Nghiên cứu tình hình suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi và đánh giá hiệu quả can thiệp truyền thông giáo dục phòng chống suy dinh dưỡng cho các bà mẹ tại huyện Châu Thành tỉnh An Giang năm 2013 - Pdf 24

ĐẶT VẤN ĐỀ
Dinh dưỡng đóng một vai trò rất quan trọng trong sự tồn tại và phát
triển toàn diện của con người trong suốt cuộc đời, đặc biệt đối với trẻ em, là
cơ thể đang lớn và phát triển. Trên thế giới hiện có khoảng 800 triệu người bị
đói kéo dài. Theo ước tính của WHO, hiện nay có khoảng 150 – 160 triệu trẻ
em <5 tuổi bị suy dinh dưỡng thể nhẹ cân và 182 triệu trẻ em bị còi cọc [44].
Suy dinh dưỡng tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển, nhất là châu Á
và châu Phi [27]. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, có khoảng 500
triệu trẻ em bị thiếu dinh dưỡng ở các nước đang phát triển, gây nên 10 triệu
ca tử vong mỗi năm [8]. Tại Đông Nam Á, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em tại các
nước đang phát triển là 36%, (bao gồm cả Việt Nam) là 26%[9].
Ở Việt Nam những năm gần đây, nền kinh tế ngày một phát triển, mặt
bằng dân trí ngày được nâng cao. Tuy nhiên, tình trạng thiếu ăn, suy dinh
dưỡng ở trẻ em vẫn xảy ra phổ biến ở nhiều nơi, sự thiếu hiểu biết của các bà
mẹ về dinh dưỡng lúc có thai, cho con bú, cho con ăn bổ sung vẫn còn phổ
biến. Chương trình quốc gia về phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em đã triển
khai nhiều năm, đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, tỷ lệ suy dinh
dưỡng giảm đáng kể (51,5% năm 1985 sau 20 năm còn 25,2% ( năm 2005) và
21,2% (năm 2007) 19,9% (năm 2008) [24]. Tuy nhiên, tỷ lệ giảm không đồng
đều có nhiều nơi. Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em vẫn đang ở mức cao, nhất là
các vùng có mức thấp về kinh tế xã hội trong cả nước. Theo nghiên cứu của
Nguyễn Văn Thắng (2006), Lê thế Thự(2005), các yếu tố liên quan đến SDD
trẻ em là điều kiện kinh tế - xã hội của gia đình, trình độ văn hóa thấp, bỏ bú
mẹ sớm [63],[65].
Huyện Châu Thành, tỉnh An Giang là một huyện đồng bằng nằm ở
vùng ven của tỉnh An Giang, là một huyện có nhiều đồng bào dân tộc Khơme
1
sinh sống, một huyện chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại. Hiện nay,
mặc dù tình trạng kinh tế đã khá hơn, trình độ dân trí ngày được nâng cao và
có nhiều chương trình y tế nhằm cải thiện sức khỏe nhân dân được triển khai,
nhưng sự hiểu biết của các bà mẹ và cộng đồng về chăm sóc dinh dưỡng phụ

viêm phổi.
Ngoài ra việc cho trẻ bú mẹ cũng tác động đến sức khỏe người mẹ, làm
giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư vú và buồng trứng cho bà mẹ.
Theo khuyến nghị của Tổ chức y tế thế giới, trẻ em cần được nuôi bằng
sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, được ăn bổ sung từ tháng thứ 6 nhưng
vẫn tiếp tục cho trẻ bú mẹ và có thể kéo dài đến hết 2 năm đầu đời của trẻ.
- Tuy nhiên việc thực hiện đúng như khuyến cáo không dễ dàng. Ở
nước ta, theo điều tra của Viện Dinh dưỡng quốc gia và Tổng cục thống kê
năm 2005, tỷ lệ trẻ được nuôi bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu chỉ
đạt 18,9% và đến 6 tháng chỉ còn 12,2%.
3
- Hiện nay chúng ta đang ở thời kì quá độ về dinh dưỡng, nên chịu
gánh nặng kép về các bệnh liên quan đến dinh dưỡng. Một tỷ lệ bệnh suy
dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi còn khá cao: (thể nhẹ cân là 25,2%, thể còi
cọc là 29,6%, năm 2010) [40].
- Ngày nay, đã có nhiều bằng chứng cho thấy nhiều tình trạng bệnh lý
ở người lớn, bắt nguồn từ khi còn trẻ em, ngay cả ở thời kỳ bào thai.
Các tình trạng bệnh lý này có liên quan đến chế độ dinh dưỡng của bà
mẹ trong thời gian mang thai, cũng như dinh dưỡng ở thời kỳ của trẻ em.
Vì vậy, khuyến nghị về nhu cầu dinh dưỡng đúng cho nhân dân nói
chung và cho trẻ em nói riêng là một yêu cầu bức thiết trên phạm vi thế giới
cũng như cho từng quốc gia.
* Đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi
Tình trạng dinh dưỡng là tập hợp các đặc điểm chức phận cấu trúc và
hóa sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể.
Đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng là quá trình thu thập và phân tích
thông tin, số liệu về tình trạng dinh dưỡng và nhận định tình hình suy dinh
dưỡng trên cơ sở các thông tin số liệu đó.
Một số phương pháp định lượng chính thường được sử dụng trong
đánh giá tình trạng dinh dưỡng là: [28]

1.2.1. Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi trên thế giới
Để xác định các vùng có nguy cơ về SDD trên thế giới, từ đó có sự can
thiệp thích hợp, năm 1995 Tổ chức y tế Thế giới (WHO) đã đưa ra bảng phân
loại sau đây:
5
Bảng 1.1. Phân loại suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi của WHO năm 1995
Chỉ tiêu
Mức độ SDD (%)
Thấp Trung bình Cao Rất cao
Nhẹ cân
(underweight)
<10 10-19 20-29 >=30
Thấp còi
(Stunting)
<20 20-29 30-39 >=40
Gầy còm
(wasting)
<5 5-9 10-14 >=15
Nguồn: NIN and GSO1, 2009
Với bảng phân loại trên thì sự đánh giá mức độ SDD khác nhau tuỳ
theo thể của SDD, nguyên nhân điều này là do những ý nghĩa khác nhau về
các chỉ số đánh giá như đã được phân tích ở phần trên.
Trên thế giới hiện có khoảng 800 triệu người bị đói kéo dài. Theo ước
tính của WHO, hiện nay có khoảng 150 – 160 triệu trẻ em <5 tuổi bị SDD thể
nhẹ cân và 182 triệu trẻ em bị còi cọc [44]. SDD tập trung chủ yếu ở các
nước đang phát triển, nhất là châu Á và châu Phi [27].
Dựa vào dữ liệu toàn cầu của WHO về tình trạng SDD trẻ em dưới 5
tuổi giai đoạn từ 1980-1992 ở 79 nước đang phát triển trên Thế giới ở châu
Phi, châu Á, châu Mỹ La Tinh và Thái Bình Dương, cho thấy có hơn 1/3 trẻ
em trên Thế giới bị SDD, tình hình tại châu Mỹ La Tinh là khả quan hơn cả

Năm 1994, tỷ lệ SDD trẻ em tại các nước đang phát triển là 36%, ở các
nước Đông Nam Á (bao gồm cả Việt Nam) là 26%[9].
7
Bảng 1.2. Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em ở các nước
Singapore 14% Trung Quốc 16%
Thái Lan 19% Miến Điện 39%
Philippin 28% Lào 40%
Indonesia 34% Campuchia 25%
Báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới năm 2000 cho biết, có đến hơn ¼
(26,7%) tổng số trẻ em trên thế giới (khoảng 150 triệu) bị suy dinh dưỡng do
thiếu năng lượng, 32,5% trẻ bị suy dinh dưỡng thể gầy còm [20]. Trong số
này, Châu Á chiếm tỷ lệ cao nhất 70 %, Châu phi 26% và 4% là Châu Mỹ
Latinh. Suy dinh dưỡng còn góp phần làm 49% trong tổng số 10,7 triệu trẻ
chết trước khi đến tuổi nhập học. Như vậy, SDD luôn là mối quan tâm hàng
đầu của các quốc gia nhất là các nước đang phát triển, tỷ lệ này thay đổi tùy
theo điều kiện kinh tế của từng nước.
Một số công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài tại một số
quốc gia được chúng tôi ghi nhận như sau:
Tại Palestin, nền kinh tế Palestine đang suy thoái trầm trọng, thiếu
chăm sóc về Y tế đang đặt trẻ em vào tình trạng bệnh tật và SDD. Theo
nghiên cứu của Abdeen Z và cộng sự, năm 2007, trẻ em ở Bờ Tây và dãy
Gaza Palétin có tỷ lệ SDD là 9,2% - 12,7% [73],[74].
Nghiên cứu của Shah, Pakistan có 26% trẻ gầy còm, 55% thấp còi và
15% bị cả gầy còm và thấp còi. Các yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng là
do mẹ mù chữ, cha thu nhập thấp, gia đình đông con và gia đình có con bị
thấp còi. Tỷ lệ SDD không khác nhau về giới của trẻ. Tỷ lệ này cho thấy ở
vùng nông thôn Pakistan, cha mẹ chú ý nuôi con trai hơn con gái chưa được
chứng minh [78].
Nghiên cứu của Castillo.C và cộng sự tại Nam Phi năm 1999, cho biết kiến
thức và thực hành của bà mẹ chưa cao cũng là tác nhân gây SDD cho trẻ [78].

dưỡng hợp lý cho người dân; giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em và bà mẹ;
9
giảm đáng kể tình trạng thiếu máu dinh dưỡng. Phấn đấu năm 2015 tỷ lệ suy
dinh dưỡng thể thiếu cân ở trẻ em dưới 5 tuổi xuống dưới 15%; cụ thể, sẽ
giảm suy dinh dưỡng thể thấp còi xuống dưới 26%, không còn các tỉnh và các
vùng có tỷ lệ suy dinh dưỡng ở mức rất cao (trên 30%), kiểm sóat các bệnh
mãn tính không lây có liên quan đến dinh dưỡng [7].
Tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi ở Việt Nam giảm từ 44,9% năm 1995
xuống còn 33,8% năm 2000 và còn 25,2% năm 2005 [8],[17]. Như vậy trong
vòng 10 năm, từ năm 1995 đến năm 2005, tỷ lệ SDD trẻ em giảm đi 19,7%
[8]. Đó là mức giảm khá nhanh so với các nước trong khu vực. trong những
năm gần đây nhờ thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu, mà tỷ lệ
SDD ở trẻ dưới 5 tuổi đã giảm đáng kể [7].
Qua các cuộc điều tra về tình hình SDD ở trẻ em các tỉnh phía nam
của bộ môn Nhi - Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh năm 1998; theo
cách phân loại dựa vào cân nặng và chiều cao cho thấy rằng, tỷ lệ SDD tăng
theo tuổi: khoảng 24% ở trẻ dưới 6 tháng, tăng 47% ở trẻ dưới 5 tuổi và
70% ở trẻ dưới 15 tuổi [8]. SDD mãn tiến triển có tỷ lệ thấp 10%; SDD cấp
và SDD mãn di chứng có tỷ lệ gần bằng nhau: 45% [8]. Qua đó chúng ta
thấy rằng nếu chỉ dựa vào cân nặng theo tuổi chúng ta sẽ bỏ sót rất nhiều
trường hợp suy dinh dưỡng mãn tính di chứng. ở các khu lao động nghèo và
các trại trẻ mồ côi, tỷ lệ suy dinh dưỡng rất cao 60% ở trẻ dưới 5 tuổi [44].
Theo kết quả điều tra của Bộ y tế về tình hình SDD ở trẻ dưới 5 tuổi
năm 2001 là 31,9% giảm xuống còn 30,12% vào năm 2002 [9]. Trẻ SDD tập
trung ở khu vực nông thôn - nơi bị nghèo đói, thiên tai hoành hành, trẻ sống
thiếu sự quan tâm chăm sóc của người lớn [20].
Năm 2002, Quảng Bình và Đak lak vẫn là những tỉnh có tỷ lệ SDD cao
nhất nước: 45,3%, Hà Tĩnh là 39,1%, Thanh Hóa 37,2%, Hòa Bình 36,2%,
Nghệ An 34,7% [6].
10

Nguồn: Viện Dinh Dưỡng, 2009
Bảng 1.5. Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi vùng đồng bằng sông
12
Cửu Long theo các mức độ năm 2009
Tỉnh,
Thành phố
N
SDD
Cân nặng/tuổi (%)
SDD
Chiều cao/tuổi (%)
SDD Chung
(%) CN/CC
Chung Độ I
Độ
II
Độ
III
Chung Độ I Độ II
Toàn quốc
93.469 18,9 16,7 2,1 0,1 31,9 18,1 13,8 6,9
Đồng Bằng
Sông Cửu Long
18.418 18,7 16,8 1,9 0 29,1 17,2 11,9 6,7
1 Long An 1512 16,0 14,8 1,2 0 25,9 15,7 10,2 6,6
2 Đồng Tháp 1500 19,4 17,1 2,2 0,1 31,3 17,2 14,1 6,9
3 An Giang 1510 17,5 16,1 1,4 0 29,6 18,2 11,4 7,1
4 Tiền Giang 1527 17,3 16,1 1,2 0 29,6 18,6 11,0 7,2
5 Vĩnh Long 1527 20,7 18,9 1,8 0 30,2 17,3 12,9 7,0
6 Bến Tre 1518 18,0 16,8 1,2 0 28,1 16,9 11,2 6,6

làm ảnh hưởng đến quá trình sống, hoạt động và tăng trưởng bình thường của
cơ thể.
1.3.2. Nguyên nhân
- Suy dinh dưỡng có thể xảy ra do giảm cung cấp chất dinh dưỡng, tăng
tiêu thụ dưỡng chất hoặc cả hai.
+ Giảm cung cấp:
Không cung cấp đủ lương thực thực phẩm
14
Trẻ biếng ăn, ăn không đủ nhu cầu
Thức ăn chế biến không phù hợp, năng lượng thấp
+ Tăng tiêu thụ:
Trẻ bệnh, nhất là bệnh kéo dài
Nhiễm Ký sinh trùng đường ruột
Thất thoát chất dinh dưỡng do bệnh lý
- Trong đa số trường hợp, suy dinh dưỡng xảy ra do sự kết hợp của cả
2 cơ chế, vừa giảm năng lượng ăn vào vừa tăng năng lượng tiêu hao (Ví dụ
trẻ bệnh nhưng mẹ lại cho ăn kiêng khem).
1.3.3. Phân loại suy dinh dưỡng
1.3.3.1. Phân loại theo mức độ suy dinh dưỡng
Phân loại này dựa vào chỉ số cân nặng theo tuổi, đây là chỉ số được sử
dụng rộng rãi nhất. WHO chia thành 3 mức độ SDD như sau [12].
- SDD độ I: cân nặng/tuổi dưới -2SD đến -3SD, tương đương với cân
nặng còn 70 -80 % so với cân nặng của trẻ bình thường. Đây là thể SDD nhẹ
thường gặp nhất tại cộng đồng.
- SDD độ II: cân nặng/tuổi dưới -3SD đến -4SD, tương đương với cân
nặng còn 60 - 70% so với cân nặng của trẻ bình thường. Đây là thể SDD vừa
hiện vẫn còn một tỷ lệ đáng kể trong cộng đồng.
- SDD độ III: cân nặng/tuổi dưới -4SD, tương đương với cân nặng còn
dưới 60% so với cân nặng của trẻ bình thường. Đây là thể SDD nặng được
chia làm SDD thể phù, thể teo đét và thể phối hợp giữa thể phù và thể đét.

cấp tính tiến triển rất nhanh ở trẻ em khi bị sụt cân hoặc không tăng cân. Chỉ
số cân nặng/ chiều cao có ưu điểm là không biết tuổi của trẻ, vì vậy có thể
tránh được một dữ liệu (tính tuổi) đôi khi rất khó thu thập hoặc không chính
xác. Đồng thời chỉ số này còn có một ưu điểm là không phụ thuộc vào yếu tố
dân tộc, vì trẻ em dưới 5 tuổi có thể phát triển như nhau trên toàn cầu [6].
16
Thấp còi (stunting) biểu hiện tình trạng SDD trong quá khứ. Thấp còi
được xem là hậu quả của tình trạng thiếu ăn hoặc bị mắc các bệnh nhiễm
khuẩn tái diễn. Đồng thời nó cũng phản ánh đó là hậu quả của vệ sinh môi
trường kém và SDD sớm. Chỉ số này được dùng để đánh giá tình trạng dinh
dưỡng trong quá khứ với các trang thiết bị rẻ tiền và dễ vận chuyển. Tuy
nhiên chỉ số này không nhạy vì sự phát triển chiều cao là từ từ, các yếu tố ảnh
hưởng đến sự phát triển của chiều cao xảy ra trước khi chiều cao bị ảnh
hưởng, như vậy khi thấy trẻ có chiều cao thấp thì đã muộn. Tỷ lệ trẻ em bị
thấp còi được xem là chỉ số đánh giá tình trạng đói nghèo. Đây là chỉ số tốt để
đánh giá sự cải thiện của điều kiện kinh tế, xã hội. Thông thường ở các nước
đang phát triển, tỷ lệ thấp còi tăng nhanh sau 3 tháng tuổi, đến 3 tuổi. Tỷ lệ
này ổn định sau đó chiều cao trung bình đi song song với chiều cao tương
ứng ở quần thể tham khảo [30].
1.3.4. Hậu quả của suy dinh dưỡng đối với sức khỏe
Suy dinh dưỡng với tỷ lệ mắc bệnh: Tuy vẫn còn tranh luận về mối liên
hệ giữa SDD với tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy, nhưng không mấy ai còn nghi ngờ
về mối liên quan giữa sự chậm tăng trưởng và mức độ nặng của tiêu chảy
và viêm phổi.
SDD với phát triển hành vi và trí tuệ: Trẻ bị SDD thì sự phát triển về cả
thể lực và trí tuệ đều kém, bộ não của con người được hình thành chủ yếu
trong thời gian nằm trong bụng mẹ và ba năm đầu tiên của cuộc đời, do vậy
việc tình trạng SDD sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của não bộ[42].
Trẻ bị SDD thường có tình trạng thiếu các chất vi lượng như: Sắt, Selen,
Kẽm, acid folic. Các nghiên cứu gần đây đã chứng minh gần có 4 chất vi

- Phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn
18
- Phát hiện và xử trí sớm các trường hợp SDD
- Giáo dục sức khỏe dinh dưỡng cho các bà mẹ
- Tăng cường nguồn thực phẩm bổ sung cho bửa ăn
Thực hiện nội dung CSSKBD của ngành Nhi, cũng như là phương
hướng phòng chống SDD của tổ chức Y Tế Thế giới [25].
G: Growth monitoning: Hướng dẫn cho tất cả các bà mẹ có con đều
biết theo dõi biểu đồ phát triển của trẻ.Biểu đồ này đánh giá được trẻ tăng cân
đều theo tháng tuổi là tốt, nếu một vài tháng đường vạch nằm ngang là yếu tố
nguy cơ hoặc mắc một số bệnh nào đó, nếu đường vạch đi xuống là nguy
hiểm có thể dẫn đến suy dinh dưỡng.
O: Oral rehydration: Phục hồi nước do ỉa chảy bằng đường ống; chúng
ta biết rằng yếu tố ỉa chảy là nguyên nhân hàng đầu gây SDD và tử vong [12].
B: Breat feeting: Thực hiện nuôi con bằng sữa mẹ là thức ăn tốt nhất
cho trẻ sau khi ra đời, không có một thức ăn nào thay thế vì: có chất dinh
dưỡng có trong sửa mẹ phù hợp với cơ thể trẻ; dễ hấp thu và đồng hóa, tăng
sức đề kháng để trẻ chống bệnh tật.
Thực hiện nuôi con bằng sữa mẹ nghĩa là:
- Cho con bú càng sớm càng tốt, bú ngay trong nữa giờ đầu sau sinh,
phản xạ bú của trẻ kích thích tiết sữa
- Cho con bú hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu.
- Cho con bú không theo giờ giấc mà theo nhu cầu của trẻ.
Giá trị toàn diện không có gì thay thế được, sữa mẹ cần được mọi
người trong xã hội hiểu rõ và thấm nhuần để các bà mẹ có quyết tâm và được
tạo điều kiện để nuôi con bằng bầu sữa của mình [32], [34].
I: Immumization: Tiêm chủng 8 bệnh lây cơ bản của trẻ dưới 5: sởi, ho
gà, lao, bại liệt, uốn ván, viêm màng mảo mũ, viêm gan siêu vi B và bạch
hầu, trong 3 bệnh đầu là nguyên nhân đưa đến SDD nhất.
19

trung về giáo dục truyền thông cho phụ nữ mang thai, phụ nữ có con dưới 2
tuổi và hộ gia đình với 8 giải pháp can thiệp chính. Ở các vùng miền khó
khăn còn nhận được các giải pháp can thiệp tăng cường bao gồm bổ sung
viên sắt - axít Folic cho phụ nữ mang thai, bổ sung Vitamin A cho trẻ em từ
6-60 tháng tuổi, tẩy giun cho trẻ em từ 24 - 60 tháng tuổi
Ngân sách chính để triển khai các hoạt động phòng chống suy dinh
dưỡng trẻ em trên toàn quốc là từ ngân sách Nhà nước, khoản ngân sách này
được tăng thêm hàng năm, năm 2008 là 95 tỷ đồng. Ngoài nguồn kinh phí
được hỗ trợ từ ngân sách Trung ương, nguồn kinh phí hàng năm của tỉnh
dành cho hoạt động phòng chống suy dinh dưỡng trung bình là 15 tỷ, thể hiện
sự quan tâm của các địa phương đến công tác phòng chống suy dinh dưỡng
trẻ em, tuy nhiên là chưa đủ để để duy trì hoạt động của mạng lưới và các
hoạt động triển khai theo đúng mục tiêu đã đề ra trong kế hoạch.
Các tổ chức quốc tế đã có những hỗ trợ về thuốc, trang thiết bị, ngân
sách, kỹ thuật cho các hoạt động chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ em: Unicef,
Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Quĩ cứu
trợ Nhi đồng Mỹ (SCUS)
- Tích cực đào tạo đội ngũ cán bộ đông đảo làm công tác chăm sóc sức
khỏe ban đầu cho trẻ em đó là y tế nhi khoa
- Đẩy mạnh phong trào nuôi con bằng sữa mẹ ở nước ta, vận động bà
mẹ tích cực cho con bú sớm và bú kéo dài nếu có thể.
- Cần ra sức đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục sức khỏe cho nhân dân,
đặc biệt giáo dục dinh dưỡng cho phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú và
phương hướng nuôi trẻ dưới 3 tuổi
Trong mạng lưới nhi khoa Việt Nam cần đẩy mạnh các hoạt động sau:
21
Đưa những kiến thức mới về nhi khoa, thành một chương tình quan
trọng trong giáo trình giảng dạy cho sinh viên y khoa.
Nhằm giảm thấp tỷ lệ tử vong trẻ em, tỷ lệ tử vong chu sinh, tỷ lệ đẻ
non và SDD bào thai.

sinh ra từ 01/4/2008 đến 1/4/2013.
- Bà mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ đồng ý tham gia trong quá
trình nghiên cứu.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Những trẻ dưới 5 tuổi không đưa vào nghiên cứu này là trẻ không xác
định ngày tháng năm sinh, trẻ bị các bệnh do di truyền hoặc dị tật riêng
- Các trẻ em mắc bệnh bẩm sinh: tim bẩm sinh, sức môi, hở hàm ếch…
- Mẹ hoặc trẻ vắng mặt thường xuyên trong thời gian thu thập số liệu.
2.1.3. Thời gian, địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu được thực hiện từ tháng 04 năm 2013 đến tháng
4 năm 2014.
- Địa điểm: Huyện Châu Thành, tỉnh An Giang
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện qua 2 giai đoạn và 2 thiết kế.
- Giai đoạn 1. Nghiên cứu mô tả cắt ngang
- Giai đoạn 2. Nghiên cứu can thiệp
23
2.2.2. Cỡ mẫu:
2.2.2.1. Giai đoạn 1: Cho nghiên cứu mô tả cắt ngang
* Cỡ mẫu được tính theo công thức ước lượng cho một tỷ lệ:
( )
2
2
1
2
1
d
ppz
n

xã 1300/7 = 186) trẻ.
Bảng 2.1. Phân bổ số trẻ trong lô nghiên cứu của từng xã.
STT Xã nghiên cứu
Số trẻ
dưới 5 tuổi
Số trẻ
nghiên cứu
1 An Châu 2358 186
2 Bình Hoà 1942 186
3 An Hoà 1641 186
4 Bình Thạnh 723 185
5 Cần Đăng 2128 186
6 Hoà Bình Thạnh 1175 185
7 Vĩnh Hanh 1532 186
TỔNG 17360 1300
- Bước 3:
Chọn trẻ nghiên cứu ở mỗi xã theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống.
Lập danh sách trẻ dưới 5 tuổi của từng xã.
Tính hệ số k = số trẻ dưới 5 tuổi cần nghiên cứu / tổng số trẻ dưới 5
tuổi của từng xã. Chọn trẻ nghiên cứu theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống
theo k.
* Giai đoạn 2: Chọn mẫu cho nghiên cứu can thiệp
+ Chọn xã can thiệp: Chọn mẫu cho nghiên cứu can thiệp từ bảy xã
nghiên cứu thực hiện bóc thăm ngẫu nhiên chọn 3 xã can thiệp và 3 xã chứng,
đó là các xã:
- Ba xã can thiệp: Bình Hòa, An Hòa và Bình Thạnh.
- Ba xã đối chứng: Cần Đăng, Hòa Bình Thạnh và Vĩnh Hanh
Tiêu chuẩn chọn xã đối chứng:
. Xã cách biệt với các xã chọn nghiên cứu can thiệp để tránh yếu tố nhiễu.
Điều kiện địa lý và một số đặc điểm kinh tế xã hội tương đương với xã can thiệp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status