.2 Quỹ Tình Thương - Hội Liên hiệp Phụ nữ. ....................................35
2.2.3.3 Mạng lưới TCTCVM M7. .............................................................38
2.3 Khảo sát thực tế thực trạng vay vốn của các hộ gia đình.....................................41
2.4 Cơ hội và thách thức khi áp dụng mô hình Grameen Bank tại Việt Nam. ...........44
2.4.1 Cơ hội. ......................................................................................................44
2.4.2 Thách thức. ...............................................................................................48
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2. .............................................................................................50
Chương 3: Hướng tới xây dựng mô hình Grameen Bank cho phù hợp với điều kiện
Việt Nam...................................................................................................................... 52
1. Nhóm giải pháp cải tiến và nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình Grameen Bank
cho phù hợp với điều kiện ở Việt Nam. ........................................................................52
1.1 Giải pháp về khách hàng....................................................................................52
1.2 Giải pháp về sản phẩm - dịch vụ. .......................................................................53
1.3 Giải pháp về phương thức cho vay và hoàn trả...................................................56
1.4 Các giải pháp phòng ngừa rủi ro. .......................................................................58
2. Nhóm giải pháp cải thiện môi trường bên ngoài tác động đến mô hình Grameen Bank.59
2.1 Giải pháp thu hút vốn đầu tư..............................................................................59
2.2 Giải pháp về thông tin và công nghệ. .................................................................60
2.3 Thu hút và đào tạo nguồn nhân lực.....................................................................61
2.4 Liên kết với các tổ chức tư vấn về phương thức kinh doanh. .............................. 61
3. Một số kiến nghị........................................................................................................62
3.1 Kiến nghị về khung pháp lý cho hoạt động của TCTCVM. ................................62
3.2 Kiến nghị về môi trường kinh tế vĩ mô............................................................... 63
3.3 Kiến nghị với chính quyền địa phương, TCTCVM, người vay vốn. ...................64
3.4 Kiến nghị về mở rộng và cơ cấu lại hệ thống TCVM..........................................66
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3.............................................................................................. 68
Danh mục tài liệu tham khảo. ...........................................................................................I
Danh mục phụ lục .........................................................................................................III
Danh mục bảng .....................................................................................................XXVIII
Chương 1: Cơ sở lý luận.
7
Chương 1: Cơ sở lý luận
1. Giải thích các thuật ngữ liên quan.
TCVM: TCVM được coi là một phương pháp phát triển kinh tế nhằm mang lại lợi ích cho cư
dân thu nhập thấp (kể cả phụ nữ và nam giới). Thuật ngữ này đề cập đến dịch vụ tài chính cho
các khách hàng có thu nhập thấp, bao gồm cả những đối tượng làm ăn cá thể. Các dịch vụ tài
chính nói chung bao gồm tiết kiệm và tín dụng; tuy nhiên, một số TCTCVM cũng cung cấp
các dịch vụ như bảo hiểm và thanh toán. Cùng với các trung gian tài chính, rất nhiều
TCTCVM cung cấp các dịch vụ mang tính xã hội như hình thành tổ nhóm, phát triển tính tự
tin, và đào tạo các kiến thức về tài chính cũng như khả năng quản lý giữa các thành viên trong
một nhóm.
Do đó, định nghĩa TCVM thường bao gồm 2 yếu tố: trung gian tài chính và trung gian xã hội.
TCVM không đơn giản chỉ là công cụ ngân hàng, nó là một công cụ phát triển.
TCVM thường đề cập đến:
- Các khoản vay nhỏ, đặc biệt là các món vay để làm vốn luân chuyển.
- Thẩm định phi chính thức về người vay và các hoạt động đầu tư của họ.
- Các hình thức ký quỹ thay thế tài sản thế chấp như bảo lãnh nhóm và tiết kiệm bắt buộc.
- Vay nhiều lần và số tiền vay lớn dần dựa trên thực trạng hoàn trả vốn vay, giải ngân nhanh
gọn và giám sát.
- Các sản phẩm tiết kiệm an toàn và tạo sự tin tưởng cho người gửi tiền.
Các TCTCVM có thể là các tổ chức phi chính phủ, các tổ nhóm cho vay và tiết kiệm, các hiệp
hội tín dụng, các ngân hàng quốc doanh, các ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính
phi ngân hàng. Khách hàng của các TCTCVM thường là những người làm ăn cá thể điển hình,
- Các hình thức khác của tín dụng vi mô của các tổ chức phi chính phủ.
- Các hình thức khác của tín dụng vi mô không thế chấp, không phải của các tổ chức phi
chính phủ.
Phương pháp tiếp cận TCVM:
- Cho vay cá thể: cho vay cá thể là việc cung ứng tín dụng cho các cá nhân không phải là
thành viên của một nhóm cùng chịu trách nhiệm hoàn trả. Cho vay cá thể đòi hỏi sự liên hệ
thường xuyên và gần gũi với các khách hàng cá thể để cung cấp các dịch vụ tín dụng được
thiết kế theo nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp. Mô hình cho vay này đặc biệt thành công với
những doanh nghiệp sản xuất, ở thành thị, có quy mô lớn và có tài sản thế chấp hoặc có một
người bảo lãnh tự nguyện. Tại nông thôn, cho vay cá thể có thể cũng thành công với những
trang trại nhỏ.
Chương 1: Cơ sở lý luận.
9
- Cho vay theo nhóm tương hỗ Grameen: mô hình cho vay này được phát triển bởi Ngân
hàng Grameen của Bangladesh nhằm phục vụ những phụ nữ nông thôn, không có ruộng đất,
mong muốn tài trợ cho các hoạt động tạo thu nhập. Mô hình này khá phổ biến ở châu Á. Hội
tín thác Grameen có trên 40 mô hình mô phỏng tại châu Á, châu Phi và Mỹ La tinh. Khách
hàng đến từ vùng nông thôn và thành thị và thường là (nhưng không phải duy nhất) phụ nữ từ
các nhóm hộ có thu nhập thấp đang theo đuổi hoạt động tạo thu nhập.
- Cho vay theo nhóm tương hỗ Mỹ La Tinh: mô hình nhóm tương hỗ thường cho vay đến
từng thành viên trong các nhóm khoảng 4 đến 7 thành viên. Các thành viên bảo lãnh chéo cho
món vay để thay thế cho tài sản thế chấp truyền thống. Khách hàng thường là các chị em bán
hàng ở chợ, những người thường được vay những món nhỏ, ngắn hạn làm vốn lưu động. Mô
hình được phát triển bởi tổ chức ACCION International ở Mỹ La Tinh và đã được áp dụng bởi
nhiều TCTCVM.
- Ngân hàng làng xã: là các tổ chức tín dụng tiết kiệm do cộng đồng quản lý được thiết lập
nhằm cung ứng khả năng tiếp cận tới các dịch vụ tài chính ở vùng nông thôn, xây dựng 1
nhóm tự hỗ tại cộng đồng và giúp các thành viên tích lũy các khoản tiết kiệm. Mô hình được
phát triển vào những năm 80 bởi tổ chức Hỗ Trợ Cộng Đồng Quốc Tế. Số lượng thành viên
sư phụ giảng môn kinh tế học tại Đại học Middle Tennessee State trước khi quay trở về
Bangladesh, nơi ông giảng dạy tại Đại học Chittagong.
2.2 Ý tưởng xây dựng mô hình Ngân hàng Grameen.
Nạn đói khủng khiếp năm 1974 tại Bangladesh khiến hàng chục ngàn người thiệt mạng đã làm
cho Giáo sư Yunus phải để ý đến vấn đề XĐGN tại nước ông. Ý tưởng của ông phát sinh năm
1976, khi thăm một trong những ngôi làng nghèo ở Bangladesh, Yunus phát hiện ra rằng
những khoản cho vay nhỏ có thể tạo ra sự khác biệt khủng khiếp cho những người nghèo. Ông
đã thấy một ví dụ cụ thể trước mắt, một phụ nữ đẽo gọt những chiếc ghế tre, không có được lãi
vì cô ấy không có được tiền để mua nguyên liệu tre thô. Thay vào đó, cô vay cây tre từ một lái
buôn. Đổi lại, cô bán những chiếc ghế lại cho người buôn đó với giá chỉ 1 hoặc 2 xu nhiều hơn
giá nguyên vật liệu. Thành ra, cô làm việc như một nô lệ. Bao nhiêu tiền để đem đến tự do
kinh tế cho người phụ nữ đó? 25 xu! Ông Yunus lẩm nhẩm kế hoạch cho vay, vì ông luôn
chống lại chuyện cho không - nhưng ông trước tiên tìm hiểu xem có bao nhiêu người cần cho
vay? Nói chuyện với những hàng xóm, ông tìm ra tất cả 42 người. Và ông cho họ vay tại chỗ
27 đô la từ số tiền trong túi. Hạnh phúc đã đến với 42 phụ nữ khi họ thoát khỏi sự nô lệ và
nhục nhã về nhân phẩm, chỉ với sự giúp đỡ rất nhỏ về kinh tế. Và ông muốn tiếp tục giúp
Chương 1: Cơ sở lý luận.
11
những người nghèo. Ý tưởng về “tín dụng vi mô” những món tiền cho vay nho nhỏ nhưng
theo đúng quy tắc tín dụng phát sinh từ đó. Từ những ý tưởng này ông đã xây dựng nên mô
hình Ngân hàng Grameen.
2.3 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển.
Từ ý tưởng trên Yunus đã liên hệ với nhà băng mong được giúp đỡ. Nhưng nhà băng chẳng
giúp được gì. “Những người nghèo không có giá trị kinh tế gì để cho vay”. Không nản, ông
tìm cách thuyết phục nhà băng bằng cách nhóm những người nghèo lại để vay những khoản
nhỏ. Năm 1976, ông ký bảo đảm để vay một khoản 300 đô la cho họ. Ông Yunus tin rằng nếu
được cho cơ hội, người nghèo sẽ trả lại được tiền và TCVM sẽ sống sốt như một mô hình kinh
tế. Năm 1983, giáo sư Yunus được Ngân Hàng Trung Ương Bangladesh chấp nhận cho mở
Ngân hàng Grameen. Để đảm bảo việc hoàn vốn vay, ngân hàng sử dụng “nhóm đoàn kết”,
biết hãnh diện về giá trị của chính họ. Và, Grameen cũng đã đi tiên phong trong hoạt động
nâng cao địa vị của người phụ nữ trong một xã hội mà tư tưởng trọng nam khinh nữ đã ăn sâu
từ hàng nghìn năm nay.
Có thể nói ngân hàng thành công nhờ chính mục tiêu của mình:
- Mở rộng dịch vụ ngân hàng đến với người nghèo.
- Loại bỏ hình thức cho vay nặng lãi.
- Tạo cơ hội tự tạo việc làm cho những người thất nghiệp ở nông thôn Bangladesh.
- Kết hợp những phụ nữ nghèo vào những mô hình tổ chức phụ thuộc lẫn nhau, nơi mà họ có
thể hiểu và quản lý chính họ.
- Chuyển đổi từ chu kì lẩn quẩn “thu nhập thấp, tiết kiệm thấp, đầu tư thấp” thành chu kì tiến
bộ hơn “thu nhập thấp, bơm tín dụng, đầu tư, thu nhập cao hơn, tiết kiệm nhiều hơn, đầu tư
nhiều hơn, thu nhập nhiều hơn”.
2.4 Nguyên tắc hoạt động và vận hành của mô hình Grameen Bank.
Chúng ta có thể thấy nguyên tắc hoạt động của Ngân hàng Grameen khá đơn giản. Grameen
xây dựng cứ điểm ngân hàng nhỏ ở mỗi vùng dân nghèo. Tức ngân hàng ở ngay nơi người
nghèo có nhu cầu vốn. Mỗi ngân hàng nhỏ như vậy sẽ chỉ có vài nhân viên được huấn luyện
khoảng 6 tháng. Họ đi tìm người để cho vay, chứ không đợi người đến vay như ở các ngân
hàng thông thường. Họ đi điều tra nghiên cứu tình hình trong vùng, chọn đối tượng cho vay từ
những người cùng khổ nhất. Lập ra những tổ 5 người đối tượng vay, gồm những người không
có quan hệ bà con, ruột thịt với nhau, có thể là hàng xóm láng giềng. Trong quá trình huấn
luyện ban đầu, tổ 5 người này học hỏi cách thức của Ngân hàng Grameen, và học hỏi lẫn nhau
về việc vay vốn, kinh doanh, rồi lập kế hoạch, và hỗ trợ nhau thực hiện. Hai người nghèo nhất
Chương 1: Cơ sở lý luận.
13
được vay trước, mỗi tuần phải trả một phần nợ, tích lũy một phần khác, thường là 1% tiền lời,
còn lại cho thêm vào tiền vốn. Các người khác trong tổ giúp đỡ, động viên, kiểm điểm để việc
hoàn trả được thực hiện đều đặn. Khi hai người đầu tiên trả xong nợ, hai người tiếp theo sẽ
được vay. Và cuối cùng là tổ trưởng được vay. Khả năng tín dụng của mỗi người trong nhóm
bị ràng buộc lẫn nhau, nếu một người không trả nợ thì những người kia cũng bị ngưng cấp tín
của cải thì bạn càng có thu nhập cao.
- Dựa vào thế chấp
- Cho vay dựa vào việc đánh giá sở hữu vật
chất của một con người.
- Mục tiêu bao quát của ngân hàng là tăng
hết mức lợi nhuận, nên khách hàng của họ
chủ yếu là những người giàu. - Chi nhánh thường đặt gần khu vực
thương mại và trung tâm đô thị, thành thị.
- Luôn có ràng buộc pháp lý giữa người
cho vay và người vay.
- Khi người vay nợ quá hạn đã cam kết,
ngân hàng sẽ chuyển sang chế độ “phạt”.
- Khi một khách hàng gặp trở ngại, ngân
hàng lo lắng cho số tiền của họ, và cố gắng
hết sức để thu hồi tiền cho vay, bao gồm cả
việc tiếp quản tài sản thế chấp.
- Tiền lãi áp dụng trong trường hợp các
món nợ dồn quá hạn có thể tăng gấp đôi
tiền số tiền vay.
- Grameen không dựa trên nguyên tắc này.
- Không quan tâm đến hậu quả của việc
truy thu nợ khiến gia đình người vay sẽ ra
sao.
- Tính lãi suất theo lãi kép.
- Do người giàu làm chủ.
lãi thêm nữa.
- Quan tâm nhiều đến việc giám sát học
hành của trẻ em, chuyện nhà cửa, chuyện
vệ sinh, cách tiếp cận nguồn nước uống
sạch và khả năng chống đỡ thiên tai và các
trường hợp khẩn cấp của họ, giúp cho
người vay xây dựng quỹ hưu cho bản thân,
và các hình thức tiết kiệm khác.
- Tính lãi suất theo lãi đơn.
- Do người nghèo làm chủ.
Ngoài ra điểm nổi bật của hệ thống Ngân hàng Grameen so với các ngân hàng thông thường
còn được thể hiện bởi hệ thống tín dụng vi mô Grameen:
- Nó triển khai tín dụng như một nhân quyền.
- Nhiệm vụ của nó là giúp những gia đình nghèo tự giúp mình vượt qua đói nghèo. Nó hướng
vào người nghèo, đặc biệt là phụ nữ nghèo.
- Đặc điểm khác biệt của tín dụng Grameen là nó không dựa vào bất cứ hợp đồng thế chấp
hay cưỡng chế pháp lý nào. Nó dựa vào “sự tin tưởng”, không dựa trên các thủ tục và hệ thống
luật pháp.
- Nó được đưa ra để tạo nên sự tự tuyển dụng nhằm các hoạt động đem lại thu nhập và nhà
khuyến khích họ nghiêm túc chấp nhận và thi hành những điều này. Tín dụng này đặc biệt
nhấn mạnh đến nguồn vốn nhân lực và quan tâm đến việc bảo vệ môi trường. Nó giám sát việc
học hành của trẻ em, tặng học bổng và cho sinh viên vay để nâng cao giáo dục. Để hình thành
nguồn vốn nhân lực, nó nỗ lực đưa kỹ thuật vào ví dụ như điện thoại di động, năng lượng mặt
trời và quảng bá sử dụng lao động máy móc thay cho lao động chân tay.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1.
Mô hình Grameen Bank là một khái niệm còn khá mới mẻ đối với đại đa số người dân Việt
Nam. Trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay, việc vận dụng mô hình mới này để tạo ra những
sản phẩm thoả mãn nhu cầu của người dân nhất là những người nghèo là một vấn đề đáng
được quan tâm. Với những đặc điểm riêng có cùng những nguyên tắc hoạt động không giống
với mô hình ngân hàng truyền thống, mô hình Grameen Bank sẽ là một mô hình lý tưởng
trong chiến lược XĐGN của nước ta. Chương 2: Ứng dụng mô hình Grameen Bank tại Việt Nam.
17
Chương 2: Ứng dụng mô hình Grameen Bank ở Việt Nam
1. Thành quả của Grameen.
Được thành lập vào năm 1983 tại Bangladesh, Grameen giờ đây đã trở thành một trong những
tên tuổi nổi tiếng trong lĩnh vực ngân hàng trên thế giới. Có thể nói hiệu ứng Grameen không
chỉ có ở Bangladesh mà đã và đang lan rộng khắp châu Phi, châu Á, châu Mỹ La tinh, vùng
Trung Đông, mang lại ánh sáng thay đổi cuộc sống hàng triệu người dân nghèo. Mô hình
Grameen Bank hiện nay đang có mặt ở nhiều nơi trên thế giới nhưng trong giới hạn bài nghiên
cứu, chúng tôi chỉ đưa ra một số nước tiêu biểu để phân tích nhằm thấy rõ hơn thành tựu của
Grameen trên thế giới.
1.1 Ở các nước nghèo.
Ở các nước này, tỷ lệ người nghèo chiếm đa phần dân số. Việc tiếp cận nguồn vốn phục vụ
sản xuất kinh doanh nhằm cải thiện cuộc sống của họ rất khó khăn. Và Grameen Bank đã đến
như một phương thuốc hữu ích giúp họ thoát khỏi lối mòn nghèo đói.
1.2 Ở các nước đang phát triển.
Cũng như ở các nước kém phát triển, cuộc chiến chống đói nghèo vẫn không ngừng diễn ra
từng ngày ở các nước đang phát triển. Song song với mục tiêu phát triển kinh tế, Chính phủ
các nước này cũng đang tập trung vào mục tiêu xã hội hoá, xoá bỏ khoảng cách giàu nghèo.
Do đó rất cần một tổ chức tín dụng như Grameen giống như một giải pháp cho người nghèo ở
những nước này.
1.2.1 Trung Quốc.
Khác với các quốc gia khác, Trung Quốc là một minh họa điển hình trong công cuộc XĐGN
trong vòng 25 năm qua. Tỷ lệ đói nghèo trong số những người nghèo nhất, những người sống
dưới mức 1.25USD/ngày, đã giảm từ 85% đến 15.9 % từ năm 1981 đến năm 2005. Tuy nhiên,
nước này vẫn đang phải đối mặt với tình trạng nghèo đói dai dẳng. Dân số Trung Quốc theo
thống kê năm 2009 vào khoảng hơn 1.3 tỷ người trong đó 15.9% dân số sống trong cảnh
nghèo đói, thu nhập ít hơn 1.25$ /ngày, Ngân hàng Thế giới cung cấp dữ liệu cho thấy rằng
hơn 48% dân số Trung Quốc tiếp tục sống dưới mức nghèo khổ, thu nhập ít hơn 2.50
USD/ngày.
Năm năm trở lại đây, dịch vụ TCVM của Grameen đạt tối thiểu là 10 triệu người nghèo ở
Trung Quốc với ít nhất một nửa sinh sống tại các bộ phận nghèo Tây và Bắc của đất nước. Có
thể thấy rằng việc cung cấp dịch vụ TCVM của Ngân hàng Grameen vẫn chưa thấm tháp gì
đối với nhu cầu của người nghèo nước này, nhưng chúng ta không thể nào phủ nhận công sức
của Grameen trong công cuộc XĐGN trên thế giới. Bên cạnh đó giờ đây, chính phủ Trung
Chương 2: Ứng dụng mô hình Grameen Bank tại Việt Nam.
19
Quốc ngày càng quan tâm hơn tới sự tăng trưởng và mở rộng thị trường TCVM, tạo điều kiện
cho các tổ chức tín dụng vi mô thực hành và áp dụng rộng rãi TCVM, cung cấp các chính sách
hỗ trợ cho sự phát triển TCVM, tổ chức tài chính, đặc biệt là các ngân hàng nhà nước đã trở
nên ngày càng quan tâm đến TCVM…
Thấy được thực trạng TCTCVM cùng với việc phân tích kỹ lưỡng thị trường Trung Quốc,
Grameen Foundation hình thành ba lĩnh vực quan trọng thuộc chuyên môn của họ có thể tác
động ngay lập tức đến đói nghèo thông qua TCVM:
- Tạo điều kiện cho các TCTCVM tiếp xúc với các thông lệ quốc tế và học hỏi kinh nghiệm
nhằm tăng cường hoạt động quản lý tại tổ chức của mình.
Grameen Foundation đã giúp TCVM tiếp cận nhiều hơn với những người nghèo và nghèo nhất
ở Ấn Độ bằng cách: tạo điều kiện cho họ tiếp cận thuận lợi với TCVM và công nghệ ở khu
vực chưa được hoặc không được các tổ chức này phục vụ; thay đổi cách suy nghĩ về vai trò
của TCVM và công nghệ; tập trung hơn vào hoạt động xã hội; và cung cấp hỗ trợ tài chính và
kỹ thuật cho các tổ chức đang hoạt động tại các huyện nghèo nhất của Ấn Độ thông qua các
sản phẩm như bảo lãnh, quản lý nguồn nhân lực, và công nghệ…
1.3 Ở các nước phát triển.
Không chỉ phát triển ở những nước kém phát triển và những nước đang phát triển, tổ chức
Grameen còn phát huy vai trò to lớn của mình ở những nước phát triển. Bởi ở những nước
này, sự phân tầng giàu nghèo rất rõ rệt. Không những vậy, người nghèo còn rất khó khăn trong
việc tiếp cận với các tổ chức tài chính.
1.3.1 Mỹ.
Năm 2008, Chính phủ Mỹ vừa công bố bản báo cáo cho thấy, tỷ lệ nghèo đói tại Mỹ cao nhất
trong 11 năm qua, do đợt suy thoái kinh tế tồi tệ khiến hàng triệu người dân Mỹ mất việc làm.
Cũng theo Cục điều tra dân số Mỹ, năm 2008, tỷ lệ nghèo đói tăng hơn 13%, cao nhất kể từ
năm 1997. Gần 40 triệu người dân Mỹ sống trong nghèo đói, cao hơn so với con số 37.3 triệu
của năm 2007. Và trong đó, có hơn 14.1 triệu trẻ em dưới 18 tuổi sống trong điều kiện sinh
hoạt khó khăn, tăng gần 1 triệu so với năm 2007. Thu nhập trung bình thực tế của người dân
Mỹ giảm 3.6% cao nhất kể từ năm 1991. Nắm bắt tình hình này, Grameen đang triển khai mô
hình vi tín dụng ở Mỹ cũng để giúp những phụ nữ nghèo của quốc gia giàu nhất thế giới này
thoát khỏi cảnh sống khó khăn. Muhammad Yunus tin rằng sẽ có đất để chi nhánh Ngân hàng
Grameen ở Mỹ phát triển vì nhu cầu vi tín dụng ở đây rất lớn với 9 triệu hộ chưa từng vay vốn
ở các ngân hàng và 21 triệu gia đình thường chỉ sử dụng hình thức vay trả góp từng ngày hay
cầm đồ. Từ năm 2008, hoạt động vi tín dụng được Grameen triển khai cho 1.700 người ở New
Chương 2: Ứng dụng mô hình Grameen Bank tại Việt Nam.
21
York, chi nhánh đầu tiên tại Mỹ của Ngân hàng Grameen đã cho gần 600 phụ nữ có kế hoạch
22
tăng, và điều này đã đặt ra những vấn đề cần được quan tâm đối với các nhà làm chính sách và
các tổ chức an sinh xã hội.
Mức nghèo của Việt Nam tương đối cao, đặc biệt là ở vùng nông thôn và vùng ven đô thị.
Theo Ngân hàng Thế giới, năm 2007, 32.9% hộ gia đình sống dưới 2 USD/ngày (đã điều
chỉnh theo PPP). Căn cứ theo GDP, Việt Nam vẫn còn là một quốc gia nghèo với GDP/người
là 806 USD năm 2007. Nếu đánh giá trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang suy thoái từ đầu
năm 2007, đối với Việt Nam ảnh hưởng này đã làm suy giảm những thành quả đã đạt được
trong công cuộc giảm nghèo trong những năm gần đây. Những hoạt động kinh tế ở nhiều
thành phần của quốc gia cũng đã suy giảm đáng kể và đã gây khó khăn cho những người công
nhân và lao động nghèo trong việc tìm kiếm công ăn việc làm. Sự đói nghèo dai dẳng ở khu
vực nông thôn, đặc biệt là vùng núi phía Bắc và trong các cộng đồng dân tộc thiểu số ở các
bản làng hẻo lánh là những thách thức lớn đối với Chính phủ trong công tác giảm nghèo. Tỷ lệ
đói nghèo cao nhất là ở các vùng núi Tây Bắc (51.9%), vùng ven biển Bắc Trung Bộ (36.5%)
và Tây Nguyên (32.8%). Số người nghèo tập trung nhiều nhất ở vùng ven biển Bắc Trung Bộ
(0.30 triệu hộ), đồng bằng Sông Hồng (0.29 triệu hộ), đồng bằng sông Cửu Long (0.23 triệu
hộ), và miền núi phía Bắc (0.26 triệu hộ). Đồng bào dân tộc thiểu số mặc dù chỉ chiếm 13%
dân số Việt Nam nhưng lại chiếm tới 39% tổng số người nghèo của cả nước. Ở vùng núi phía
Bắc nơi người dân tộc thiểu số chiếm hơn 50% dân số trong vùng, thường trực tình trạng bất
ổn về lương thực và đói nghèo, do thu nhập và sản xuất nông nghiệp thấp, cũng như ít cơ hội
tìm được việc làm phi nông nghiệp do cơ sở hạ tầng phát triển kém.
Theo báo cáo do ActionAid Việt Nam và Oxfam thực hiện, trong 2 năm đầu (2006 - 2007)
thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo (NTP-PR) giai đoạn 2006 - 2010, tỷ
lệ hộ nghèo giảm bình quân mỗi năm là 3.6%. Nhưng đến cuối năm 2008 tỷ lệ hộ nghèo trên
cả nước còn 13%, chỉ giảm 1.8% so với cuối năm 2007 (Báo cáo giữa kỳ của Bộ Lao động –
Thương binh và Xã hội về Chương trình giảm nghèo 2009). Tỷ lệ nghèo giảm chậm, thậm chí
tăng lên tại một số nơi có nhiều nguyên nhân cùng tác động, nhưng chủ yếu là do các cú sốc
về giá cả bất lợi, thiên tai và tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới. Người nghèo ở
khu vực đô thị càng chịu ảnh hưởng bất lợi của việc làm bấp bênh, thu nhập thấp, trong khi giá
cả lương thực, thực phẩm và các nhu cầu thiết yếu khác vẫn ở mức cao.
đời sống khó khăn nên rất nhiều người muốn còn được thuộc diện nghèo mãi để còn nhận các
khoản hỗ trợ như như vay vốn ưu đãi, bảo hiểm y tế...
Chương 2: Ứng dụng mô hình Grameen Bank tại Việt Nam.
24
2.2 Thực trạng cho vay người nghèo của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam.
2.2.1 Ngân hàng Thương mại.
Nhìn chung, ở nước ta các Ngân hàng Thương mại chủ yếu tập trung cho vay đối với các đối
tượng có tài sản đảm bảo và có nguồn thu nhập ổn định. Tuy nhiên, trong phân khúc thị
trường rất rộng lớn còn lại, các Ngân hàng Thương mại và Ngân hàng nước ngoài đều không
muốn tham gia vào nhóm cho vay không chính thức, bởi tiểu thương nông thôn và những
người sản xuất nông nghiệp nhỏ, đặc biệt là người nghèo, được xem là những đối tượng rủi ro
cao. Hơn nữa, việc cổ phần hóa các Ngân hàng Quốc doanh và Ngân hàng Thương mại quốc
doanh có thể ảnh hưởng đến mục tiêu xã hội của các ngân hàng này và gạt bỏ những khách
hàng không sinh lợi như người nghèo. Bởi vì mục tiêu của họ là chính là lợi nhuận và chạy
theo lãi suất cạnh tranh.
Chúng ta cũng có thể thấy một thực trạng rất phổ biến ở các Ngân hàng Thương mại hiện nay
đó là xu hướng “lên đô thị, xa nông dân”. Các ngân hàng mới được thành lập thì càng xa khả
năng tiếp cận của người nghèo, cùng với các ngân hàng đã “rời bỏ” người nghèo trước đó, để
lại lỗ hổng rất lớn trong hoạt động TCVM. Hiện tại, hệ thống Agribank, VBSP và Quỹ Tín
dụng Nhân dân chiếm 85% dư nợ cho vay khu vực nông nghiệp, chứng tỏ các tổ chức tín dụng
khác tham gia cho vay khu vực này còn quá ít. Từ đó, mới có chuyện, ở các thành phố lớn,
khu vực đô thị, hàng loạt Ngân hàng Thương mại đua nhau mở thêm chi nhánh, phòng giao
dịch thì ở khu vực nông thôn, phần đông hiện nay chỉ có chi nhánh của Agribank, VBSP ở cấp
huyện và một vài phòng giao dịch ở các khu vực đông dân cư của hai ngân hàng này.
Thực tế, một số ngân hàng cũng tổ chức những chương trình xã hội nhằm hỗ trợ người nghèo.
Thế nhưng các chương trình đó cũng chỉ là hình thức nhằm đánh bóng tên tuổi cũng như
năm 2008. Điều này có thể thấy việc ngân hàng ngày càng chú trọng hơn đối với chính sách
XĐGN của Chính phủ. Chứng tỏ ngày càng có nhiều hộ nghèo được tiếp cận với nguồn vốn
của ngân hàng.
Tuy nhiên, nếu tính theo tỷ lệ % thì tỷ trọng dư nợ cho vay hộ nghèo giảm dần qua 5 năm
(2004 - 2008). Chúng ta có thể nhận thấy mặt tích cực cũng như mặt tiêu cực của vấn đề này.
Một mặt có thể thấy lượng khách hàng của Ngân hàng chính sách xã hội là hộ nghèo đang
giảm dần. Chứng tỏ, chính sách XĐGN của nhà nước đang ngày càng phát huy tác dụng. Số
hộ nghèo đang ngày càng giảm. Như phần phân tích tình hình nghèo chúng tôi đã có nêu, tỷ lệ
hộ nghèo đã giảm từ 18.1% (năm 2006) xuống còn 14.75% (năm 2007) và 12.1% (năm 2008)
và khoảng 11% vào cuối năm 2009. Nhưng mặt khác, tỷ trọng dư nợ cho vay hộ nghèo giảm
là do chúng ta vẫn dùng chuẩn nghèo cũ, nhiều hộ nghèo thoát nghèo nhưng vẫn không đủ