1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tiêu chảy là một trong những bệnh lý có tỷ lệ mắc cũng như tử vong rất
cao, đặc biệt ở các nước đang phát triển như Việt Nam.
Theo thống kê của Tổ Chức Y Tế Thế Giới, cùng với nhiễm khuẩn hô
hấp cấp tính, tiêu chảy là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh và
tử vong trẻ em trên toàn thế giới. Hàng năm ước tính vẫn còn 1,3 tỷ lượt trẻ em
dưới 5 tuổi bị tiêu chảy, và không dưới 3,5 triệu trẻ tử vong vì tiêu chảy. Trung
bình mỗi trẻ dưới 5 tuổi mắc từ 3,3 – 9 đợt tiêu chảy trong 1 năm [41]
Trong những năm gần đây ở Việt Nam tình hình bệnh tiêu chảy có chiều
hướng gia tăng. Đáng chú ý là các tỉnh phía Bắc, dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm
được phát hiện ngày ngày 23/10/2007, bắt đầu ờ Hà Nội và chính thức được
công bố thành dịch từ ngày 31/10/2007. Hiện nay dịch đã lây lan đến 7 tỉnh
thành như Hà Tây, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Ninh, Hưng Yên và
Thái Bình. Theo Thứ Trưởng Trịnh Quân Huấn có rất nhiều nguyên nhân gây
tiêu chảy cấp như nhiễm vi rút, khuẩn nhiễm độc từ thức ăn, nhiễm khuẩn lỵ,
E.coli, vi khuẩn tã với 1 – 1,2 triệu ca mỗi năm trên cả nước. Còn riêng ở tỉnh
Sóc Trăng có 24.255 ca mắc và ở thành phố Sóc Trăng có 3.124 ca mắc năm
2007 [31]. Ngoài vấn đề tỷ lệ mắc và tử vong cao bệnh tiêu chảy còn là nguyên
nhân hàng đầu gây suy dinh dưỡng, chậm phát triển về tịnh thần, thể chất, tạo
điều kiện thuận lợi cho sự xâm nhập của các bệnh nhiễm trùng khác [2].
Việc điều trị và dự phòng bệnh tiêu chảy không phải là nhiệm vụ riêng
của ngành y tế mà cần có sự hợp tác chặt chẽ của các ban, ngành, đoàn thể và
đặc biệt là các bà mẹ có con dưới 5 tuổi vì đây là người trực tiếp chăm sóc cho
con mình. Thành phố Sóc Trăng có 10 phường, được bao quanh bởi hệ thống
2
kênh rạch chằng chịt bị ô nhiễm trầm trọng nên tiêu chảy vẫn còn là một vấn đề
cần phải quan tâm [31].
Việc điều trị một bệnh chỉ được giải quyết một cách triệt để khi cá nhân
đó nhận ra những gì cần phải làm để thay đổi hành vi sức khỏe có hại do chính
mình gây ra. Muốn thực hiện có hiệu quả công tác phòng bệnh tiêu chảy cho trẻ
tiêu chảy và sốt rét là nguyên nhân gây 45% trong số 10,6 triệu ca tử vong ở trẻ
em dưới 5 tuổi mỗi năm trên thế giới. Trong đó 18% các ca tử vong do những
căn bệnh tiêu chảy gây nên. Do đó TCYTTG đã đưa ra mục tiêu là giảm 2/3 tỉ
lệ tử vong từ năm 1990 đến năm 2015. Để đạt được mục tiêu này , cần phải nỗ
lực “ Phòng ngừa và kiểm soát những căn bệnh viêm phổi, tiêu chảy và sốt rét
ở tất cả các vùng thuộc tổ chức TCYTTG” [13], [27].
Tại Việt Nam, số ước tính cho một trẻ dưới 5 tuổi bị tiêu chảy trong 1
năm là 0,8 lần so với trẻ 5 - 15 tuổi chỉ 0,2 lần tiêu chảy. Trình độ học vấn của
bố mẹ có ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe của trẻ em, đặc biệt trẻ em dưới 5
4
tuổi vì người có hiểu biết về cách nuôi con, phòng bệnh và phát hiện bệnh sớm
sẽ giúp giảm bệnh tật cho con. Tuy nhiên bố mẹ có trình độ cao thường nhạy
cảm hơn với bệnh tật ở con của họ và có thể khai bệnh nhiều hơn so với người
có trình độ thấp. Tiêu chảy có tương quan rõ với trình độ học vấn của mẹ.
Trình độ càng cao thì tỷ lệ con bị tiêu chảy càng ít [7].
Mức sống càng cao, tỷ lệ trẻ em bị tiêu chảy càng thấp. Với kết quả
nghiên cứu này có thể thấy rằng đối với chương trình CDD cần phải tập trung
nhiều hơn cho nhóm trẻ em có bố mẹ trình độ thấp và nghèo [7].
Trẻ bị bệnh tiêu chảy có liên quan chặt chẽ với vấn đề vệ sinh, môi
trường đất và nước. Tỷ lệ trẻ em bị tiêu chảy thấp ở nhóm có điều kiện nước
sạch, vệ sinh thuận lợi và cao hơn ở nhóm thiếu điều kiện vệ sinh [34].
Khoảng 80-90% các trường hợp tử vong do bệnh tiêu chảy đều xuất phát từ
điều kiện vệ sinh kém [12].
Trẻ em dễ bị tiêu chảy, và khi bị tiêu chảy rất dễ thiếu nước và mất các
vi chất. Khi trẻ em bị tiêu chảy phải cho uống Oresol (ORS) hoặc nước, cháo
muối loãng, súp, hoa quả để bù nước và muối. CDD đã tuyên truyền nhiều về
cách pha ORS. Có tới 62,7% các hộ gia đình có nghe tuyên truyền về phòng
chống tiêu chảy nhưng chỉ có 44,2% các bà mẹ biết cách pha ORS đúng [4].
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả Lê Hoàng Ninh qua khảo sát Kiến
thức, Thái độ, Thực hành (KT-TĐ-TH) của các bà mẹ trong việc xử lý bệnh
+ Tiêu chảy hay xảy ra nhất ở trẻ em, đặc biệt là trẻ từ 6 tháng đến 2
tuổi, cũng thường gặp ở trẻ dưới 6 tháng ăn sữa công nghiệp hay ăn các hỗn
6
hợp thức ăn cho trẻ em. Số lượng đi ngoài nhiều nhưng phần lớn không phải
dạng tiêu chảy.
+ Những trẻ được bú mẹ thường đi ngoài phân nhão, nhưng phân có màu
và mùi bình thường, không phải là tiêu chảy.
+ Tiêu chảy nguy hiểm vì hai nguy cơ chính của tiêu chảy là chết và suy
dinh dưỡng.
Ở trẻ suy dinh dưỡng thường bị tiêu chảy, ngược lại tiêu chảy thường
gây suy dinh dưỡng và có thể làm cho suy dinh dưỡng nặng hơn vì :
+ Trong tiêu chảy các chất dinh dưỡng trong cơ thể mất đi.
+ Trẻ bị tiêu chảy thường ăn không ngon miệng.
+ Bà mẹ có thể không cho trẻ bị tiêu chảy ăn càng sớm càng tốt khi
chúng muốn ăn.
Để làm giảm suy dinh dưỡng phải cho trẻ bị tiêu chảy ăn càng sớm càng
tốt khi chúng muốn ăn [30].
1.3. PHÂN LOẠI TIÊU CHẢY
Tiêu chảy được phân loại tuỳ thuộc vào thời gian của nó, một đợt tiêu
chảy kéo dài ít hơn 2 tuần là tiêu chảy cấp, tiêu chảy kéo dài 2 tuần còn gọi là
tuêu chảy kéo dài [6].
Ngày nay, người ta xác định ba hội chứng lâm sàng khác nhau của tiêu
chảy gồm:
- Tiêu chảy phân lỏng cấp tính: gồm các trường hợp khởi bệnh cấp tính,
kéo dài dưới 14 ngày.
- Hội chứng lỵ: gồm các trường hợp tiêu chảy phân có đàm máu.
7
- Tiêu chảy kéo dài: gồm các trường hợp khởi đầu với tiêu chảy cấp tính
rồi rồi kéo dài trên 14 ngày.
1.4. DỊCH TỄ HỌC BỆNH TIÊU CHẢY
- Cho trẻ bú sữa bình: Khi cho sữa vào một bình không sạch thì sẽ bị ô
nhiễm, nếu trẻ không bú hết sữa trong bình thì sự phát triển của vi khuẩn sẽ xảy
ra. Theo nghiên cứu của Bùi An Bình cho thấy trẻ bú bình có nguy cơ tiêu chảy
hơn trẻ ăn bằng chén thìa là 26,66% [2].
- Không rửa tay sau khi đi ngoài, sau khi xử lý phân và trước khi chuẩn
bị thức ăn: Thói quen rửa tay là một hành vi tốt bảo vệ sức khỏe chung, đặc
biệt có hiệu lực đối với việc phòng bệnh tiêu chảy [26].
- Không xử lý phân (đặc biệt là phân trẻ nhỏ) một cách hợp vệ sinh:
nhiều người thường cho rằng phân trẻ em là không nguy hiểm, nhưng thực ra,
chúng chứa nhiều virus và vi khuẩn gây bệnh. Phân súc vật cũng chứa nhiều vi
sinh vật có thể truyền bệnh cho người.
1.5. NGUYÊN NHÂN CỦA TIÊU CHẢY
1.5.1. Rotavirus
Rotavirus gây tiêu chảy là nhiễm trùng phổ biến ở trẻ em dưới 1 tuổi,
chiếm 12-15% các trường hợp. Nó là tác nhân quan trọng nhất gây tiêu chảy
nặng và đe doạ tính mạng trẻ em dưới 2 tuổi trên toàn thế giới. Ở các nước phát
triển có 35-52% trẻ em bị tiêu chảy cấp do Rotavirus. Ở các nước đang phát
9
triển Rotavirus là nguyên nhân hàng đầu gây tiêu chảy cấp và tử vong cho trẻ
em dưới 5 tuổi [8]. Khoảng 1/3 số trẻ dưới 2 tuổi bị bị ít nhất 1 đợt tiêu chảy do
Rotavirus, nó có khả năng lây lan trực tiếp từ người [10].
1.5.2. ETEC (Enterotoxigenic Escherichia coli)
ETEC chiếm 10-20% các trường hợp. Nó là tác nhân quan trọng gây tiêu
chảy cấp toé nước cả trẻ em và người lớn tại các nước đang phát triển, ETEC
lây lan chủ yếu qua nước và thực phẩm bị ô nhiễm [29].
1.5.3. Shigella
Shigella chiếm 5-15% các trường hợp. Nó là tác nhân quan trọng nhất
gây bệnh lỵ, đã được tìm thấy trong khoảng 60% các đợt lỵ Shigella lây lan chủ
yếu trực tiếp từ người. trong hầu hết các đợt lỵ nặng, có thể xuất hiện phân toé
nước.
là 3 giờ một lần ).
+ Nếu trẻ không được bú mẹ, thì nên cho trẻ uống sữa ít nhất 3 giờ một
lần.
- Uống bao nhiêu?
Việc làm trước tiên là cho trẻ uống nhiều hơn bình thường ngay khi trẻ bị
tiêu chảy. Theo hướng dẫn, cho trẻ dưới 2 tuổi khoảng 50 - 100 ml (1/2-1/4 cốc
11
to) dung dịch trên sau mỗi lần đi tiêu lỏng. Cho trẻ lớn uống 1/2 – 1 cốc to.
Người lớn uống thoải mái khi họ muốn uống.
- Tại sao phải uống ?
Mục đích của việc uống nhiều nước là để bù vào lượng dịch đã mất khi
bị tiêu chảy và đề phòng sự mất nước tiếp tục.
1.6.2. Tiếp tục cho trẻ ăn
- Những thức ăn gì:
Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ nhỏ. Cần tiếp tục cho trẻ bú mẹ và
tăng số lần bú trừ trường hợp đặc biệt mới phải dùng các loại sữa công nghiệp
để thay thế.
Nếu trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên có thể cho ăn bột hoặc hỗn hợp các loại
đậu với rau cải, trứng và thịt cá. Nên cho thêm dầu vào để làm thức ăn có
nhiều năng lượng hơn. Nước ép rau quả và chuối tươi cũng cần vì chúng chứa
kali (không nên cho trẻ uống nước giải khát công nghiệp vì chúng có thể làm
tăng tiêu chảy).
- Cho ăn bao nhiêu?
Cần khuyến khích trẻ ăn càng nhiều càng tốt. Thường cho trẻ nhỏ ăn 3- 4
giờ một lần (6 lần /ngày) hoặc nhiều hơn. Cho ăn ít một, nhiều lần là tốt nhất để
trẻ dễ tiêu hóa và dễ ăn hơn.
Sau khi đã khỏi tiêu chảy, hãy thêm mỗi ngày một bữa trong hai tuần.
Thức ăn thêm này sẽ giúp lấy lại được cân nặng đã mất đi trong lúc bị tiêu
chảy. Trẻ suy dinh dưỡng cần được tiếp tục cho ăn thêm như thế cho đến khi
lấy lại được cân nặng trước khi bệnh hoặc đạt tỉ lệ cân nặng theo chiều cao bình
Thành phố Sóc Trăng là vùng đồng bằng, nông thôn với tổng diện tích
chung là 76,1 km
2
[8], gồm 10 phường, phân chia theo ranh giới địa chính có
25.127 hộ, dân số 127.003 người. Toàn thành phố có khoảng 9.359 bà mẹ có
con dưới 5 tuổi.
- Về địa chính: khoảng 1/4 dân cư sống trên trục đường Quốc lộ 1A,
khoảng 1/2 là nông thôn và 1/4 dân cư là nơi định vị các chợ Trung tâm và đó
cũng chính là Trung tâm Thương mại của thành phố Sóc Trăng.
- Về kinh tế - xã hội: khoảng 1/4 cán bộ nhà nước, 1/2 làm nông, còn lại
là buôn bán.
- Hệ thống y tế phường thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Sóc Trăng và
chịu sự chỉ đạo chuyên môn của phòng Y tế. Trạm Y tế gồm có 6 cán bộ biên
chế, trong đó có đủ cơ cấu: Bác sĩ, Y sĩ, Điều dưỡng, Hộ sinh, Dược sĩ, Đông y.
Hệ thống mạng lưới y tế khóm, ấp gồm 60 Tổ Y tế và 56 công tác viên hoạt
động rộng khắp trê địa bàn. Tuyên truyền giáo dục sức khỏe cho nhân dân thực
hiện tốt các nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu.
14
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Trẻ em dưới 5 tuổi và các bà mẹ có con dưới 5 tuổi đang sinh sống tại
Thành phố Sóc Trăng, Tỉnh Sóc Trăng ở thời điểm nghiên cứu.
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp điều tra cắt ngang, mô tả trên mẫu ngẫu nhiên .
2.2.1. Cỡ mẫu:
Với một nghiên cứu mô tả cắt ngang, để xác định cỡ mẫu ta sử dụng công
thức tính sau: n =
2
2
các phường đã được chọn là: phường 1, 6, 7, 9.
- Giai đoạn 2: Chọn các cá thể từ các đơn vị trên theo cách chọn ngẫu
nhiên hệ thống.
Ở mỗi phường chúng tôi luôn tự tiến hành theo các bước sau:
+ Lập danh sách các bà mẹ đang nuôi con dưới 5 tuổi, các bà mẹ đưa vào
danh sách được chọn theo tuổi của con. Tuổi của con được đưa vào mẫu nghiên
cứu tính theo tháng (dưới 60 tháng), kể từ tháng điều tra.
+ Đánh số thứ tự theo tên các bà mẹ: trong bảng số ngẫu nhiên, chọn một
số ngẫu nhiên từ 1 đến 10. Tuỳ theo số bà mẹ trong danh sách ở mỗi phường để
tính khoảng cách cho phường.
Khoảng cách mẫu K = (tổng số trẻ em dưới 5 tuổi của 4 phường)/400 =
2.488/400 = 6
Dùng bảng số ngẫu nhiên chọn một số ( i ) nằm trong khoảng từ
1 – K, số ấy là số thứ tự trẻ thứ nhất, trẻ thứ hai là trẻ có số thứ tự
( 1 + K ) trẻ thứ 399 là trẻ có số thứ tự là ( i + 399 K ).
16
2.2.3. Phương pháp thu thập thông tin
- Dùng phương pháp phỏng vấn và quan sát tại hộ gia đình điền các
thông tin thu được vào phiếu điều tra cá nhân.
- Điều tra viên được chọn là 12 y sĩ và điều dưỡng trung học. Trước khi
điều tra, tiến hành tập huấn hướng dẫn các kỹ thuật phỏng vấn, kỹ thuật quan
sát cho các điều tra viên. Mỗi điều tra viên đảm trách khoảng 35 bà mẹ được
chọn.
- Điều tra viên tiến hành điều tra theo danh sách các bà mẹ đã được chọn
đưa vào mẫu nghiên cứu từ ngày 11/5/2009 đến 14/5/2009.
- Để thực hiện điều tra đạt kết quả cao chúng tôi đưa ra qui trình cụ thể
sau:
+ Bước 1: Chọn thời điểm và nơi phỏng vấn thích hợp nhất đối với các
bà mẹ để phỏng vấn, thường phỏng vấn khi bà mẹ rảnh rỗi.
+ Bước 2: Người phỏng vấn tự giới thiệu và giải thích mục đích của cuộc
là biết không đủ, và bà mẹ trả lời không biết thì được xác định là không biết về
các hành vi làm gia tăng mắc tiêu chảy trẻ em.
18
- Kể các biện pháp xử trí tại nhà khi trẻ bị tiêu chày bao gồm: bù dịch
bằng đường uống (cho uống ORS, hoặc nước cháo muối), mang trẻ đến cơ sở y
tế khám.
+ Bà mẹ kể được 2 biện pháp trên được xác định là biết đủ, nếu chỉ kể
được 1 trong 2 biện pháp được xác định là biết không đủ, và kể được các biện
pháp khác ngoài 2 biện pháp trên hoặc trả lời không biết thì được xác định là
không biết về các biện pháp xử trí tại nhà khi trẻ bị tiêu chảy.
- Kể các hành vi có lợi để phòng chống tiêu chảy trẻ em:
+ Bà mẹ kể được 5 hoặc trên 5 hành vị có lợi trong số 7 hành vi có lợi (≥
5/7) được đánh giá là biết đủ, nế bà mẹ kể được dưới 5 hành vi (< 5/7) được
đánh gia là biết không đủ về các hành vi có lợi phòng chống tiêu chảy trẻ em.
- Đánh giá kiến thức chung (hiểu biết chung) về tiêu chảy trẻ em của các
bà mẹ, chúng tôi sử dụng thang điểm đánh giá với quy định cho điểm như sau:
• Biết đủ: cho 2 điểm
• Biết không đủ: cho 1 điểm
• Không biết cho 0 điểm
+ Bà mẹ được đánh giá biết đủ về tiêu chảy trẻ em khi đạt được ≥ 8 điểm
+ Bà mẹ được đánh giá biết chưa đủ về tiêu chảy trẻ em khi đạt được < 8
điểm hiểu biết trung bình.
+ Bà mẹ được đánh giá là không biết về tiêu chảy trẻ em khi đạt 0 điểm hiểu
biết kém.
(Thang điểm dùng để đánh giá về kiến thức của bà mẹ được đính kèm ở phụ
lục 2)
- Đánh giá thái độ của bà mẹ về bệnh tiêu chảy:
19
+ Thái độ của bà mẹ đối với bệnh tiêu chảy trẻ em:
Các bà mẹ xác định tiêu chảy là nguy hiểm, được đánh giá là có thái độ
- Trình độ học vấn: gồm 5 giá trị (Mù chữ, Tiểu học, PTCS, PTTH, trên
PTTH).
- Tỷ lệ tiêu chảy ở thời điểm nghiên cứu, phân bố theo giới, phân bố theo
nhóm tuổi
Các yếu tố liên quan
- Yếu tố dinh dưỡng:
+Tỷ lệ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 4 – 6 tháng đầu và tỷ lệ cai sữa sớm
(trước 1 tuổi)
+ Tỷ lệ bú sữa bình
+ Ăn sam trước 4 tháng tuổi
+ Trẻ dùng thức ăn nguội
+ Nguồn nước uống cho trẻ: nước giếng, nước tinh khiết, nước mưa
- Vệ sinh cá nhân:
21
+ Rửa tay trước khi ăn và cho con ăn (mẹ và con)
+ Rửa tay sau khi đi tiêu (mẹ và con)
+ Xử lý phân trong gia đình, cho trẻ? Kiểu loại hố xí
- Tình hình bệnh kèm theo:
+ Suy dinh dưỡng
+ Tái nhiễm bệnh đường hô hấp: viêm tai giữa, viêm phế quản, viêm
phổi.
+ Tái nhiễm bệnh đường tiêu hoá: tiêu chảy nhiều lần.
- Tiêm phòng sởi (tại sao chọn tiêm phòng sởi)
2.3.1.2. Kiến thức, thái độ và hành vi của bà mẹ
Khảo sát về kiến thức
- Định nghĩa tiêu chảy theo TCYTTG (khi nào thì bà mẹ biết con mình
đã bị bệnh tiêu chảy phải được điều trị?)
- Kiến thức về phòng bệnh tiêu chảy: dinh dưỡng (bú mẹ, ăn dặm, ăn
thức ăn chín, uống nước đun sôi hay nước tinh khiết mua lại ), vệ sinh cá
nhân, tiêm phòng sởi
nhóm tuổi 31-40 tuổi chiếm 38,6%, thấp nhất nhóm < 20 tuổi chiếm 3,8%.
3.1.2. Phân bố nghề nghiệp của mẹ
24
Bảng 3.2. Phân bố nghề nghiệp của mẹ
Nghề nghiệp mẹ n Tỷ lệ %
Làm nông 29 6,9
Buôn bán 151 36,0
Nội trợ 177 42,1
CB Công chức 35 8,3
Thất nghiệp 1 0,2
Nghề khác 27 6,4
Tổng số 420 100,0
Biểu đồ 3.2. Phân bố nghề nghiệp của mẹ
Các bà mẹ nội trợ và buôn bán chiếm tỷ lệ khá cao lần lượt là 42,1% và
36,0%. Cán bộ công chức chiếm 8,3%.
25
3.1.3. Phân bố trình độ học vấn của mẹ
Bảng 3.3. Phân bố trình độ học vấn của mẹ
Nhóm tuổi mẹ n Tỷ lệ %
Mù chữ 2 0,5
Tiểu học 102 24,3
Phổ thông (PTCS) 208 49,5
Phổ thông Trung học 87 20,7
Trên PTTH (cao đẳng, đại học trở lên) 21 5,0
Tổng số 420 100,0
Các bà mẹ có trình độ PTCS chiếm tỷ lệ cao nhất 49,5%, trình độ các bà
mẹ tiểu học và PTTH có tỷ lệ tương đương (20,7% và 24,3%). Có 2 bà mẹ mù
chữ chiếm 0,5%.
3.2. TỶ LỆ HIỆN MẮC TIÊU CHẢY TRONG 2 TUẦN
3.2.1. Tỷ lệ mắc tiêu chảy chung của trẻ