Nghiên cứu tình hình mắc bệnh tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện tam đảo tỉnh vĩnh phúc và các biện pháp khắc phục - Pdf 31

1

MỞ ĐẦU
Tiêu chảy là một bệnh hay gặp nhất ở trẻ em dưới 5 tuổi, bệnh lây lan
qua đường tiêu hóa. Bệnh thường gặp ở các khu dân cư có điều kiện sống
không đảm bảo, trình độ dân trí thấp, kiến thức về phòng chống tiêu chảy
cũng hạn chế. Theo WHO hàng năm trên thế giới có khoảng 750 triệu trẻ em
mắc bệnh tiêu chảy, trong số đó có 5 triệu trẻ em chết hầu hết số này mắc tập
trung ở các nước đang phát triển. Ở Việt Nam theo thông báo dịch năm 2007
tiêu chảy vẫn đứng thứ hai trong năm bệnh có số người mắc cao nhất sau
bệnh cúm.[2]
Tam Đảo là một huyện miền núi có đời sống kinh tế đang được nhà
nước chú trọng đầu tư. Tuy nhiên mặt bằng dân trí thấp, có số dân là 65,912
người trong đó dân tộc thiểu số là 25,226 người chiếm 38,27% (theo số liệu
thống kê năm 2003), cuộc sống gặp nhiều khó khăn điều này ảnh hưởng
không nhỏ tới sự phát triển toàn diện của trẻ em đặc biệt là trẻ dưới 5 tuổi.
Nguyên nhân trực tiếp gây ảnh hưởng lớn tới sự sinh trưởng và phát triển của
trẻ là môi trường mà trẻ em đang sinh sống và cách chăm sóc của cha mẹ và
điều đó đã khiến cho không ít trẻ mắc bệnh tiêu chảy.
Là một giáo viên, sinh viên ngành giáo dục mầm non tôi muốn góp một
phần nhỏ sức lực và trí tuệ của mình vào công tác này nên tôi đã chọn đề tài
“Nghiên cứu tình hình mắc bệnh tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi tại huyện Tam
Đảo tỉnh Vĩnh Phúc và các biện pháp khắc phục”

Mục đích nghiên cứu
Thông qua quá trình “Nghiên cứu tình hình mắc bệnh tiêu chảy ở trẻ em
dưới 5 tuổi tại huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh phúc”.
. Xác định tỷ lệ mắc tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi.
. Tìm ra nguyên nhân và các biện pháp khắc phục.



tầm vóc bệnh bằng cách thu thập thông tin dựa vào các điều tra trên cộng
đồng. Phương pháp này tốn thời gian và kinh phí hơn và trở thành thường quy
cho các quốc gia thành viên thực hiện chương trình kiểm soát bệnh tiêu chảy.
Phương pháp lấy mẫu trong các điều tra này là lấy mẫu cụm ngẫu nhiên. Do
đó, để hạn chế sai lầm chọn mẫu đòi hỏi phải tính đến tác động thiết kế
(design efect) trong việc xác định cỡ mẫu cho các điều tra trên cộng đồng.
Tầm vóc bệnh rất khác nhau ở các quốc gia, biên độ tỷ lệ mắc và chết khá
lớn. Trên cơ sở xem xét các số liệu của các công trình nghiên cứu về tỷ lệ
mắc và chết tiêu chảy đã được công bố từ năm 1980 đến nay, các tác giả cho
rằng nếu dùng số trung bình sẽ không mang lại tính đại diện, mà dùng số
trung vị sẽ mang tính đại diện hơn về tầm vóc của bệnh tiêu chảy trên thế
giới.[1]
Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu, đánh giá tác động của giáo
dục sức khoẻ lên bệnh tiêu chảy, y văn cho thấy có 3 công trình nghiên cứu
điển hình, một ở Bangladesh, một ở Mỹ và một ở Guatemala. Nghiên cứu ở


4

Bangladesh và ở Mỹ, giáo dục sức khoẻ tập trung lên hành vi rửa tay. Nghiên
cứu ở Guatemala tập trung lên các hành vi vệ sinh cá nhân và trong nhà.
Kế đó, là công trình nghiên cứu ở Dahaka (Bangladesh), Khan đã tiến
hành chọn các gia đình bệnh nhân cấy phân lỵ trực trùng dương tính. Các hộ
gia đình được phân phối ngẫu nhiên vào 4 nhóm : nhóm xà phòng nước,
nhóm nước và nhóm không được cung cấp gì cả. Lấy phân hậu môn của của
những người trong gia đình của 4 nhóm được lấy hàng ngày trong 10 ngày.
Chỉ số để đánh giá hiệu quả biện pháp can thiệp là tỷ lệ tấn công thứ phát.
Ở Atlanta (Mỹ), G.A Black và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu hiệu
quả của biện pháp rửa tay trên tỷ lệ bệnh mới bệnh tiêu chảy ở 4 trung tâm
sức khoẻ.

những nội dung quan trọng và cơ bản để khắc phục có hiệu quả căn bệnh tiêu
chảy.
Các công trình nghiên cứu trên là cơ sở quan trọng để các nghiên cứu
sau thành công hơn và mỗi công trình nghiên cứu sẽ có bước đột phá để làm
giảm tỷ lệ mắc căn bệnh này ở trẻ em các địa phương.[1]
2. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
2.1. Đặc điểm chung về sinh lý trẻ em
Cơ thể trẻ em là một cơ thể đang lớn lên và trưởng thành. Khái niệm
lớn lên chỉ sự phát triển về thể chất, khái niệm trưởng thành chỉ sự phát triển
về tinh thần vận động. Hai quá trình này liên quan chặt chẽ với nhau và phát
triển nhịp nhàng hài hoà qua nhiều giai đoạn. Mỗi giai đoạn có các đặc điểm
sinh lý khác nhau.
Hiện nay chưa có cách phân chia giai đoạn đồng nhất.
Trong tâm lý lứa tuổi và tâm lý giáo dục người ta thường dựa vào tiêu
chuẩn giáo dục học để phân chia giai đoạn phát triển.
Theo cách phân loại của Viện hàn lâm khoa học Giáo dục Liên Xô cũ
(Chỉ lấy đối tượng cần nghiên cứu) :


6

+ Giai đoạn sơ sinh
+ Giai đoạn bú mẹ
+ Giai đoạn vườn trẻ (1 – 3 tuổi)
+ Giai đoạn tuổi mẫu giáo (3 – 5 tuổi)
Đặc điểm sinh lý cụ thể các lứa tuổi như sau :
- Giai đoạn sơ sinh :
Thời kỳ sơ sinh bắt đầu từ lúc đứa trẻ mới sinh cho đến hết ngày thứ 10.
Đặc điểm của giai đoạn này là trẻ chuyển sang môi trường sống mới. Khi còn
nằm trong bụng mẹ đứa trẻ được tách biệt hoàn toàn với môi trường xung

quan của trẻ đang dần hoàn thiện. Đây cũng là thời kỳ trẻ mọc răng sữa. Bộ
máy tiêu hoá đang phát triển mạnh và hoàn chỉnh ở mức độ cao.[6]
2.2. Đặc điểm hệ tiêu hoá của trẻ em dưới 5 tuổi
Bộ máy tiêu hoá rất quan trọng nó có chức năng biến đổi thức ăn thành
chất liệu cho cơ thể để đảm bảo sự phát triển và lớn lên không ngừng cho đúa
trẻ. Bộ máy tiêu hoá của trẻ có một số đặc điểm riêng về giải phẫu, sinh lý
quan trọng để đáp ứng cho cuộc sống trong những năm đầu.
Đặc điểm giải phẫu :
- Răng miệng
Hốc miệng trẻ sơ sinh nhỏ vì xương hàm ít phát triển, hòn mỡ Bichat
tương đối lớn. Lợi có nhiều nếp nhăn giúp động tác bú được dễ dàng. Bú là
phản xạ bẩm sinh không điều kiện có trung tâm điều khiển ở thành tuỷ, đồng
thời có sự trợ giúp của các cơ môi, lưỡi, cơ nhai, tạo ra trong miệng trẻ có một
lực hút khi ngậm đầu vú và sau đó là giai đoạn nuốt tự động. Các phản xạ có
điều kiện (đụng chạm đầu vú vào mùi sữa) giúp cho phản xạ bú được dễ dàng.
Niêm mạc miệng mềm mỏng có nhiều mạch máu, tuyến nước bọt kém
phát triển nên niêm mạc dễ bị tổn thương dễ bị viêm, bị tưa do nấm.
Nước bọt không chứa men amylase và ptyalin nên không tiêu hoá được
tinh bột.


8

Tháng thứ 4 – 5 do kích thích mầm răng trẻ chưa biết nuốt có hiện
tượng chảy dãi. Trong nước bọt, lúc này có chứa nhiều amylase nên có thể
thuỷ phân tinh bột thành đường đơn. Trẻ 6 tháng tuổi bắt đầu mọc răng sữa và
đến 24 tháng thì kết thúc, 6 tuổi răng sữa được thay thành răng vĩnh viễn trẻ
cần được ăn đầy đủ các chất như vitamin A, C, D, phospho, K để răng được
chắc và phát triển tốt giữ vệ sinh tốt để tránh sâu răng cho trẻ.
- Thực quản

tuổi thì giảm 1 -2 ngày/lần.
Chức năng của bộ máy tiêu hoá của trẻ nhỏ chưa phát triển hoàn toàn và
đầy đủ nên trẻ bú mẹ sẽ hợp hơn, sữa được hấp thu tối đa và trẻ ít bị rối loạn
tiêu hoá. Do đó sữa mẹ là nguồn thức ăn tốt nhất đối với trẻ nhỏ. Bộ máy tiêu
hoá giúp trẻ có thể duy trì và phát triển nên khi bị rối loạn tiêu hoá nó sẽ là
bệnh của toàn cơ thể do đó khi trẻ bị tiêu chảy rất dễ kéo theo suy dinh dưỡng
và nặng có thể dẫn tới tử vong.[11]
3. TIÊU CHẢY VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN TỚI TIÊU CHẢY
Định nghĩa : Tiêu chảy là hiện tượng đi ngoài nhiều lần trong ngày, sự
tống phân nhanh và phân nhiều nước.
3.1. Dịch tễ học
- Sự lây lan các mầm bệnh tiêu chảy
Các tác nhân gây tiêu chảy thường truyền bằng đường phân – miệng
thông qua thức ăn hoặc nước uống ô nhiễm, hoặc tiếp xúc trực tiếp với phân
đã nhiễm khuẩn gây bệnh. Có một số tập quán tạo thuận lợi cho sự lan truyền
tác nhân gây bệnh như : không rửa tay sau khi đi ngoài, trước khi chế biến
thức ăn, để trẻ bò chơi ở vùng đất bẩn có dính phân người hoặc phân gia súc.
- Những tập quán làm tăng nguy cơ tiêu chảy :
+ Không nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 4 – 6 tháng đầu, tập
quán cai sữa trước 1 tuổi.


10

+ Cho trẻ bú chai.
+ Dùng các nước uống đã bị nhiễm vi khuẩn đường ruột.
+ Không rửa tay sau khi đi ngoài và rửa tay trước khi ăn.
+ Không xử lý phân một cách hợp vệ sinh.
- Các yếu tố vật chủ làm tăng tính cảm thụ với bệnh tiêu chảy :
Suy dinh dưỡng : Những trẻ suy dinh dưỡng thì bị tiêu chảy kéo dài và

Trước đây, các tác nhân gây bệnh được xác định trong phân khoảng
25% trường hợp tiêu chảy cấp. Ngày nay, với việc sử dụng các kĩ thuật mới
người ta có thể phân lập được các tác nhân gây bệnh khoảng 75% các trường
hợp tại các cơ sở điều trị và 50% các trường hợp tiêu chảy nhẹ tại cộng đồng.
Dưới đây là tác nhân quan trọng thường gặp ở tất cả các nước đang phát triển.
- Rotavirus.
- ETEC.
- Shigella.
- Campylobacter Jejuni.
- Cryptosporidia.
Ngoài ra, một số tác nhân khác có vai trò ở từng địa phương như
Vibrio Cholerae 01, Salmonella, ETEC (ở trẻ nhỏ bệnh viện). Nhiễm trùng
phối hợp hai tác nhân xảy ra trong khoảng 5 - 20% các trường hợp điều trị tại
cơ sở y tế. Một số khác cũng gây tiêu chảy cho trẻ em tại các nước đang phát
triển, nhưng tầm vóc của chúng hoặc là thấp, hoặc là chưa xác định rõ :
- Vius : Norwalk, adenovirus đường ruột.
- Vi khuẩn : Aeromonas hydrophila, E. coli bám dính (EAEC),
E.coli xâm nhập tế bào, E. coli gây huyết đường ruột, Plesiomnas
Shigelloides,

Cholerae

không

thuộc

nhóm

01,


xảy ra với lactose (trẻ thiếu men lactose) hoặc glucose (ở trẻ dung nạp
glucose). Nếu trẻ uống dung dịch hấp thu kém như loại dung dịch ưu trương
thì nước và một số chất điện giải sẽ từ ngoại bào và máu. Hiện tượng này làm
tăng khối lượng phân và điều quan trọng hơn là gây kiệt nước cơ thể do mất
nước. Do lượng nước mất nhiều hơn điện giải gây nên hiện tượng tăng Na
máu.[4][3]


13

3.3. Phân loại bệnh tiêu chảy theo WHO
Tiêu chảy thường được định nghĩa là đi tiêu phân lỏng hoặc tóe nước 3
lần thường đi mỗi ngày một vài lần phân nhão, đối với những trẻ này xác định
tiêu chảy thực tế là phải dựa vào tăng số lần hoặc tăng mức độ lỏng của phân
mà các bà mẹ cho là bất thường .
Người ta xác định 3 hội chứng lâm sàng khác nhau của tiêu chảy, thể
hiện 3 cơ chế bệnh sinh khác nhau.
3.3.1. Tiêu chảy phân lỏng cấp tính :
Thuật ngữ này nói đến bệnh tiêu chảy khởi đầu cấp, kéo dài không quá
14 ngày (thường dưới 7 ngày), phân lỏng hoặc tóe nước , không thấy máu.
Tiêu chảy phân lỏng cấp tính gây mất nước. Bệnh nhân có thể bị nôn và sốt.
Thức ăn đưa vào cơ thể giảm cũng góp phần gây suy dinh dưỡng. Tử vong
xảy ra do mất nước. Các tác nhân quan trọng gây bệnh ở trẻ em tại các nước
đang phát triển là Rotavirus, ETEC, Shigella, Campylobacter, Jejuni,
Cryptosporidia và ở một nơi còn gặp Vibrio Cholerae 01, Salmonnella và
Enteropathogenic Escherichia Coli (EPEC).
3.3.2. Hội chứng lỵ :
Đây là bệnh tiêu chảy có máu trong phân. Tác hại chính của lị gồm :
bệnh nhân chán ăn, sụt cân nhanh, niêm mạc bị tổn thương do sự xâm nhập
của vi khuẩn. Bệnh còn gây ra các biến chứng khác nữa.

thì tiêu chảy sẽ xảy ra.
Khi tiêu chảy xảy ra, sự hấp thu muối natri bị cản trở. Nhiều công trình
nghiên cứu cho thấy rõ ràng rằng sự hấp thu natri nếu có hiện diện của
glucose (phân hủy sucrose hoặc tinh bột nấu chín) sẽ tăng gấp 3 lần. Dựa trên
đặc điểm này mà các loại dịch bù trong tiêu chảy cần phải có hai chất muối
natri và đường glucose. Các chất điện giải quan trọng khác như bicarbonate,
citrate và kali được hấp thu độc lập với glucose trong tiêu chảy. Hấp thu
bicarbonate hay citrate làm tăng hấp thu natri và Clo.
3.4.2. Cơ chế tiêu chảy phân nước :


15

Tiêu chảy xuất tiết : Khi bài tiết dịch (muối và nước) vào lòng ruột
không bình thường sẽ gây ra tiêu chảy xuất tiết. Việc này chỉ xảy ra khi hấp
thụ Na  (ở nhung mao ruột bị rối loạn trong khi xuất tiết Cl  ở vùng hẽm
tuyến vẫn tiếp tục hay tăng lên. Sự bài tiết này gây nên mất nước và muối của
cơ thể qua phân lỏng.
Tiêu chảy thẩm thấu: Niêm mạc ruột non được lót bởi lớp liên bào bị
“rò rỉ” nước và muối được vận chuyển qua lại rất nhanh để duy trì sự cân
bằng thẩm thấu giữa lòng ruột và dịch ngoại bào. Vì vậy tiêu chảy thẩm thấu
xảy ra khi ăn một chất có độ hấp thu kém và độ thẩm thấu cao.
3.4.3. Hậu quả tiêu chảy phân nước.
Phân khi bị tiêu chảy chứa một số lượng lớn Na  , Cl  ,K  và
bicarbonate. Mọi hậu quả cấp tính do tiêu chảy phân nước là do mất nước,
điện giải càng tăng thêm nếu có nôn và sốt. Tất cả sự mất mát này gây mất
nước (do mất nước và NaCl), gây toan chuyển hóa (do mất bicarbonate) và
thiếu kali. Tuy nhiên điều nguy hiểm nhất vẫn là mất nước vì gây giảm lưu
lượng tuần hoàn, trụy tim mạch, tử vong nếu không điều trị ngay.[7][10]
3.5. Các rối loạn do tiêu chảy :



16

Nhận xét :
Mất nước nhẹ gây khát, mệt mỏi, cáu kỉnh, giảm độ căng của da, mắt
trũng thóp trũng. Mất nước nặng có thể gây sốc tuần hoàn: Giảm nhận thức,
tiểu ít, chi lạnh và ẩm, mạch nhanh và yếu (có khi không bắt được), huyết áp
thấp hoặc không đo được, chứng xanh tím và có thể dẫn đến chết nếu mất
nước nhanh chóng.
3.5.2. Rối loạn cân bằng điện giải :
- Tăng Na huyết (bình thường 135 – 145mmol/lL)
- Giảm Na huyết
- Giảm K huyết (bình thường 3,5 – 5,0 mmol/L )
Điều trị bằng Oresol
3.5.3. Kém hấp thu dinh dưỡng
3.5.4. Sốt
Do nội độc tố vi khuẩn, sự tổn thương niêm mạc ruột. Sự mất nước
nghiêm trọng hay nhiễm khuẩn ngoài ruột như kí sinh trùng sốt rét, viêm phổi
cũng có thể gây sốt.
Sốt từ 38  C trở lên hay có tiền sử sốt trong 5 ngày vừa qua, đi tới vùng
dịch tễ sốt rét nên được kiểm tra kí sinh trùng sốt rét.
Sốt cao từ 39  C trở lên nên được hạ sốt nhanh bằng paracetamol. Sự hạ
sốt cũng làm tăng sự ngon miệng và giảm sự cáu kỉnh.
3.5.5. Co giật
Co giật do sốt : Đặc biệt khi nhiệt độ vượt quá hoặc tăng rất nhanh. Trị
sốt bằng Paracetamol. Lau người bằng nước ấm và để khô tự nhiên cũng có
thể áp dụng nếu nhiệt độ vượt quá 39  C. Có thể đánh giá thêm tình trạng
viêm màng não.
Do hạ đường huyết


Sờ véo da

- Mất nhanh

- Mất chậm

- Mất rất chậm

Quyết định

- Không có dấu mất - Nếu có  2 dấu - Có  2 dấu hiệu
nước

hiệu mất nước nhẹ mất nước nặng
hoặc trung bình

Điều trị

Sử dụng phác đồ A

Sử dụng phác đồ B Sử dụng phác đồ C

3.6.2. Đánh giá những vấn đề khác của bệnh nhi : Lỵ, tiêu chảy kéo
dài, suy dinh dưỡng.
3.6.3. Xét nghiệm :
- Soi phân: Nếu thấy hồng cầu và bạch cầu đa nhân trung tính chứng tỏ
nhiễm vi khuẩn xâm nhập như Shigella. Nếu thấy kén hoặc đơn bào Giardia
hoặc E.histolitica chứng tỏ chúng là nguyên nhân gây bệnh.
- Cấy phân và kháng sinh đồ.

- Sau bốn giờ đánh giá lại bảng đánh giá rồi chọn phác đồ A hay B hay
C để điều trị tiếp.
3.7.3. Phác đồ C : Điều trị bệnh nhân mất nước nặng.
- Bảng 3. Truyền tĩnh mạch dung dịch Ringer lactat 100ml/kg chia số
lượng và thời gian như sau :
Tuổi

Lúc đầu cho 30ml/kg

Sau đó truyền 70 ml/kg

trong

trong

Trẻ nhỏ < 12 tháng

1 giờ

5 giờ

Trẻ lớn hơn

30 phút

2 giờ 30 phút


19


20

- Chế độ ăn nhiều chất xơ.
- Tránh các đồ uống thương mại, soda hay nước uống có nhiều đường
như: Trà đường để tránh kéo dịch vào lòng dịch làm nặng thêm bệnh tiêu
chảy, cà phê.
- Việc cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng là cần thiết: Nên uống sữa, ăn
các thực phẩm như ngũ cốc, rau, thịt, cá, trứng, trái cây tươi rửa sạch, thức ăn
giàu kali như chuối, multivitamin và khoáng chất.
3.8.1. Nuôi dưỡng trong khi bi tiêu chảy
Bảng 4. Nuôi dưỡng khi trẻ bị tiêu chảy
Nuôi dưỡng trước
khi tiêu chảy

0 – 3 tháng

4 -5 tháng

Bú mẹ

Tiếp tục

Sữa động vật

Tiếp tục nhưng Tiếp tục nhưng pha Tiếp tục cho ăn như

Sữa công nghiệp

pha loãng 1/2 loãng 1/2 trong 2 thường.
trong 2 ngày.

kéo dài hơn thời gian cho ăn thêm bữa phụ cho tới khi tình trạng suy dinh
dưỡng được khắc phục.


21

3.8.3. Những sai lầm trong điều trị tiêu chảy ở trẻ
- Hạn chế cho bé uống nước vì sợ uống nhiều thì lại tiêu chảy nhiều.
- Uống thuốc cầm tiêu chảy (loperamip).
- Cho bé ăn cháo trắng với muối, không cho trẻ bú mẹ.
- Tự mua thuốc cho bé uống.
Từ tất cả sự thiếu hiểu biết trên dẫn tới trẻ mất nước, chất điện giải và
suy dinh dưỡng nặng có thể dẫn tới tử vong.
3.9. Thuốc kháng sinh và các thuốc khác trong tiêu chảy :
3.9.1. Kháng sinh
Kháng sinh không được cho một cách thường quy trong tiêu chảy cấp.
95% các trường hợp tiêu chảy ở trẻ em được điều trị thành công chỉ bằng bù
dịch bằng đường uống và cho ăn. Kháng sinh được chỉ định cho trong lị do
Shigella và trong tả.
- Lị trực trùng : Chọn loại thuốc đang còn đáp ứng với vi khuẩn ở tại
địa phương Cotrimoxazol (Bactrim): 50mg/kg/ngày chia 2 lần trong 5 - 7
ngày hoặc Acid Nalidixic (Negram): 50mg/kg/ngàytrong 5 – 7 ngày.
- Tả : Tetracylin 30mg/kg/ngày trong 3 ngày hoặc Erythromcin 30 –
40mg/kg/ngày trong 3 ngày.
3.9.2. Thuốc chống kí sinh trùng
Trong tiêu chảy có thể sử dụng những thuốc để điều trị một số bệnh
nhiễm trùng khác như viêm phổi, viêm màng não mủ, viêm tai giữa hay sốt
rét. Chỉ điều trị lỵ míp khi điều trị lỵ Shigella không khỏi hay thấy trong phân
có đơn bào míp ăn hồng cầu. Điều trị trùng roi (Giardia) khi tiêu chảy kéo dài
trên 14 ngày và có kén hay đơn bào trùng roi ở trong phân. Điều trị Giardia:

múc nước không chạm tay vào nước.
+ Sử dụng nước đã đun sôi cho trẻ uống và chế biến thức ăn. Nước chỉ
cần đun sôi chứ không cần đun sôi kéo dài.


23

+ Chất lượng nước dự trữ trong gia đình có thể ảnh hưởng tới tỷ lệ trẻ
mắc bệnh tiêu chảy. Nếu có thể thì để một lượng nước lớn sử dụng cho vệ
sinh, còn nguồn nước sạch nhất thì chứa riêng để sử dụng làm nước uống
hoặc để chế biến thức ăn.
(3) Rửa tay thường quy
Tất cả các nguyên nhân gây tiêu chảy được truyền bằng tay khi bị
nhiễm bẩn phân. Nguy cơ của tiêu chảy đi khi thành viên trong gia đình thực
hành rửa tay. Tất cả thành viên trong gia đình cần phải rửa tay thật sạch sau
khi đi ngoài, sau khi cho trẻ đi ngoài, sau khi dọn phân cho trẻ, trước khi
chuẩn bị thức ăn và trước khi ăn. Rửa tay sạch đòi hỏi phải sử dụng xà phòng
hoặc chất thay thế sẵn có trong vùng như tro, có nước để rửa tay thật kĩ.
(4) Thực phẩm an toàn
Thực phẩm dễ nhiễm các tác nhân gây tiêu chảy trong tất cả các khâu từ
sản xuất đến chế biến thức ăn bao gồm : nuôi trồng có sử dụng phân tươi,
mua bán nơi công cộng (chợ), chế biến thức ăn tại nhà hoặc quán ăn và bảo
quản thức ăn sau chế biến.
Thực hành an toàn vệ sinh thực phẩm cá nhân cũng cần được nhấn
mạnh. Khi tuyên truyền giáo dục sức khỏe cũng cần tập trung vào thông điệp
chính về chế biến và sử dụng thực phẩm.
+ Không ăn thực phẩm sống, trừ những loại rau quả đã đã bóc vỏ và
phải ăn ngay.
+ Rửa tay kĩ với xà phòng sau khi đi ngoài và trước khi chế biến thức
ăn hoặc ăn.

Vacxin thương hàn được chỉ định trong vùng có dịch. Các chỉ định cụ
thể sẽ được chương trình tiêm chủng ở địa phương khuyến cáo.[10]


25

4. THỰC TRẠNG VÀ CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG BỆNH TIÊU
CHẢY Ở HUYỆN TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC
4.1. Hình thành thói quen vệ sinh
Ảnh hưởng về mặt sức khỏe của việc không đủ hệ thống vệ sinh là rõ
ràng và làm tăng chi phí chăm sóc cho khoảng 3 tỷ người đang sống trong
điều kiện thiếu vệ sinh. Trẻ em là đối tượng dễ bị tấn công nhất và hàng năm
có khoảng 2 triệu trẻ em chết vì bệnh tiêu chảy. Ban chủ nhiệm và các cơ
quan y tế, trường học và gia đình trẻ có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ
sức khỏe trẻ em. Thông qua việc đảm bảo môi trường sống lành mạnh và
cung cấp cho các bậc cha mẹ những kiến thức cần thiết để phòng chống bệnh
tiêu chảy.
Ở các nước đang phát triển, tình trạng vệ sinh trong các địa phương và
các trường mầm non còn thấp kém. Do còn thiếu các công trình vệ sinh và do
nhận thức còn kém. Nguyên nhân này kiến cho số trẻ ở các nước đang phát
triển có tỷ lệ mắc tiêu chảy cao.
Sự đầu tư cải thiện nâng cao điều kiện vệ sinh trường nơi trẻ đang sinh
sống sẽ có nhiều ưu việt. Các cơ quan ban ngành và nhà trường mầm non có
một vai trò quan trọng trong việc truyền đạt thông tin tới cha mẹ trẻ em và
giáo dục thói quen vệ sinh cho trẻ thông qua việc dạy các tiết học theo chủ
điểm. Đồng thời tạo một hình mẫu trong cộng đồng. Trẻ em dễ dàng hơn
trong việc thay đổi thói quen và tiếp nhận cái mới và cũng có thể gây ảnh
hưởng đến những thói quen thực hành vệ sinh của cả người lớn và trẻ em
khác trong gia đình. Qua đó cộng đồng đã quan sát và chấp nhận thực hành
những thói quen hợp vệ sinh. Hơn nữa chúng ta không quên được rằng trẻ em


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status